Quan hệ Tòa Thánh – Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Quan hệ ngoại giao giữa Tòa Thánh và Việt Nam trong lịch sử chưa bao giờ được thiết lập chính thức mặc dù Việt Nam là một quốc gia có số lượng giáo dân Công giáo lớn ở châu Á[1]. Cho tới hiện nay, cấp bậc cao nhất trong mối quan hệ giữa Tòa Thánh và Việt Nam cũng chỉ là Khâm sứ Tòa Thánh.

Tuy nhiên, những năm gần đây, hai bên đã cử những đại diện ngoại giao đến viếng thăm lẫn nhau. Lần gần đây nhất, vào Tháng hai năm 2009, phái đoàn của Tòa Thánh do Thứ trưởng ngoại giao - Đức ông Pietro Parolin (nay là Quốc vụ khanh kiêm Bộ trưởng ngoại giao Tòa Thánh) dẫn đầu - đã đến thăm và làm việc tại Hà Nội, cả hai bên đã quyết định thành lập các "Nhóm Công tác hỗn hợp Việt Nam - Vatican" để thảo luận vấn đề về quan hệ ngoại giao[2].

Nền tảng ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy là Tòa Thánh có liên lạc với Việt Nam từ thời Nhà Lê sơthế kỷ 16. Người ta cho rằng, triều vua Lê Thế Tông (15721599), Việt Nam đã bắt đầu có quan hệ với Tòa Thánh, nhưng chưa có một bằng chứng thuyết phục cho lập luận này. Một quốc thư bang giao đầu tiên của Nhà Lê gửi cho Toà Thánh còn được lưu trữ[3]. Giả như, nếu Trịnh Tráng là người cho chấp bút lá thư này gửi Giáo hoàng Urbanô VIII thì lá thư đó phải được viết dưới thời vua Lê Thần Tông đang tại ngôi (1619-1643). Trịnh Tráng sau này lên kế vị cha là Trịnh Tùng trong khoảng thời gian 1623-1654.

Lá thư này được viết bằng chữ Hán, nếu không có quá nhiều sai lệch thì có thể hiểu nội dung lá thư như sau: Triều đình Việt Nam thời đó đã đón nhận hai nhà truyền giáo tinh thông địa lý và dĩ nhiên hiểu nhiều về giáo lý Công giáo, chủ yếu là lòng tin-cậy-mến đối với Thiên Chúa và con người. Các nhà truyền giáo Dòng Tên thời đó muốn làm đẹp lòng các vua chúa Việt Nam, và chinh phục thiện cảm của cộng đoàn mình tiếp xúc, thường mang theo lễ vật dâng lên các vua chúa trước khi lo việc truyền đạo. Theo đối chiếu lịch sử, người ta hiểu rằng hai vị giáo sĩ truyền đạo lúc ấy chính là linh mục Alexandre de RhodesPedro Marquez. Nhưng về phía vua chúa đất Việt, việc buôn bán được xem là chính yếu và lễ vật giao dịch thường thấy lúc đó của Việt Nam là trầm hương, vải vóc và nhãn nhục.

Năm 1922, Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài - thành viên thuộc phái đoàn vua Khải Định sang Pháp - đã đến Rôma yết kiến Giáo hoàng Piô XI để thỉnh cầu bổ nhiệm Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam và phong chức Giám mục cho các linh mục bản xứ. Vì thế, trong năm đó, Giáo hoàng Piô XI đã cử Giám mục Henri Lécroart - một giáo sĩ Dòng Tên là Giám mục giáo phận Chi Li (có tài liệu khác cho là giáo phận Thiên Tân, Trung Hoa) - làm Thanh tra Tông Tòa (tiếng Pháp: Visiteur Apostolique) đi quan sát tình hình các giáo phận ở Đông Dương, đặc biệt là về cách tổ chức các chủng viện và chương trình giáo dục. Đây chính là hoạt động đầu tiên của thời kỳ mà khu vực Đông Dương lập quan hệ với Tòa Thánh. Trong cuộc họp tại Phát Diệm với 11 Giám mục giáo phận từ ngày 4 đến 9 tháng 2 năm 1923 và tại Sài Gòn với 7 Giám mục giáo phận ngày 20 tháng 6 năm 1923, các Đại diện Tông Tòa ở vùng Đông Dương đã đề nghị Thánh Bộ Truyền giáo đổi tên các giáo phận theo tên các thành phố có đặt tòa Giám mục.

Các chức danh Khâm sứ Tòa Thánh[sửa | sửa mã nguồn]

Khâm sứ Tòa Thánh (Apotolic Delegate) mặc dù chỉ giữ mối liên lạc giữa Giáo hội và nước bản địa về mặt tôn giáo nhưng cũng giữ một chút việc về ngoại giao.

Khâm sứ tại vùng Đông Dương (Khâm sứ tại Huế)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1925, Giáo hoàng Piô XI thành lập Tòa Khâm sứ đầu tiên tại vùng Đông Dương (gồm lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia). Tổng Giám mục đầu tiên được bổ nhiệm làm khâm sứ tại Đông Dương là Constantin Ajutti, hiệu tòa Phasis. Trong nhiệm kỳ của mình, ông luôn xúc tiến cụ thể và tích cực việc hình thành hàng giáo phẩm người bản xứ. Kết quả cụ thể nhất là Toà Thánh đã chọn linh mục người Việt đầu tiên là Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng làm Giám mục.

Ngày 25 tháng 5 năm 1925, Giáo hoàng Piô XI đã cho lập Tòa Khâm sứ Đông Dương và Thái Lan, và cử Giám mục Constantino Ayuti (1876-1928) làm Khâm sứ Tòa Thánh tại vùng Đông Dương, nhưng chủ yếu là tại Việt Nam. Ban đầu, Khâm sứ Ayuti đặt văn phòng tạm tại Hà Nội. Nhưng vào lúc bấy giờ, dù Hà Nội có vị trí quan trọng nhưng Huế mới là kinh đô của Việt Nam. Vì vậy, sau này, trụ sở Tòa Khâm sứ ở Liên Bang Đông Dương đã được về Huế, gần Nhà thờ Chính tòa Phủ Cam[4]. Ông qua đời khi đang tại nhiệm, trước khi Trụ sở Tòa Khâm Sứ tại Huế được khánh thành ngày 1 tháng 5 năm 1928.

Liên tục trong 25 năm sau đó, các Khâm sứ kế vị là Giám mục Columban Dreyer (1928-1937) và Giám mục Antonin Drapier (1937-1950) đều đặt Toà Khâm sứ tại Huế.

Khâm sứ tại Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh tòa nhà 42 Nhà Chung, nơi từng được sử dụng làm trụ sở Tòa Khâm sứ tại Hà Nội.

Năm 1945, Việt Nam tuyên bố độc lập. Từ đó, Huế mất đi vị trí kinh đô của Việt Nam và Hà Nội trở thành thủ đô của Việt Nam. Năm 1950, Giáo hoàng Piô XII đã bổ nhiệm Giám mục John Dooley, người Ireland, làm Khâm sứ tại Đông Dương và ngày 18 tháng 10 năm 1951, Khâm sứ Dooley đã quyết định dời trụ sở Toà Khâm sứ từ Huế ra Hà Nội và đặt cạnh Tòa Giám mục Hà Nội.

Sau Hiệp định Genève 1954, Khâm sứ Dooley vẫn tiếp tục giữ cương vị đại diện chính thức của Tòa Thánh tại Hà Nội đến tận năm 1959. Năm 1957, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền bắc) trục xuất khâm sứ và các nhân viên ra khỏi lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, tịch thu cơ sở Tòa khâm sứ Hà Nội. Khâm sứ Dooley chấm dứt nhiệm vụ ngày 15 tháng 9 năm 1959 tại miền bắc.

Khâm sứ tại Sài Gòn[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Miền Bắc Việt Nam, do hoàn cảnh bị cô lập nên Khâm sứ Dooley không thể liên lạc được với các quốc gia thuộc quyền khác nên ngày 15 tháng 2 năm 1956, Tòa Thánh đã cử Giám mục Giuseppe Caprio làm Thanh tra Tông tòa tại thủ đô Sài Gòn của Việt Nam Cộng hòa. Năm 1957, Thanh tra Tông Tòa Sài Gòn được nâng lên thành Đại lý Khâm sứ tại Sài Gòn (Régent Apostolique).

Đến năm 1959, khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trục xuất Khâm sứ Dooley thì Đại lý Khâm sứ tại Sài Gòn được nâng lên thành Khâm sứ Tòa Thánh tại Sài Gòn (thay cho Khâm sứ Tòa Thánh tại Hà Nội vừa bị đóng cửa), cử Giám mục Mario Brini giữ chức khâm sứ để giữ mối liên lạc giữa Tòa Thánh ở Miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia. Giám mục Mario Brini là người có đóng góp lớn trong việc Tòa Thánh quyết định thiết lập Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam vào ngày 24 tháng 11 năm 1960. Năm 1964, trách nhiệm liên hệ giữa Tòa Thánh với Lào được chuyển giao cho Tòa Khâm sứ Bangkok còn tại Sài Gòn đảm nhận cho lãnh thổ Nam Việt Nam và Campuchia.

Ngày 17 tháng 6 năm 1964, Giáo hoàng Phaolô VI đã cho đổi Khâm sứ Tòa Thánh tại vùng Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) thành Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam và bổ nhiệm Giám mục Angelo Palmas vào chức vụ Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam, trụ sở đặt tại Sài Gòn. Ông rời Việt Nam ngày 19 tháng 4 năm 1969 để nhận chức Sứ thần Tòa Thánh tại Colombia.

Đóng cửa tòa khâm sứ và cắt đứt liên hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Vị Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam cuối cùng cho đến thời điểm hiện tại là Giám mục Henri Lemaitre. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã yêu cầu ông rời khỏi Việt Nam, cắt đứt mọi liên hệ giữa Việt Nam với Tòa Thánh. Ngày 19 tháng 12 năm 1975, ông rời Việt Nam và nhận chức Sứ thần Tòa Thánh tại Uganda.

Từ sau Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 cho đến gần 20 năm sau, quan hệ nhà nước Việt Nam với Toà Thánh Vatican thường xuyên xảy ra căng thẳng, có tính cách đối đầu hơn là xây dựng cảm thông hòa dịu. Có thể nguyên nhân sâu xa là các quan hệ và thái độ từ quá khứ: giữa Giáo hội Công giáo hoàn vũ với chủ nghĩa cộng sản và giữa Giáo hội Công giáo tại Việt Nam đối với chế độ thuộc địa và lực lượng kháng chiến chống Pháp do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Các cuộc hội kiến của giới chức Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khuôn khổ chuyến viếng thăm nước Cộng hòa Italia (hoặc châu Âu), các giới chức cao cấp nhất của nước Cộng hòa Xã hội Việt Nam cũng đã đến hội kiến các vị giáo hoàng đương nhiệm tại Vatican:

Đàm phán nối lại quan hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Quan hệ Tòa Thánh và chính quyền Việt Nam bắt đầu được nối lại bằng những cuộc tiếp xúc trực tiếp từ năm 1990, sau khi Việt Nam bước vào giai đoạn mở cửa. Năm 1994, Campuchia và Tòa Thánh thiết lập quan hệ ngoại giao thì vị Sứ thần tại Campuchia vẫn đảm nhận liên lạc với Việt Nam một cách không chính thức. Đầu năm 2007, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã viếng thăm Vatican, hội kiến Giáo hoàng Biển Đức XVI và Thủ tướng Vatican, Hồng y Tarcisio Bertone[10].

Năm 2009, trong bài trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Công giáo UCA sau Cuộc viếng thăm Ad Limina, Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn (Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, cuộc đàm phán thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Tòa Thánh và Việt Nam hiện nằm ở phía chính quyền Việt Nam, và "Tòa Thánh đã sẵn sàng để thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam trong một thời gian dài. Những vấn đề then chốt hiện nay nằm ở chính quyền Việt Nam"[11].

Ngày 11 tháng 12 năm 2009, Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã có cuộc gặp với Giáo hoàng Biển Đức XVI, tại Vatican[12]. Đây là vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên của Việt Nam đến Vatican hội kiến Giáo hoàng, kể từ sau năm 1975. Ngày 8 tháng 1 năm 2011, Hồng y Ivan Dias, Bộ trưởng Bộ Truyền giáo Tòa thánh Vatican với vai trò Đặc sứ của Giáo hoàng sang dự lễ bế mạc Năm Thánh 2010 tại La Vang và đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp. Ngày 22 tháng 1 năm 2013, một phái đoàn quan chức cấp cao do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu đã đến thăm Tòa thánh Vatican. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có cuộc tiếp kiến trong vòng 30 phút với Giáo hoàng Benedict XVI tại Tòa thánh Vatican. Ông đã tặng Giáo hoàng bức sơn mài có hình chùa Một Cột ở Hà Nội, và được Giáo hoàng tặng một bức tranh hình một phông ten trong nội thành Vatican. Đoàn cũng đã hội kiến với Hồng y Tarcisio Bertone, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, với sự hiện diện của Tổng Giám mục Dominique Mamberti, Ngoại trưởng Tòa Thánh, cùng với một số chức sắc thuộc Bộ ngoại giao Tòa Thánh. Thông báo của Phòng Báo chí Tòa Thánh cho biết "Đây là lần đầu tiên một vị Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam gặp Đức Giáo Hoàng và các vị lãnh đạo cấp cao của Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Trong các cuộc nói chuyện thân mật các vị đã bàn về những vần đề có quan hệ đối với Việt Nam và Tòa Thánh, đồng thời bày tỏ ước muốn một số tình trạng còn tồn đọng sớm được giải quyết và sự cộng tác phong phú hiện nay có thể được củng cố". Đây cũng là lần thứ 3, một nhân vật cấp cao của Việt Nam được Giáo hoàng Biển Đức 16 tiếp kiến tại Vatican, sau Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Một trong những kết quả của quan hệ này là phía Nhà Nước Việt Nam đồng ý để Tòa Thánh bổ nhiệm một vị Đại diện không thường trú tại Việt Nam, đó là Tổng Giám mục Lepoldo Girelli hồi năm 2011.

Trong thời gian qua, Ủy ban làm việc chung giữa Tòa Thánh và Nhà Nước Việt Nam vẫn gặp gỡ hàng năm để thảo luận về quan hệ hai bên.

Vòng thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên họp vòng hai của Nhóm Công tác Hỗn hợp Việt Nam - Vatican đã diễn ra trong hai ngày 23 và 24 tháng 6 năm 2010 tại Vatican để tiếp nối các công việc của phiên họp vòng một đã diễn ra ngày 17 tháng 2 năm 2009 tại Hà Nội. Đồng chủ tọa các vòng họp là Đức ông Ettore Balestreto, Thứ trưởng Thánh Bộ Quan hệ với các quốc gia của Tòa Thánh và ông Nguyễn Quốc Cường - Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam. Cuộc họp kết thúc bằng một thỏa thuận rằng, Vatican sẽ có một đại diện không thường trú của họ đến Việt Nam do Giáo hoàng bổ nhiệm[13]. Ngày 13 tháng 1 2011, Giáo hoàng Biển Đức XVI đã bổ nhiệm Tổng Giám mục Leopoldo Girelli - Sứ thần Tòa Thánh tại Singapore, Malaysia, Brunei kiêm chức Đặc phái viên không thường trú cho Tòa Thánh tại Việt Nam.

Vòng thứ ba[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng thứ tư[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng đàm phán lần thứ 4 diễn ra từ ngày 13 đến 14 tháng 6 năm 2013 trong tại Vatican. Phái đoàn Vatican do Đức ông Antoine Camilleri - thứ trưởng ngoại giao Tòa Thánh dẫn đầu, Thứ Trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn dẫn đầu phái đoàn Việt Nam.[14] Vòng đàm phán này, phía Tòa Thánh nhấn mạnh mong muốn tiếp tục phát triển quan hệ Việt Nam - Tòa Thánh và việc cần thiết sớm có Đặc phái viên thường trú của Vatican tại Việt Nam để phục vụ cho lợi ích của các bên,[15] còn Chính phủ Việt Nam khuyến khích Giáo hội Công giáo tham gia đầy đủ trong sự phát triển của dân tộc Việt Nam.[16]

Vòng thứ năm[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc gặp gỡ lần thứ 5 của Nhóm làm việc chung đã diễn ra vào các ngày 10 và 11 tháng 9 năm 2014 tại Hà Nội. Phái Đoàn Tòa Thánh đã đánh giá cao phía chính quyền Việt Nam các cấp dành cho Giáo hội Công giáo tại Việt Nam để thi hành sứ mạng của mình, ghi nhận những tiến triển trong chính sách tôn giáo được phản ánh trong Hiến Pháp sửa đổi năm 2013, tạo điều kiện dễ dàng cho các cuộc viếng thăm công tác của Tổng giám mục Leopoldo Girelli - Đặc phái viên không thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam và tái khẳng định rằng Tòa Thánh coi trọng việc phát triển quan hệ với Việt Nam nói riêng, và với Á châu nói chung và mong tiến tới mục tiêu thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, và cùng với Giáo hội Công giáo tại nước này góp phần tích cực hơn nữa vào việc phát triển đất nước trong các lãnh vực mà Giáo hội Công giáo có thế mạnh như y tế, giáo dục, từ thiện và các hoạt động nhân đạo. Phái Đoàn Tòa Thánh nhấn mạnh rằng Giáo hoàng Phanxicô quan tâm theo dõi những tiến triển gần đây trong quan hệ giữa Tòa Thánh và Việt Nam và ông khích lệ cộng đồng Công giáo tại Việt Nam tiếp tục góp phần đẩy mạnh các mục tiêu chính của đất nước. Phía Việt Nam thì tái khẳng định chính sách nhất quán của Nhà Nước và Đảng trong việc tôn trọng tự do tôn giáo và tín ngưỡng của mọi người, và trong việc hỗ trợ Giáo hội Công giáo tại Việt Nam tích cực tham gia vào việc phát triển đất nước về mặt xã hội và kinh tế.[17]

Phái viên của Tòa Thánh tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

TT Phái viên Ngày được bổ nhiệm Ngày hết nhiệm Người bổ nhiệm Chức danh
1 Henry Lécroart, SJ 1922 1925 Giáo hoàng Piô XI Đại diện Tòa Thánh tại Tcheli (Trung Quốc)
Thanh tra Tòa Thánh tại Đông Dương
2 Constantin Ayuti 25/051925 1928 Giáo hoàng Piô XI Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương
Tòa Khâm sứ Huế
3 Victor Colombanus Dreyer, OFM 24/111928 19/11/1936 Giáo hoàng Piô XI Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương
Tòa Khâm sứ Huế
4 Antonin Fernand Drapier, OP 19/11/936 18/10/1950 Giáo hoàng Piô XI Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương
Tòa Khâm sứ Huế
5 John Dooley, SSCME 18/10/1951 15/09/1959 Giáo hoàng Piô XII Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương
Tòa Khâm sứ Hà Nội
6 Giuseppe Caprio 15/02/1956 Giáo hoàng Piô XII Thanh tra Tông Tòa tại Sài Gòn
Đại lý Khâm sứ (từ 1957)
7 Mario Brini 1959 14/10/1961 Giáo hoàng Gioan XXIII Khâm sứ Tòa Thánh
Tòa Khâm sứ Sài Gòn
8 Salvatore Asta 13/10/1962 1964 Giáo hoàng Gioan XXIII Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương
Tòa Khâm sứ Sài Gòn
9 Angelo Palmas 17/06/1964 19/04/1969 Giáo hoàng Gioan XXIII Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam
Tòa Khâm sứ Sài Gòn
10 Henri Lemaitre 05/06/1975 Giáo hoàng Phaolô VI Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam và Campuchia
Tòa Khâm sứ Sài Gòn
11 Francesco De Nittis Thường vụ Khâm sứ (1962, 1963, 1964)
12 Leopoldo Girelli 13/01/2011 Giáo hoàng Biển Đức XVI Đại diện không trường trú của Tòa Thánh

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]