Dân tộc Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Loạt bài
Văn hóa Việt Nam
Cố đô Huế
Các khía cạnh văn hóa Việt Nam

   Dân tộc
   Phong tục
   Lễ hội
   Tín ngưỡng
   Tôn giáo
   Ngôn ngữ

   Văn học
   Nghệ thuật
   Ẩm thực
   Trang phục
   Võ thuật
   Di sản

Các vùng văn hoá Việt Nam
   Văn hóa vùng Tây bắc
   Văn hóa vùng Đông bắc
   Đồng bằng Bắc Bộ
   Văn hóa Bắc Trung Bộ
   Văn hóa Nam Trung Bộ
   Văn hóa Tây Nguyên
   Văn hóa Đông Nam Bộ
   Văn hóa Tây Nam Bộ
sửa

Dân tộc Việt Nam hay người Việt Nam, đôi khi ngắn gọn người Việt là một danh từ chung để chỉ các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu gần đây, xem xét sự hình thành các dân tộc Việt Nam trong sự hình thành các dân tộc khác trong khu vực thì có thể nói rằng tất cả các dân tộc Việt Nam đều có cùng một nguồn gốc, đó là chủng Cổ Mã Lai. Quá trình hình thành các dân tộc Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn:

  1. Vào thời kỳ đồ đá giữa (khoảng 10.000 năm trước đây), có một bộ phận thuộc Đại chủng Á, sống ở vùng Tây Tạng di cư về phía đông nam, tới vùng ngày nay là Đông Dương thì dừng lại. Tại đây, bộ phận của Đại chủng Á kết hợp với bộ phận của Đại chủng Úc bản địa và kết quả là sự ra đời của chủng Cổ Mã Lai (tiếng Pháp: Indonésien).
  2. Cuối thời kỳ đồ đá mới, đầu thời kỳ đồ đồng (khoảng 5.000 năm trước đây). Tại khu vực mà ngày nay là miền bắc Việt Nam, miền nam Trung Quốc (từ sông Dương Tử trở xuống), có sự chuyển biến do chủng Cổ Mã Lai tiếp xúc thường xuyên với Đại chủng Á từ phía bắc tràn xuống, sự chuyển biến này hình thành một chủng mới là chủng Nam Á (tiếng Pháp: austro-asiatique).
  3. Thời kỳ sau đó, chủng Nam Á được chia thành một loạt các dân tộc mà các cổ thư Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt. Ban đầu, họ nói một số thứ tiếng như: Môn-Khơ me, Việt-Mường, Tày-Thái, Mèo-Dao,... Sau này quá trình chia tách này tiếp tục để hình thành nên các dân tộc và các ngôn ngữ như ngày nay. Trong khi đó, phía nam Việt Nam, dọc theo dải Trường Sơn vẫn là địa bàn cư trú của người Cổ Mã Lai. Theo thời gian họ chuyển biến thành chủng Nam Đảo. Đó là tổ tiên của các dân tộc thuộc nhóm Chàm (xem hình vẽ).

Các dân tộc Việt Nam hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách[sửa | sửa mã nguồn]

54 dân tộc sống trên đất Việt Nam có thể chia thành 8 nhóm theo ngôn ngữ như sau:

1. Nhóm Việt - Mường có 4 dân tộc là:

2. Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là:

  • Bố Y (Chủng Chá, Trung Gia, Pầu Y, Pủ Dí)
  • Giáy (Nhắng, Giắng, Sa Nhân, Pấu Thỉn, Chủng Chá, Pu Năm)
  • Lào (Lào Bốc, Lào Nọi)
  • Lự (Lừ, Duôn, Nhuồn)
  • Nùng
  • Sán Chay (Mán, Cao Lan - Sán Chỉ, Hờn Bạn, Hờn Chùng, Sơn Tử)
  • Tày (Thổ)
  • Thái (Táy)

3. Nhóm Môn – Khmer có 21 dân tộc là:

  • Ba Na (Bơ Nâm, Roh, Kon Kde, Ala Công, Kpang Công)
  • Brâu (Brao)
  • Bru - Vân Kiều
  • Chơ Ro (Châu Ro, Dơ Ro, Mọi)
  • Co (Trầu, Cùa, Mọi, Col, Cor, Khùa)
  • Cơ Ho
  • Cơ Tu (Ca Tu, Ca Tang, Mọi, Cao, Hạ)
  • Giẻ Triêng (Giang Rẫy, Brila, Cà Tang, Mọi, Doãn)
  • Hrê (Mọi đá vách, Chăm Rê, Mọi Lũy, Thạch Bích, Mọi sơn phòng)
  • Kháng (Xá Khao, Xá Đón, Xá Tú Lăng)
  • Khmer
  • Khơ Mú (Xá Cẩu, Pu Thênh, Tày Hạy, Việt Cang, Khá Klậu, Tênh)
  • Mạ
  • Mảng (Mảng Ư, Xá Lá Vàng, Niễng O, Xa Mãng, Xá Cang Lai)
  • M’Nông
  • Ơ Đu (Tày Hạt)
  • Rơ Măm,
  • Tà Ôi (Tôi Ôi, Ta Hoi, Ta Ôih, Tà Uất, A tuất)
  • Xinh Mun (Puộc, Pụa, Xá.)
  • Xơ Đăng (Kmrâng, Hđang, Con Lan, Brila)
  • X’Tiêng (Xa Điêng, Mọi, Tà Mun)

4. Nhóm Mông - Dao có 3 dân tộc là:

  • Dao (Mán, Động, Trại, Dìu, Miến, Kiêm, Kìm Mùn)
  • H’Mông (Mông, Mèo, Mẹo, Mán, Miêu Tộc)
  • Pà Thẻn (Pà Hưng, Mán Pa Teng, Tống)

5. Nhóm Kadai có 4 dân tộc là:

  • Cờ Lao
  • La Chí (Thổ Đen, Cù Tê, Xá, La Ti, Mán Chí)
  • La Ha (Xá Khao, Xá Cha, Xá La Nga)
  • Pu Péo (Ka Bẻo, Pen Ti Lô Lô, La Quả, Mán)

6. Nhóm Nam đảo có 5 dân tộc là:

7. Nhóm Hán có 3 dân tộc là:

  • Hoa (Tiều, Hán)
  • Ngái (Sán Ngái)
  • Sán Dìu (Trại, Trại Đát, Sán Rợ, Mán quần cộc, Mán váy xẻ)

8. Nhóm Tạng có 6 dân tộc là:

Có thể nhận thấy mỗi một dân tộc có thể có một hoặc nhiều tên gọi. Trong số các tên gọi đó có thể trùng nhau:

  • Dân tộc Mọi có thể là: Mường, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai, Chơ Ro, Co, Cơ Tu, Giẻ Triêng, X’Tiêng, Hrê (Mọi đá vách, Mọi sơn phòng).
  • Dân tộc Mán có thể là: Sán Chay, Dao, H’Mông, Pu Péo, Sán Dìu (Mán quần cộc, Mán váy xẻ)
  • Dân tộc có thể là: Xinh Mun, La Chí.
  • Dân tộc Brila có thể là: Giẻ Triêng, Xơ Đăng.
  • Dân tộc Thổ có thể chỉ dân tộc Tày.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Theo số liệu tổng điều tra dân số, tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam là 85.789.573 người, tăng 9,47 triệu người so với năm 1999. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm, giảm 0,5%/năm so với 10 năm trước. Dân số Việt Nam gồm 54 dân tộc. Dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh, chiếm 86,2% dân số. Các dân tộc thiểu số đông dân nhất: Tày, Thái, Mường, Khmer, Hoa, Nùng, H'mông, người Dao, Giarai, Êđê, Chăm, Sán Dìu, người Raglay. Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên, miền trungđồng bằng sông Cửu Long. Cuối cùng là các dân tộc Brâu, Ơ đuRơ Măm chỉ có trên 300 người.

Phân bố lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Người Kinh sống trên khắp các vùng lãnh thổ nhưng chủ yếu ở vùng đồng bằng, gần các con sông, và tại các khu đô thị. Hầu hết các nhóm dân tộc thiểu số (trừ người Hoa, người Khmer, người Chăm) sống tại các vùng trung du và miền núi. Người Mường sống chủ yếu trên các vùng đồi núi phía Tây đồng bằng sông Hồng, tập trung ở Hòa Bình và Thanh Hóa. Người Thái(ณดถทสษไ định cư ở bờ phải sông Hồng (Sơn La, Lai Châu). Người Tày sống ở bờ trái sông Hồng (Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên), người Nùng sống ở Lạng Sơn, Cao Bằng. Các nhóm dân tộc thiểu số khác không có các lãnh thổ riêng biệt; nhiều nhóm sống hòa trộn với nhau. Một số nhóm dân tộc này đã di cư tới miền Bắc và Bắc Trung bộ Việt Nam trong các thời gian khác nhau: người Thái đến Việt Nam trong khoảng từ thế kỉ 7 đến thế kỉ 13; người Hà Nhì, Lô Lô đến vào thế kỉ 10; người Dao vào thế kỷ 11; các dân tộc Hmông, Cao Lan, Sán Chỉ, và Giáy di cư đến Việt Nam từ khoảng 300 năm trước. Các nhóm dân tộc thiểu số ở trung du và miền núi phía Nam chủ yếu là các dân tộc bản địa và thường sống tại các lãnh thổ riêng. Các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, trong đó có Ba Na, Bru, và Vân Kiều, sống ở cánh Bắc Trường Sơn. Người Mnông, Xtiêng, và Mạ sống ở đầu phía Nam của dãy Trường Sơn. Các dân tộc thuộc nhóm Nam Đảo gồm Êđê, ChămGia rai, đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ 2 trước Công nguyên[3]. Trong các dân tộc này, người Chăm sinh sống ở đồng bằng ven biển miền Trung, các dân tộc khác sống rải rác dọc theo dãy Trường Sơn. Người Chăm cùng với người Kinh là những dân tộc có nền văn hóa phát triển nhất với nhiều công trình nghệ thuật, chùa, đình, đền, tháp... Ở Việt Nam là nơi rất nhiều dân tộc khác nhau, cách sống cũng rất khác nhau. Ở nhiều nơi trên dân tộc có rất nhiều đền thờ miếu,...

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Đình Khoa, Nhân chủng học Đông Nam Á, NXB ĐH và THCN, 1983
  • Phạm Đức Dương, Văn hóa học đại cương và cơ sở VHVN, NXB KHXH 1996
  • Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc VHVN, NXB Thành phố Hồ Chí Minh 2001
  • Hà văn Thùy "Lời cáo chung cho thuyết Aurousseau về nguồn gốc người Việt" [1]
  • Công bố kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009 [2]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [Theo Non nước Việt Nam, Vũ Thế Bình, Sách hướng dẫn du lịch, Nhà xuất bản Lao động- Xã hội, 2012]
  2. ^ [Theo 500 câu Hỏi – Đáp lịch sử - Văn hóa Việt Nam, Hà Nguyễn – Phùng Nguyên, Nhà xuất bản Thông tấn, 2011]
  3. ^ Mai Lý Quảng, tr. 91

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]