Chứng minh nhân dân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chứng minh nhân dân (tên chính thức [1]), còn gọi là Giấy chứng minh nhân dân, Chứng minh thư nhân dân, thẻ căn cước (hiếm gặp), trong khẩu ngữ hay được gọi tắt là chứng minh thư hoặc giấy chứng minh là một loại giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam, trong đó có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đặc điểm căn cước, lai lịch của người được cấp. Tương đương như thẻ căn cước hay thẻ nhận dạng cá nhân tại những quốc gia khác.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam, thẻ căn cước được sử dụng trong thời Pháp thuộc (1945 trở về trước) như giấy thông hành hoặc giấy chứng minh trong phạm vi toàn Đông Dương.

Đến năm 1946, theo Sắc lệnh số 175 - b ngày 6.9.1946 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, "thẻ công dân" được sử dụng thay cho thẻ căn cước.

Thẻ công dân chứng nhận về nhân thân và những đặc điểm riêng của mỗi công dân, bao gồm: họ tên, ngày tháng năm sinh, tên cha mẹ, nguyên quán, trú quán, chức nghiệp... do Ủy ban hành chính xã, thị xã hoặc thành phố, nơi nguyên quán hoặc trú quán của công dân cấp cho công dân Việt Nam tuổi từ 18 trở lên.

Từ năm 1957, thẻ công dân được thay bằng "giấy chứng minh"

Tại miền Nam của Việt Nam, dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, thẻ "căn cước" được sử dụng phổ biến đến cuối tháng 4 năm 1975.

Từ khi thống nhất đất nước sau chiến tranh, năm 1976, giấy chứng minh nhân dân được sử dụng thống nhất trong cả nước. Từ năm 1999, được thay bằng chứng minh nhân dân theo quy định của Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Bắt đầu từ 1/7/2012, bộ Công an Việt Nam áp dụng mẫu giấy chứng minh nhân dân mới bằng nhựa 85,6mm x 53,98mm, trong đó có ghi rõ họ tên chamẹ, có mã vạch hai chiều. Ảnh của công dân được in trực tiếp lên thẻ; số CMND mới gồm 12 số.[2]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trước và sau của một tấm CMND (mẫu phổ biến hiện nay)

Tất cả các CMND được cấp mới hiện tại có đặc điểm sau:

Mẫu giấy CMND của công dân Việt Nam thống nhất toàn quốc, có hình chữ nhật, kích thước 85,6 mm x 53,98 mm, gồm 2 mặt in hoa văn màu xanh trắng nhạt, được ép nhựa trong. Thời hạn sử dụng là 15 năm kể từ ngày cấp.

  • Mặt trước, ở bên trái từ trên xuống có hình Quốc huy đường kính 14 mm; ảnh của người được cấp CMND cỡ 20x30 mm; có giá trị đến (ngày, tháng, năm). Bên phải, từ trên xuống: chữ "Giấy chứng minh nhân dân" (màu đỏ), số, họ và tên khai sinh, họ và tên gọi khác, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, quê quán, nơi thường trú…
  • Mặt sau: trên cùng là mã vạch 2 chiều. Bên trái, có 2 ô: ô trên, vân tay ngón trỏ trái; ô dưới, vân tay ngón trỏ phải. Bên phải, từ trên xuống: đặc điểm nhận dạng, họ và tên cha, họ và tên mẹ, ngày tháng năm cấp CMND, chức danh người cấp, ký tên và đóng dấu.

Mẫu mới này có một số điểm khác với mẫu CMND cũ như kích thước quốc huy, kích thước ảnh, mã vạch, tên cha mẹ v.v... Các chứng minh thư cũ vẫn có giá trị sử dụng tới ngày hết hạn.

Bộ Công An Việt Nam đang có kế hoạch xây dựng mẫu CMND mới trong đó dự kiến sẽ đưa nhóm máu và thể hiện bằng hai ngôn ngữ: tiếng Việttiếng Anh.

Ngoài ra, dự án CMND điện tử, giống như của Malaysia, cũng đã được triển khai từ đầu thập niên và dự kiến sẽ cấp cho các thành phố cấp 1 vào năm 2010. Tuy vậy, gần đây, người ta cho rằng dự án này đã thất bại.

Đối tượng được cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên được cấp CMND.

Những người tạm thời chưa được cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Là những người dưới 14 tuổi, hoặc trên 14 tuổi nhưng chưa có nhu cầu làm CMND, người đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng điều khiển hành vi của chính mình.

Quy định liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 2013, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 167/2013/NĐ-CP (để thay thế NĐ 73/2010/NĐ-CP được ban hành vào năm 2010), trong đó khoản 1 điều 9 của Nghị định 167 có quy định:

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi không xuất trình chứng minh nhân dân khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền.[3]

Số CMND[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, số CMND là một số 9 chữ số. Các dầu số khác nhau được chia cho các cơ quan công An của các tỉnh thành khác nhau. Vì vậy, số CMND không nhất thiết là cố định đối với mỗi người. Nếu chuyển hộ khẩu hoặc thay đổi địa chỉ thường trú tới tỉnh/thành phố khác và cần cấp lại CMND, số CMND mới sẽ có đầu số hoàn toàn khác. Việc này gây ra rất nhiều phiền toái đặc biệt là khi số CMND được sử dụng trong rất nhiều tài liệu như Đăng ký nhà, ô tô, xe máy, đăng ký kinh doanh, hộ chiếu, hộ khẩu v.v...

Về nguyên tắc, số CMND là duy nhất. Tuy vậy, năm 2007 đã xảy ra trường hợp hi hữu là có tới 50000 số CMND thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị trùng với tỉnh Đồng Nai. Đây là các số CMND thuộc dải số từ 271450001 đến số 271500000. Nguyên nhân do dải số trên được cấp cho Bà Rịa - Vũng Tàu khi thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo năm 1979 nhưng tỉnh Đồng Nai vẫn tiếp tục sử dụng.[4]

  • Hà Nội 01
  • TP.Hồ Chí Minh 02
  • An Giang 35
  • Bà Rịa - Vũng Tàu 27
  • Bắc Cạn 095
  • Bạc Liêu 38
  • Bắc Ninh, Bắc Giang 12
  • Bến Tre 32
  • Bình Định 21
  • Bình Dương 280
  • Bình Phước 285
  • Bình Thuận 26
  • Cà Mau 38
  • Cần Thơ 36
  • Cao Bằng 08
  • Đà Nẵng 20
  • Đắc Lắc 24
  • Đắc Nông 245
  • Điện Biên 04
  • Đồng Nai 27
  • Đồng Tháp 34
  • Gia Lai 230 và 231
  • Hà Giang 07
  • Hà Nam 16
  • Hà Tây 11 (cũ)
  • Hà Tĩnh 18
  • Hải Dương 14
  • Hải Phòng 03
  • Hậu Giang 36
  • Hòa Bình 11
  • Hưng Yên 14
  • Khánh Hòa 22
  • Kiên Giang 37
  • Kon Tum 23
  • Lai Châu 04
  • Lâm Đồng 25
  • Lạng Sơn 08
  • Lào Cai 06
  • Long An 30
  • Nam Định 16
  • Nghệ An 18
  • Ninh Bình 16
  • Ninh Thuận 26
  • Phú Thọ 13
  • Phú Yên 22
  • Quảng Bình 19
  • Quảng Nam 20
  • Quảng Ngãi 21
  • Quảng Ninh 10
  • Quảng Trị 19
  • Sóc Trăng 36
  • Sơn La 05
  • Tây Ninh 29
  • Thái Bình 15
  • Thái Nguyên 090-091
  • Thanh Hóa 17
  • Thừa Thiên Huế 19
  • Tiền Giang 31
  • Trà Vinh 33
  • Tuyên Quang 07
  • Vĩnh Long 33
  • Vĩnh Phúc 13
  • Yên Bái 15


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]