Người Ngái

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngái
Tổng số dân
4.841 (năm 1999)[1]
1.035 (năm 2009)[2]
Khu vực có số dân đáng kể
Việt Nam: phân bố rải rác tại nhiều tỉnh
Ngôn ngữ
Tiếng Việt, tiếng Khách Gia, tiếng Quảng Đông, phương ngữ Thái Sơn
Tôn giáo
Phật giáo Đại thừa

Người Ngái (tiếng Khách Gia: 𠊎等人 ngai²dên¹ngin²) còn có tên gọi khác là Ngái Hắc Cá, Ngái Lầu Mần, Sín, Đàn, . Họ là một trong 54 dân tộc sinh sống tại Việt Nam. Tên tự gọi chung là Sán Ngái (nghĩa là người miền núi). Mặc dù có ngôn ngữ bản địa là tiếng Hoa và có nguồn gốc từ Quảng Đông song người Ngái hiện không được chính phủ Việt Nam phân loại là người Hoa.

Nhóm ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa

Dân số và địa bàn cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ngái cư trú rải rác ở nhiều tỉnh thành. Theo số liệu điều tra dân số năm 1999 thì tại Việt Nam có 4.841 người Ngái. Các tỉnh thành tập trung đông nhất là: Thái Nguyên, Bình Thuận, Đồng Nai, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Đắk Lắk, Cao Bằng...

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ngái ở Việt Nam chỉ còn 1.035 người, có mặt ở 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Ngái cư trú tập trung tại các tỉnh: Thái Nguyên (495 người, chiếm 47,8% tổng số người Ngái tại Việt Nam), Bình Thuận (157 người, chiếm 15,2% tổng số người Ngái tại Việt Nam), Đồng Nai (53 người), Bắc Kạn (48 người), Tuyên Quang (43 người), Đắk Lắk (37 người), Cao Bằng (30 người)[2]...

Đặc điểm kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ngái sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng trồng lúa. Ở vùng hải đảo, ven biển thì đánh cá là chính. Họ có truyền thống đào kênh, mương, đắp đập, tạo hồ nước, đắp đê biển, có những nghề thủ công như dệt chiếu, làm mành trúc, rèn, mộc, nung vôi, làm gạch ngói.

Việc gieo trồng mùa vụ trong năm của họ căn cứ vào các hiện tượng tự nhiên như: tiếng chim hót, lá cây rụng, hoa nở... Họ xây các mương đập dài vài chục km để tưới tiêu. Người Ngáiở tp HCM làm các nghề tiểu thủ công nghiệp như giày dép, tập trung ở quận 11,Tân bình, tân phú.Các tiểu thương chợ Lớn.Một số đã thành những doanh nghiệp lớn trong ngành giày dép,cao su...

Hôn nhân gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Trong gia đình, người chồng quyết định mọi việc lớn, con trai được coi trọng, con gái không được chia gia tài khi cha mẹ chết và phải về nhà chồng sau khi cưới.

Xưa kia, trai gái Ngái được cha mẹ dựng vợ gả chồng phải trải qua hai lần cưới: lễ thành hôn và lễ nhập phòng. Để cưới vợ cho con, nhà trai chủ động chọn tìm đối tượng dạm hỏi. Khi có thai, phụ nữ Ngái kiêng cữ rất cẩn thận: không ăn ốc, thịt bò, dê, không may vá hay mua quần áo. Sau khi sinh con 60 ngày đối với con đầu, 40 ngày đối với con thứ, người sản phụ mới được đến nhà mẹ đẻ của mình.

Họ nhà vợ, đại diện là ông cậu có vai trò quan trọng trong gia đình người Ngái. Ông cậu gọi là khảo, được coi như người cha của các chị em gái trong gia đình. Khi các cháu gái sinh con, khảo đặt tên cho các cháu ngoại.

Tục lệ ma chay[sửa | sửa mã nguồn]

Theo phong tục Ngái, người chết được tổ chức đám ma chu đáo. Sau khi chôn cất được cúng vào dịp 21 ngày, 35 ngày, 42 ngày, 49 ngày, 63 ngày, 70 ngày, 3 năm thì làm lễ đoạn tang.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ngái có lối hát giao duyên nam nữ, gọi là Sường cô, rất phong phú. Có thể hát đối nhau 5 đến 7 đêm liền vẫn không bị trùng lặp. Tục ngữ có ý nghĩa răn dạy về kinh nghiệm làm ăn, về cách sống. Nhiều trò chơi được ưa thích như múa sư tử, múa gậy, chơi rồng rắn.

Nhà cửa[sửa | sửa mã nguồn]

Người Ngái thường lập thôn xóm ở sườn đồi, thung lũng hoặc ven biển, trên đảo. Nhà phổ biến là nhà ba gian hai chái

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục Ngái giống người Hoa (Hán). Ngoài quần áo, họ còn đội mũ, nón các loại tự làm từ lá, mây tre, đồng thời đội khăn, che ô.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Điều tra dân số 1999, tập tin 27.DS99.xls
  2. ^ a ă Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Việt

  • Các dân tộc ít người ở Việt Nam.. Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội. 1978.  "Dân tộc Hoa": trang 388-395

Tiếng Anh

  • Grant Evants (2000). Where China meets Southeast Asia: Social & Cultural Change in the Border Region.. Palgrave Macmillan. ISBN 9780312236342.  Chapter 13: Cross-Border Categories: Ethnic Chinese and the Sino-Vietnamese Border at Mong Cai