Giáo phận Long Xuyên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giáo phận Long Xuyên
Dioecesis Longxuyensis
Nhà thờ chính tòa thành phố Long Xuyên.jpg
Địa giới An Giang, Kiên Giang và 1 phần Cần Thơ
Giám mục Giám mục chính tòa.png Giuse Trần Xuân Tiếu
Giám mục phụ tá Giám mục phụ tá.png Giuse Trần Văn Toản
Nhà thờ chính tòa Nhà thờ Chánh tòa Long Xuyên
Tòa giám mục Long Xuyên
Trực thuộc Giáo tỉnh Sài Gòn
Nguyên giám mục Gioan Baotixita Bùi Tuần
Linh mục đoàn 240
Số giáo xứ
Số giáo dân
Website http://www.gplongxuyen.net/

Giáo phận Long Xuyên (tiếng Latin: Dioecesis Longxuyensis) là một giáo phận Công giáo Rôma tại Việt Nam. Giáo phận có diện tích 10.255 km2, tương ứng hai tỉnh An Giang, Kiên Giang và quận Thốt Nốt của thành phố Cần Thơ. Trên địa bàn giáo phận có nhiều dân tộc sinh sống như người Kinh, người Hoa, người Khmer, người Chăm... và nhiều tôn giáo bạn như Phật giáo (Đại thừa và Tiểu thừa), Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Đạo Hòa Hảo, Đạo Cao ĐàiHồi giáo.

Đương kim Giám mục là Giuse Trần Xuân Tiếu, cai quản giáo phận từ năm 2003.

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử truyền giáo tại Việt Nam ghi nhận, vào năm 1555, một giáo sĩ dòng Đa Minh là Gaspar de la Cruz đã đặt chân lên đất Hà Tiên, bấy giờ vẫn còn thuộc vương quốc Khmer. Tuy nhiên đây là một chặng dừng ngắn ngủi của ông trên đường từ Malacca đến Quảng Châu.

Mãi đến năm 1735, ngôi nhà thờ đầu tiên được linh mục F. José Garcia cùng với các giáo dân dựng tại Hà Tiên. Năm 1743, đích thân Giám mục Armand Francois Lefèbvre đến ban phép Thêm sức cho trăm người tại Hà Tiên. Năm 1749, theo đề nghị của Khâm Sứ Tòa Thánh, Tỉnh dòng Phanxicô tại Manila đã cử nhiều linh mục sang phụng vụ tại Hà Tiên. Các giáo sĩ dòng Phanxicô cũng dùng nơi đây để làm nơi xuất phát các chuyến truyền giáo đến Lào và Cao Miên.

Năm 1765, Giám mục Piguel cho chuyển Chủng viện Thánh Giuse từ xứ Cao Miên về Hòn Đất và sau đó đặt linh mục Pigneau de Béhaine làm Bề trên. Chủng viện hoạt động tại đây cho đến năm 1769 thì được dời đến Pondichéry (Ấn Ðộ). Đến năm 1776, de Béhaine, bấy giờ đã là Giám mục, Đại diện Tông tòa Đàng Trong, đã cho di dời Chủng viện về lại Cần Cao, mãi đến năm 1778 mới dời Chủng viện về Biên Hòa.

Năm 1813, Tỉnh dòng Phanxicô Manila triệu hồi toàn bộ các giáo sĩ tại Đàng Trong. Bấy giờ, tại miền Tây Nam Kỳ đã có số giáo hữu với cơ sở vật chất khá vững mạnh như ở Bò Ót, Năng Gù, Cù Lao Giêng... Giám mục D. Lefèbvre Ngãi từng đặt Tông tòa đại diện ở Cái Nhum.

Năm 1850, Tòa Thánh tách một phần đất thuộc Giáo phận Tây Ðàng Trong để thành lập Giáo phận Nam Vang, gồm cả vương quốc Khmer, vương quốc Champasak và 3 tỉnh Tây Nam Kỳ của Đại Nam. Năm 1938, vùng An Giang có 4 giáo xứ, 30 giáo họ và 12.067 giáo dân; Kiên Giang có 3 giáo xứ, 18 giáo họ và 5.127 giáo dân; Thốt Nốt có giáo xứ Bò Ót gồm 1.807 giáo dân. Cho đến tận trước năm 1954, vùng này chỉ có khoảng 3 vạn giáo dân sinh hoạt tôn giáo trong hơn 10 xứ đạo.

Trong cuộc di cư vào Nam, nhiều giáo dân từ miền Bắc đã đến định cư tại các vùng kinh Cái Sắn, làm số giáo dân lên rất nhanh. Năm 1955, phần đất của Việt Nam thuộc Giáo phận Nam Vang được Tòa Thánh tách ra để thành lập Giáo phận Cần Thơ. Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Giáo hoàng Gioan XXIII ra Sắc chỉ Christi Madata thành lập Giáo phận Chính tòa Long Xuyên gồm các tỉnh An Giang, Kiên Giang và một phần tỉnh Chương Thiện thuộc Giáo phận Cần Thơ trong Giáo tỉnh Saigòn, và đặt Giám mục Micae Nguyễn Khắc Ngữ làm Giám mục chính tòa.

Theo Niên giám Tòa Thánh năm 1964, Long Xuyên có 93.739 giáo dân trên tổng số 1.252.705 dân cư (chiếm 7,5%), có 104 linh mục triều, 3 linh mục dòng, 185 nữ tu, 6 nam tu, 59 đại chủng sinh, 270 tiểu chủng sinh, 8 trường trung học, 78 trường tiểu học, 8 cơ sở bác ái từ thiện. Trong suốt cuộc Chiến tranh Việt Nam, giáo phận Long Xuyên được xem là giáo phận có mức phát triển ổn định so với các giáo phận khác do ít bị ảnh hưởng bởi chiến tranh.

Năm 1994, giáo phận có 20 vạn giáo dân trên tổng số 3,67 triệu cư dân, với 179 linh mục, 250 nữ tu, 51 chủng sinh, 87 giáo xứ và 156 nhà thờ lớn nhỏ.

Các danh địa giáo phận[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ Chánh tòa và Tòa Giám mục[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ chính tòa hiện nay đặt tại số 9 Nguyễn Huệ A, phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Nhà thờ có chiều dài 60m, rộng 18m, cao 20m, tháp chuông cao 55m.

Nhà thờ Thánh Tôma Long Xuyên.

Khi mới thành lập Giáo phận, ngai tòa Giám mục được đặt tại Nhà thờ Thánh Tôma Long Xuyên được xây dựng từ xây năm 1903 (nay là 80/1 Bùi Văn Danh, phường Mỹ Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang). Nhà thờ Thánh Tôma Long Xuyên trở thành nhà thờ chính tòa trong 12 năm, từ 1960 đến 1972.

Nhà thờ hiện nay có tên gọi là Nhà thờ Thánh Nicôla Bari Long Xuyên, được xây dựng vào năm 1958, do linh mục Piô Nguyễn Hữu Mỹ phụ trách. Sau khi thành lập Giáo phận Long Xuyên, nhà thờ được xây dựng mở rộng, chính thức được khánh thành ngày 15 tháng 8 năm 1973 và trở thành nhà thờ chính tòa giáo phận.

Tòa Giám mục Giáo phận hiện nay nằm cạnh Nhà thờ Thánh Tôma.

Thánh địa hành hương[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà thờ và tu viện lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Các đời Giám mục quản nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên Thời gian quản nhiệm Ghi chú
1 † Micae Nguyễn Khắc Ngữ Giám mục chính tòa.png 1960-1997
2 Gioan Baotixita Bùi Tuần Giám mục phụ tá.png 1975-1997
Giám mục chính tòa.png 1997-2003
3 Giuse Trần Xuân Tiếu Giám mục phụ tá.png 1999-2003
Giám mục chính tòa.png 2003-nay
4 Giuse Trần Văn Toản Giám mục phụ tá.png 2014-nay

Ghi chú:

  • Giám mục chính tòa.png: Giám mục chính tòa
  • Giám mục phụ tá.png: Giám mục phó, phụ tá hoặc Giám quản tông tòa, Đại diện tông tòa

Hình Các Linh Mục Giáo Phận Long Xuyên[sửa | sửa mã nguồn]

Cha Giuse Lưu Văn Thưởng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]