Dòng Cát Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dòng Đức Bà núi Cát Minh

Carmelites.png

Ngày thành lập 1155
Kiểu Dòng tu Công giáo
Trụ sở Via Giovanni Lanza,
Roma, Ý
Tổng tu viện trưởng Fr. Fernando Millán Romeral
Trang chủ www.ocarm.org
Tiếng Anh
http://www.dongcatminh.org/
Tiếng Việt

Dòng Đức Bà núi Cát Minh (Latinh: Ordo Fratrum Beatæ Virginis Mariæ de Monte Carmelo, thường gọi tắt là “dòng Cát Minh”, "dòng Camêlô"hay "dòng Kín", người Công giáo Việt Nam phiên âm từ chữ Carmel) là một dòng tu Công giáo, có lẽ được lập ra từ thế kỷ thứ 12 ở trên núi Carmel, (Israel). Tuy nhiên các ghi chép lịch sử về nguồn gốc Dòng này vẫn chưa chắc chắn.[1] Thánh Bertold ( - 1195) thường được coi là người sáng lập Dòng này, tuy nhiên vài ghi chép rõ ràng về lịch sử ban đầu của Dòng Carmel còn sót lại, dường như sau này đã được các nhà nghiên cứu truyện thánh suy diễn rộng ra.[2]

Mục lục

Linh đạo và đặc sủng [sửa]

Đức Bà núi Carmel và các thánh Dòng Carmel (Simon Stock (đứng), Angelus of Jerusalem (quì gối), Mary Magdalene de Pazzi, Teresa thành Ávila), tranh của Pietro Novelli, 1641 (bảo tàng Diocesano, Palermo).

Linh đạo của Dòng Cát Minh sống đời sống trung thành với Đức Kitô, qua lời cam kết kiếm tìm nhan Thiên Chúa hằng sống qua ba chiều kích đó là đời sống chiêm niệm và cầu nguyện, đời sống huynh đệ cộng đoàn và đời sống phục vụ tha nhân (diakonia). Linh đạo của Dòng nhấn mạnh cả ba yếu tố nền tảng này, không phân chia, và không mang những giá trị rời rạc, nhưng đan kết chặt chẽ với nhau.

Truyền thống dòng Carmel bắt nguồn từ một cộng đoàn các ẩn sĩ trên núi Carmel kế thừa các trường phái ngôn sứ ở vương quốc Israel cổ, mặc dù không có các ghi chép chắc chắn về các ẩn sĩ trên núi này trước thập niên 1190. Ở thời điểm này có một nhóm người đã tập hợp ở hang và giếng ngôn sứ Elijah trên núi Carmel. Các người này từ châu Âu tới Palestine như các người hành hương hoặc như quân Thập tự chinh, đã chọn núi Carmel một phần vì đó là quê hương của ngôn sứ Elijah. Tất nhiên là cộng đoàn các ẩn sĩ phương Đông này ở đất Thánh luôn được các người hành hương thăm viếng, và từ năm 1206 tới 1214 họ nhận được luật dòng từ thượng phụ Albert thành Jerusalem kiêm công sứ tòa thánh. Cơ sở thành lập được đặt tên là Stella Maris Monastery (Tu viện ngôi sao biển), để vinh danh đức Trinh nữ Maria dưới dạng Đức Bà, Ngôi sao của Biển (tiếng Latinh : Stella Maris). Tu viện bị phá hủy nhiều lần, nhưng luôn được xây dựng lại, tu viện được xây dựng lại hiện nay vẫn còn ở trên núi Carmel.

Luật dòng Carmel nguyên thủy của thánh Albert thành Jerusalem được gửi cho tu viện trưởng, chỉ ghi tên là "B." Sau này, khi cần phải có tên các người thành lập, các tu sĩ đã nhắc đến cà ngôn sứ Elijah lẫn Đức Trinh nữ Maria như các mẫu mực ban đầu của cộng đoàn. Về sau, dưới sức ép của các dòng khất thực châu Âu nhằm định rõ hơn về người sáng lập, thì tên thánh Berthold được đưa ra, có thể từ khẩu truyền của Dòng.

Luật dòng gồm 16 điều, trong đó bắt phải vâng phục nghiêm ngặt tu viện trưởng, cư ngụ trong các phòng (nhỏ đơn sơ) cá nhân, kiên trì cầu nguyện, hiệp dâng lễ misa hàng ngày ở nhà nguyện của cộng đoàn, thề sống khó nghèo và lao động vất vả, giữ thinh lặng hàng ngày từ giờ kinh chiều tới giờ kinh thứ ba buổi sáng hôm sau, kiêng ăn mọi loại thịt - ngoại trừ khi bị bệnh nặng – và ăn chay từ ngày lễ kính Thánh giá (14 tháng 9) tới lễ Phục sinh năm sau.

Lịch sử [sửa]

Lịch sử ban đầu [sửa]

Luật dòng của thánh Albert thành Jerusalem được giáo hoàng Honorius III phê chuẩn năm 1226. Với sự gia tăng phân chia giữa ĐôngTây, nhưng dòng Carmel thấy thích hợp là rời khỏi nhà dòng nguyên thủy, và năm 1238 họ tới định cư ở CyprusSicilia.

Năm 1240 họ có mặt ở Aylesford, Kent, Anh, và 4 năm sau, ở miền nam Pháp. Năm 1245 họ trở nên khá nhiều để có thể tổ chức cuộc họp toàn thể tăng hội đầu tiên ở Aylesford, nơi Simon Stock, lúc đó 80 tuổi, được chọn làm tổng bề trên. Trong thời gian 20 năm điều hành của ông, dòng phát triển mạnh, nhất là bằng việc thiết lập một tu viện ở Paris bởi vua thánh Louis IX của Pháp năm 1259.

Các cải cách trong Dòng [sửa]

Một tu viện Carmel cổ ở Saint-Denis, Pháp, nay biến thành nhà bảo tàng : Musée d'Art et d'Histoire (Nhà bảo tàng Nghệ thuật và Lịch sử) của Saint-Denis.

Trong các thế kỷ 14 và 15, dòng Carmel, giống như các dòng tu khác, bị suy thoái và cần phải cải cách. Ngay trước năm 1433 có 3 tu viện ở Valais, ToscanaMantua đã được cải cách bởi lời khuyên của Thomas Conecte thành Rennes và thành lập tu hội Mantua, được tuyên bố độc lập theo lệnh của giáo hoàng Eugene IV. Năm 1431 (hoặc 1432) cũng vị giáo hoàng này đã phê chuẩn một số điều sửa đổi trong luật Dòng, và năm 1459, giáo hoàng Pius II để cho tổng bề trên quyền điều chỉnh các việc ăn chay. Thời đó, John Soreth làm tổng bề trên – và đã thành lập dòng nữ Carmel từ năm 1452 – vì vậy cho tới khi qua đời năm 1471, đã tìm cách khôi phục chủ trương tu khổ hạnh ban đầu.

Năm 1476, một sắc lệnh của giáo hoàng Sixtus IV cho phép thành lập dòng Ba Carmel, và có luật dòng đặc biệt vào năm 1635, được tu chỉnh năm 1678. Thế kỷ 16 có nhiều cải cách sớm bị bãi bỏ, tuy nhiên chưa tới hậu bán thế kỷ này thì một cuộc cải cách triệt để dòng Carmel được thực hiện bởi thánh nữ Têrêsa thành Avila, người mà, cùng với thánh Gioan Thánh Giá, đã lập ra Dòng Carmel đi chân đất (không đi giầy).

Ngoài việc quan tâm tới sự ra đời của đạo Tin Lành, dòng Carmel bây giờ được đưa vào một chủ trương tu khổ hạnh mới và lòng nhiệt thành. Năm 1593, "dòng Carmel đi chân đất" có một tổng bề trên riêng, và năm 1600 họ trở nên quá nhiều đến nỗi cần phải chia thành 2 tu hội của Tây Ban Nha và của Ý, hoặc St. Elise, tu hội sau gồm mọi tỉnh dòng, ngoại trừ Tây Ban Nha. Từ đó trở đi có 4 tổng bề trên dòng Carmel: tổng bề trên của các tu sĩ tuân giữ luật cách nghiêm ngặt (Observantines), tổng bề trên của tu hội độc lập Mantua, và 2 tổng bề trên của 2 tu hội Carmel đi chân đất. Các cải cách khác trong dòng là những cải cách ở Touraine và Mantua.

Chính các tu sĩ Carmel đi chân đất đã lãnh nhiệm vụ khó khăn là đòi lại địa điểm nguyên thủy nơi dòng Carmel khởi đầu và lập ra tu viện Stella Maris Monastery (tu viện Ngôi sao biển) trên núi Carmel, lúc đó dưới sự cai trị của các người Hồi giáo và là đối tượng gây chiến tranh của Đế quốc Ottoman.

Các tranh cãi với các dòng tu khác [sửa]

Vào giữa thế kỷ 17, dòng Carmel đã đạt tới tột đỉnh. Tuy nhiên, vào thời kỳ này dòng dính líu vào các vụ gây tranh cãi với các dòng khác, đặc biệt với dòng Tên. Các mục tiêu công kích đặc biệt là nguồn gốc truyền thống của của dòng Carmel và nguồn của áo choàng vai của họ. Trường thần học Sorbonne, đại diện bởi Jean Launoy, tham gia phe dòng Tên trong các cuộc bút chiến chống dòng Carmel.

Tác giả Daniel Papebroch, thuộc hội Bollandist[3] người biên tập bộ sách Acta Sanctorum, được Sebastian of St. Paul của dòng Carmel đáp lại với sự cáo buộc mạnh mẽ chống lại tính chính thống của các bài viết của đối thủ, khiến cho chính sự tồn tại của các người Bollandists bị đe dọa. Tuy nhiên hiểm họa đã được ngăn chặn, và năm 1696 một sắc lệnh của Juan Tomás de Rocaberti, tổng giám mục Valencia kiêm tổng dự thẩm Tòa án dị giáo, cấm mọi cuộc tranh cãi thêm giữa dòng Tên và dòng Carmel. Hai năm sau, ngày 20.11.1698, giáo hoàng Innocent XII ra chiếu thư kết thúc dứt khoát việc tranh cãi này và sẽ phạt vạ tuyệt thông cho ai vi phạm.

Lịch sử hiện đại [sửa]

Cuộc cách mạng Pháp, việc thế tục hóa ở Đức, và các hậu quả về dòng tu tôn giáo sau khi thống nhất nước Ý là những tai hại lớn cho dòng Carmel. Ở thập niên cuối cùng của thế kỷ 19, chỉ có khoảng chừng 200 nam tu sĩ dòng Carmel trên khắp thế giới. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ 20, nhờ sự lãnh đạo mới và việc ít can thiệp chính trị đã làm cho Dòng hồi sinh. Các tỉnh dòng còn tồn tại bắt đầu tái lập các tỉnh dòng đã tan vỡ. Việc chuẩn bị thần học của các tu sĩ dòng được tăng cường, đặc biệt nhờ việc thiết lập trường thánh Albert ở Rome.

Một nữ tu sĩ dòng Carmel đọc sách trong phòng nhỏ cá nhân của mình ở tu viện

Năm 2001, số tu sĩ tăng lên khoảng 2.100 nam tu sĩ trong 25 tỉnh dòng, 700 nữ tu sĩ sống khép kín trong 70 tu viện, và 13 tu đoàn chi nhánh. Ngoài ra, dòng Ba Carmel của các người thế tục là khoảng 25.000-30.000 người trên khắp thế giới. Các tỉnh dòng tồn tại ở Ý, Tây Ban Nha, Đức, Hà Lan, Anh, Ireland, Malta, Ba Lan, Hoa Kỳ, Canada, Brasil, Singapore, IndonesiaÚc. Các cộng đoàn trực tiếp dưới quyền của Tổng bề trên có mặt ở Bồ Đào Nha, Cộng hòa Séc, Philippines, và Pháp. Các phái bộ truyền giáo Carmel ở Litva, Romania, Burkino Faso, Zimbabwe, Tanzania, Cameroon, Mozambique, Kenya, Ấn Độ, Brasil, Peru, Bolivia, Colombia, Mexico, Trinidad, Venezuela, Cộng hòa DominicaArgentina. Các tu viện kín dành cho nữ tu ở Ý, Ireland, Tây Ban Nha, Đức, Hà Lan, Brasil, Peru, Hoa Kỳ, Phần Lan, Kenya, Philippines, Nicaragua, IndonesiaCộng hòa Dominica. Các cộng đoàn ẩn sĩ nam hay nữ hiện diện ở Hoa Kỳ, Pháp, Ý, Indonesia, Việt Nam và Brasil.

Dòng Carmel đi chân đất vẫn đứng đầu ở tu viện Muhraka. Tu viện này nằm cách Haifa khoảng 25 km về phía nam, bên phía đông của núi Carmel, trên khu vực trước đây có hàng loạt tu viện. Đây là nơi mà các Kitô hữu, tín đồ Do thái giáo và tín đồ Hồi giáo tin là nơi tiên tri Elijah đối đầu với giáo sĩ Baal (1 Sách các Vua, 18:20-40). Tên của tu viện – Muhraka – có nghĩa là "nơi nóng bỏng", nhắc trực tiếp tới sự việc tường thuật trong Thánh Kinh.

Có nhiều nhân vật tu sĩ dòng Carmel nổi bật trong thế kỷ 20 trong đó có thánh nữ thánh Têrêsa thành Lisieux, cũng gọi là Têrêsa Hài đồng Giêsu (Thérèse de l'Enfant Jésus)[4] một trong số 3 nữ tiến sĩ Hội Thánh duy nhất của Giáo hội Công giáo[5], nổi tiếng với quyên hồi ký "Truyện một tâm hồn"[6]; Titus Brandsma, một học giả kiêm nhà văn Hà Lan bị giết ở Trại tập trung Dachau vì lập trường chống Đức quốc xã của ông; và thánh nữ Teresa Benedicta Thánh giá (tức Edith Stein), một triết gia người Do Thái cải sang đạo Công giáo, người cũng bị Đức quốc xã cầm tù và chết trong trại Auschwitz. Thánh Raphael Kalinowski (1835-1907) , tu sĩ khất thực vv...

Áo dòng và áo choàng vai [sửa]

thánh Têrêsa thành Lisieux, tiến sĩ Hội Thánh, trong áo choàng vai màu nâu Carmel, năm 1895.

Lối sống nguyên thủy của Dòng đã thay đổi cho phù hợp với lối sống của các dòng khất thực theo sáng kiến của thánh Simon Stock và theo lệnh của giáo hoàng Innocent IV. Áo choàng (không tay) trước kia của dòng có màu đen và trắng hoặc nâu và sọc trắng bị loại bỏ, và họ mặc cùng loại áo dòng như các tu sĩ dòng Đa Minh, ngoại trừ áo khoác màu trắng. Họ cũng mượn nhiều điều từ luật dòng Đa Minh và dòng Phan xi cô. Y phục khác biệt của họ là áo choàng vai bằng vải màu xám và 2 sọc, che ngực và lưng. Theo truyền thuyết, đây là áo choàng vai do chính đức Trinh nữ Maria đích thân trao cho thánh Simon Stock, khi hiện ra với ông và hứa rằng mọi người mặc áo này khi chết sẽ được cứu rỗi. Một phiên bản thu nhỏ áo choàng vai Carmel (gọi là ảnh áo đức bà núi Carmel) rất được người Công giáo ưa chuộng. Người ta tin rằng nếu mang ảnh áo này và cầu nguyên thường xuyên mỗi ngày, thì khi hấp hối sẽ được ơn cứu rỗi.

Nữ tu sĩ Marie of St Peter với mũi tên vàng. Ba vòng tròn tượng trưng cho Chúa Ba Ngôi.

Ngày nay [sửa]

Ngày nay, dòng Carmel hay còn gọi là Cát Minh hoặc Camelo chia thành 2 ngành chính:

  • Order of Carmel, viết tắt là O.Carm. Dòng vẫn theo luật cũ nhưng đã được bổ sung bởi Đức Giáo Hoàng Innocent IV (không cải cách và đi giày).
  • Order of Carmel Discalced gọi tắt là O.C.D., hay là Cát Minh về Nguồn. Dòng theo luật ẩn tu nguyên thuỷ (đã cải cách và không đi giày).

Hai dòng cải cách hiện có khoảng 4.000 nam tu sĩ và 12.000 nữ tu sĩ trên khắp thế giới. Ngoài ra còn rất nhiều người theo Dòng Ba Carmel (thế tục).

Chỉnh sửa bởi: Lm Phêrô Nguyễn Quốc Hoàng, O.Carm.

Các thánh nổi tiếng [sửa]

Các thánh Têrêsa thành Ávila, Gioan Thánh GiáTêrêsa thành Lisieux (cũng gọi là Têrêsa Hài đồng Giêsu), 3 vị thánh được phong là tiến sĩ Hội thánh, là 3 vị thánh lớn của dòng Cát Minh.

Một số nhân vật tiêu biểu dòng Carmel [sửa]

Các tác phẩm chính của dòng [sửa]

  • Têrêsa thành Avila, Camino de perfección (Con đường để hoàn thiện)
  • Têrêsa thành Avila, Vida de Santa Teresa de Jesús (Cuộc đời của thánh Têrêsa Giêsu)
  • Thérèse d'Avila, Castillo Interior ou las Moradas” (Lâu đài nội tâm hay các nơi cư ngụ)
  • Jean de la Croix, Les Cantiques spirituels
  • Jean de la Croix, La Montée du Carmel
  • Jean de la Croix, La Nuit obscure
  • Jean de la Croix, La Vive Flamme d’amour
  • Thérèse de Lisieux, Histoire d'une âme
  • P. Marie-Eugène de l'Enfant-Jésus, Je veux voir Dieu

Đọc thêm [sửa]

  • J. Boyce, O. Carm., Carmelite Liturgy and Spiritual Identity. The Choir Books of Kraków, Turnhout, 2009, Brepols Publishers, ISBN 978-2-503-51714-8
  • Robert Serrou et Pierre Vals, Le Carmel, Carmélites et Carmes, Éditions Horay, 1957, 208 p.
  • Sr Pascale-Dominique Nau, Suivre le Christ avec sainte Thérèse d'Avila, (Bayonne, 2008)[1].
  • Sr Pascale-Dominique Nau, Quand Dieu parle: Saint Jean de la Croix et la lectio divina, (Bayonne, 2008)[2].

Ghi chú và Tham khảo [sửa]

  1. ^  The Carmelite Order”. Catholic Encyclopedia. New York: Robert Appleton Company. 1913. 
  2. ^  Feast of Our Lady of Mount Carmel”. Catholic Encyclopedia. New York: Robert Appleton Company. 1913. 
  3. ^ Hội các nhà thông thái ở Bỉ, ban đầu chỉ gồm các tu sĩ dòng Tên, gọi theo tên người sáng lập Jean Bolland (hoặc Bollandus) (1596-1665)
  4. ^ "Saint Therese of Lisieux: A Gateway"
  5. ^ O’Riordan, Maureen. “Doctor of the Universal Church”. Saint Therese of Lisieux: A Gateway. Truy cập 4 tháng 4 năm 2010. 
  6. ^ O’Riordan, Maureen. “Writings”. Saint Therese of Lisieux: A Gateway. Truy cập 4 tháng 4 năm 2010. 
  • Schaff-Herzog Encyclopedia of Religion
  • Copsey, Richard and Fitzgerald-Lombard, Patrick (eds.), Carmel in Britain: studies on the early history of the Carmelite Order (1992-2004).
  • "The Carmelite Order" by Benedict Zimmerman. The Catholic Encyclopedia, 1908.

Liên kết ngoài [sửa]