Lê Quang Tung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Quang Tung
Tiểu sử
Sinh

13 tháng 6, 1919(1919-06-13)[1]

làng An Vân Thượng, xã Hương An, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên[1], Đại Nam
Mất

1 tháng 11, 1963 (44 tuổi)

Căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa
Binh nghiệp
Phục vụ Liên hiệp Pháp
Quốc gia Việt Nam
Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1947-1963
Cấp bậc Đại tá
Đơn vị Lực lượng Đặc biệt
Tham chiến Vụ tập kích chùa Xá Lợi, 1963

Đại tá Lê Quang Tung (1923 hoặc 1919-1963) là một sĩ quan cao cấp của Việt Nam Cộng hòa. Ông từng giữ chức Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt Việt Nam Cộng hòa, kiêm Chỉ huy trưởng Lữ đoàn Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống, từ năm 1960 cho đến khi bị giết chết trong Cuộc đảo chính tại Việt Nam Cộng hòa năm 1963 lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm. CIA từng xếp ông là người có quyền lực nhất ở Nam Việt Nam sau anh em Diệm và Nhu.[2]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các tài liệu đều ghi ông sinh năm 1923 hoặc 1926. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Lữ Giang xác nhận theo sổ Rửa tội tại giáo xứ An Vân, Huế thì ông sinh ngày 13 tháng 6 năm 1919, rửa tội ngày 15 tháng 6 năm 1919, với tên thánh là André. Ông là người con thứ 5 trong một gia đình có 9 con gồm 6 trai 3 gái. Em út ông là Lê Quang Triệu, về sau trở thành Thiếu tá, Tham mưu phó Lực lượng Đặc biệt[3], và bị giết cùng ngày với ông.[1]

Khởi đầu trong ngành an ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Pháp tái chiếm Việt Nam, để tránh các bất lợi về chính trị, họ đã thành lập những cơ quan hành chính địa phương, đứng đầu bởi các nhân sĩ người Việt trung thành với việc tái lập thuộc địa nước Pháp. Ngày 1 tháng 6 năm 1946, họ thành lập Chính phủ Nam Kỳ quốc tại Nam Bộ, do bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng; ngày 15 tháng 4 năm 1947, thành lập Hội đồng Chấp chánh Lâm thời Trung Kỳ, do cựu Tổng đốc Trần Văn Lý[4] là Hội trưởng; ngày 19 tháng 5 năm 1947, lập Ủy ban Lâm thời Hành chánh và Xã hội Bắc Kỳ[5], do Y sĩ Trương Ðình Tri[6] làm Chủ tịch.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công giáo mộ đạo miền Trung, ông sớm hình thành đức tin cuồng tín và chống Cộng mãnh liệt. Vì vậy, sau khi Pháp tái chiếm Huế trong cuộc chiến tranh Đông Dương, ông bắt đầu làm việc cho Sở An ninh Trung Kỳ[7] từ năm 1947 và từng được bổ làm Trưởng Ty An ninh ở Quảng Trị.

Với sự ra đời của Giải pháp Bảo Đại và chuẩn bị tiến tới thành lập Quốc gia Việt Nam, chính quyền Pháp đã tiến hành cải tổ nhẹ cơ sở cai trị Đông Dương. Tuy bộ máy hành chính vẫn giữ nguyên, nhưng tên gọi các cơ quan và các chức vụ hành chính được đổi tên để tránh gợi nhớ lại thời thuộc địa trước đây. Cấp Kỳ được đổi sang cấp Phần. Các chức vụ Chủ tịch Ủy ban Lâm thời Hành chánh và Xã hội Bắc Kỳ, Hội trưởng Hội đồng Chấp chánh Lâm thời Trung Kỳ, Thủ tướng Nam Kỳ, được đổi thành chức vụ Thủ hiến Bắc phần, Trung phần, Nam phần. Các Sở An ninh cũng được đổi thành Nha Công an. Năm 1950, Lê Quang Tung được rút về làm việc tại Nha Công an Trung phần tại Huế.

Trở thành nhân vật Cần Lao quan trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nhiều tài liệu, ông bắt đầu gia nhập đảng Cần Lao vào khoảng năm 1950. Có lẽ trong thời gian tùng sự tại Huế, ông tham gia phong trào thanh niên Công giáo tại miền Trung, chịu ảnh hưởng chủ thuyết Cần lao Nhân vị do Ngô Đình Cẩn lãnh đạo. Ông được cho là hoạt động tích cực trong việc tạo quỹ cho phong trào bằng cách tống tiền các thương gia giàu có tại Huế.

Năm 1952, ông được cử đi học khóa đào tạo 6 tháng để bổ sung các sĩ quan quân đội người Việt, tuy nhiên vì nhiều lý do, nên mãi đến năm 1954 ông mới tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy và trở thành đảng viên đảng Cần Lao chính thức. Ông được phân bổ làm sĩ quan tình báo tại Tiểu đoàn 53 Bộ binh đóng tại Duy Xuyên, Quảng Nam.

Năm 1955, ông được thăng Trung úy và được bổ nhiệm làm Trưởng Ty An ninh Quân đội Huế. Vì là một tín đồ Công giáo, đảng viên Cần Lao, lại là một sĩ quan quân đội, ông sớm được sự tín cẩn của Ngô Đình Cẩn. Vì vậy, cùng trong năm này, ông cùng với trung úy Nguyễn Văn Châu được Ngô Đình Nhu giao nhiệm vụ tham gia thành lập Quân ủy Trung ương đảng Cần Lao[8]. Không lâu sau ông được thăng Đại úy, chuyển sang làm Chánh Sở 2 An ninh Quân đội ở Huế.

Người thân tín của Tổng thống Diệm[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1956, Ngô Đình Diệm chính thức trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Lê Quang Tung được rút về Sài Gòn giữ chức Giám đốc Nha Tổng Nghiên Huấn Bộ Quốc phòng, cấp bậc Thiếu tá. Tuy nhiên, không lâu sau thì Nha Tổng Nghiên Huấn bị giải thể, ông được điều làm Giám đốc Sở Liên lạc Phủ Tổng thống, được mang quân hàm Trung tá giả định. Trên thực tế, đây là một đơn vị nghiên cứu phương án huấn luyện và tung biệt kích ra phá hoại miền Bắc. Chính vì vậy, ông được cử sang Honolulu, Hoa Kỳ, tham gia một khóa huấn luyện đặc biệt của CIA về hoạt động bí mật và xâm nhập.[9]. Khi về nước, năm 1958, ông chỉ huy một trung tâm huấn luyện biệt kích với quân số 1.840 người[10] đặt dưới sự chỉ huy trực của Cố vấn Tổng thống Ngô Đình Nhu, mà không phải thông qua quyền lãnh đạo của các chỉ huy quân đội[11]. Tuy nhiên, các hoạt động tung biệt kích này rất kém hiệu quả. Các toán xâm nhập đều bị tóm cổ khi đặt chân lên đất miền Bắc không bao lâu. Chính vì điều này, ông đã bị chỉ trích mãnh liệt do yếu kém trong điều hành chỉ huy[12][13]. Trên thực tế, ngoài yếu tố bị tình báo miền Bắc phát hiện, ông chỉ là người thực hiện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cố vấn Nhu và các cố vấn Mỹ.

Tháng 4 năm 1960, Sở Liên lạc được đổi tên thành Sở Khai thác Địa hình, nhưng tổ chức và hoạt động vẫn như cũ. Ngày 1 tháng 1 năm 1961, ông được thăng Đại tá, kiêm luôn Chỉ huy trưởng Lữ đoàn Liên binh phòng vệ Phủ Tổng thống vừa được thành lập. Ngày 15 tháng 3 năm 1963, Tổng thống Diệm chính thức đổi tên Sở Khai thác Địa hình thành Lực lượng Đặc biệt, vẫn giao quyền chỉ huy trưởng cho Lê Quang Tung.[14]

Cái chết bi thảm[sửa | sửa mã nguồn]

Dáng vẻ thấp đậm và đeo kính, một tín đồ ngoan đạo, từng là một gia nhân cũ của gia đình họ Ngô Đình, trong chế độ Đệ nhất Cộng hòa, Lê Quang Tung đã được xem như là một trong số sĩ quan quân đội nhiều quyền lực nhất. Hết mực trung thành với họ Ngô, vì vậy ông bị các tướng như Nguyễn KhánhTôn Thất Đính ghét[15]. Trong hồi ký của mình, tướng Đỗ Mậu cũng nhận xét ông rất nổi tiếng trong quân đội về tinh thần địa phương quá khích, về thái độ mộ đạo cuồng tín và về quyết tâm phục tùng vô điều kiện mệnh lệnh đối với tổng thống Ngô Đình Diệm[8]. Chính vì vậy, sau khi CIA từ bỏ những điệp vụ tốn kém và không hiệu quả, Cố vấn Ngô Đình Nhu vẫn tiếp tục phát triển Lực lượng Đặc biệt trở thành một đơn vị tinh nhuệ cơ động nhằm để đàn áp các đối thủ đối lập. Với mục đích đó, Lê Quang Tung đã trở thành một nhân vật quan trọng, được giao chỉ huy các nhiệm vụ an ninh và phản gián, công khai lẫn bí mật bảo vệ quyền lực của gia đình Ngô Đình.

Uy tín của Tổng thống Diệm ngày càng xuống thấp. Đỉnh điểm với Sự kiện Phật Đản, 1963 đã làm dấy lên cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng tại miền Nam Việt Nam. Để nhanh chóng trấn áp phong trào Phật giáo và các nhóm đối lập, Ngô Đình Nhu đã lên kế hoạch tấn công các cơ sở Phật giáo, quan trọng nhất là vụ tấn công chùa Xá Lợi. Trong sự việc này, lực lượng quân đội bị cấm trại và các đơn vị dưới quyền chỉ huy của Lê Quang Tung đã tấn công vào chùa Xá Lợi vào ngày 21 tháng 8 1963 dưới bộ quân phục của Quân đội Việt Nam Cộng hòa[16]

Một kế hoạch khác cũng được giao cho Lê Quang Tung nhưng chưa kịp thực hiện. Theo đó, các binh sĩ thuộc Lực lượng Đặc biệt sẽ cải trang và ám sát đại sứ Henry Cabot Lodge, Jr. và một số quan chức chủ chốt của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ. Tòa Đại sứ cũng sẽ bị người của Lực lượng Đặc biệt đốt cháy[17]. Tuy nhiên, có lẽ giờ chót, kế hoạch này đã bị hoãn lại.

Các quan chức Mỹ rất phẫn nộ trước vụ việc, đe dọa sẽ rút lại viện trợ cho Lực lượng Đặc biệt, trừ khi họ được sử dụng trong cuộc chiến chống Cộng. Vụ tấn công tuy tạm thời làm lắng xuống sự chống đối, nhưng đó chỉ là sự ngấm ngầm để bùng phát dữ dội hơn. Vì là một người trung thành với họ Ngô, đồng thời phải là người chịu trách nhiệm trực tiếp trong vụ tấn công chùa Xá Lợi, Lê Quang Tung tự nhiên trở thành người đầu tiên phải diệt trừ nếu có đảo chính xảy ra.

Chính vì vậy, ngày 19 tháng 10 năm 1963, tướng Paul D. Harkins, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam đã thông báo cho Tổng thống Diệm biết ngân khoản Hoa Kỳ dành cho Lực lượng Đặc biệt đã bị cắt[1]. Trước khi đảo chính nổ ra, các tướng lĩnh đảo chính đã khéo léo tạo ra một tin giả, làm Tổng thống Diệm ra lệnh điều Lực lượng Đặc biệt ra vùng Hố Bò, Củ Chi, đồng thời điều Sư đoàn 5 Bộ binh về bảo vệ Sài Gòn. Tổng thống Diệm không thể ngờ đây lại là kế "Rút củi đáy nồi" và "Giấu trời qua biển" trong binh pháp, đưa bớt lực lượng bảo vệ ông ra ngoài và điều lực lượng đảo chính vào nội ô.

Cẩn thận hơn, các tướng lĩnh đảo chính còn dẫn dụ bắt giữ Đại tá Tung và em ông là Thiếu tá Lê Quốc Triệu. Cả hai người đều không thể ngờ lệnh triệu tập này là lệnh tử hình của mình.

Thân xác của Lê Quang Tung và Lê Quang Triệu bị thất lạc cho đến tận ngày nay.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Lữ Giang, "Trở lại vụ án Lê Quang Tung", 30/11/2010.
  2. ^ Prochnau, tr.368
  3. ^ Nhiều tài liệu ghi là Tham mưu trưởng.
  4. ^ Ông Trần Văn Lý (1901-?) là một nhân sĩ quê gốc Quảng Trị. Tốt nghiệp Cao đẳng Hành chánh Hà Nội, làm Tham tá tại Qui Nhơn trong ngạch quan lại Pháp. Sau đó, trở lại ngạch quan lại Nam triều với chức Thương tá Trung Phước (Bình Định), rồi Tri huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa). Giữ chức Quản đạo Đà Lạt từ năm 1926 đến 1935. Sau được điều ra Huế làm Ngự Tiền văn phòng cho Hoàng đế Bảo Đại. Trước năm 1945, ông là Tổng đốc Ninh Thuận-Bình Thuận-Lâm Viên và Đồng Nai Thượng.
  5. ^ còn gọi là Hội đồng An dân Bắc Kỳ
  6. ^ Đảng viên Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Cựu Bộ trưởng Y tế trong Chính phủ Liên hiệp Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
  7. ^ Về danh nghĩa, Sở An ninh Trung Kỳ trực thuộc Hội đồng Chấp chánh Lâm thời Trung Kỳ, do người Việt lãnh đạo. Trên tế, Sở An ninh Trung Kỳ chịu quyền điều hành trực tiếp của Sở An ninh Liên bang (Sûreté Fédérale, còn gọi là Sở Mật thám Liên bang hay Sở Liêm phóng Liên bang.) thuộc Phủ Cao ủy Đông Dương do người Pháp nắm quyền.
  8. ^ a ă Đỗ Mậu, "Việt Nam máu lửa quê hương tôi", chương 5.
  9. ^ Karnow, tr. 307
  10. ^ Langguth, tr. 248
  11. ^ Jones, tr. 390
  12. ^ Karnow, tr. 378
  13. ^ Tucker, tr.227
  14. ^ Shaplen, tr. 190
  15. ^ Jones, tr. 301
  16. ^ Hammer, tr. 166-167.
  17. ^ Jones, tr. 393.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]