Thảm sát Huế Tết Mậu Thân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cải táng các thi hài khai quật trong các hố chôn tập thể sau trận Tết Mậu Thân

Thảm sát tại Huế Tết Mậu Thân (tiếng Anh: Hue massacre) là tên gọi một sự kiện trong Chiến tranh Việt Nam khi phát hiện nhiều ngôi mộ tập thể chôn tử thi trong chiến trận Huế. Việc phát hiện hố chôn xảy ra khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân và đóng ở Huế một tháng, sau đó bị triệt thoái trước sự phản công của Quân lực Việt Nam Cộng hòaQuân đội Hoa Kỳ.[1] Cho đến nay, tài liệu từ cả phía Việt Nam và Mỹ vẫn quy trách nhiệm cho nhau về nguyên nhân và tính xác thực của sự kiện này.

Các nguồn từ chính phủ Việt Nam Cộng hòa (bắt nguồn từ báo cáo của Tiểu đoàn Tâm lý chiến số 10) và Mỹ coi hố chôn tập thể là chứng cứ để kết luận Quân giải phóng miền Nam đã thực hiện cuộc thanh toán quy mô lớn ở Huế và vùng phụ cận trong 4 tuần đóng quân[2]. Nguồn khác, trong đó có nhóm phản chiến thì khẳng định rằng số lượng và hoàn cảnh của những người bị giết đã bị khuếch đại và ngụy tạo để phục vụ mục đích tuyên truyền trong chiến tranh. Nguồn từ phía quân Giải phóng thì ghi nhận họ đã chôn nhiều thường dân chết do hỏa lực hạng nặng của Mỹ cùng với binh sĩ tử trận của chính họ.[3][4][5]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sáng sớm ngày 31 tháng 1 năm 1968, trong dịp Tết Nguyên Đán, Quân đội Nhân dân Việt NamQuân Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng lúc tấn công bất thình lình tại nhiều thành phố và địa phương trên miền Nam Việt Nam - trong đó có Sài Gòn và Huế. Sau các thành công quân sự ban đầu, họ bị đối phương áp đảo và đẩy lui khắp nơi, trừ Huế. Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân tuy được xem là một thất bại chiến thuật nhưng lại là một chiến thắng có tầm vóc lớn về chiến lược.

Với mục đích giành giật chủ quyền tại Huế, trận chiến 28 ngày giữa Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam với Quân đội Hoa KỳQuân lực Việt Nam Cộng hòa đã diễn ra và kết quả là 40% thành phố bị tàn phá, 116.000 người mất nhà ở. Quân đội Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa chịu khoảng 4.400 lính thương vong, trong khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng tổn thất trên 4.000 quân. Cũng trong cuộc tái chiếm này, quân đội Mỹ đã sử dụng tối đa vũ khí hạng nặng như bom napalmsúng không giật cỡ lớn. Trong số 17.134 ngôi nhà tại Huế, 9.776 bị phá hủy hoàn toàn, 3169 bị hư hỏng nặng; số thường dân thiệt mạng theo ước tính đầu tiên của chính phủ Việt Nam Cộng hòa là 3.776 người; Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố họ đã chôn cất rất nhiều nạn nhân do bom đạn tại các khu mộ tập thể cùng với binh sĩ tử trận của chính họ[5].

Số liệu về các hố chôn tập thể[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự kiện Tết Mậu Thân khoảng một tháng, một số lượng lớn các ngôi mộ tập thể của những người đã chết tại Huế đã dần được tìm thấy. Số liệu từ các nguồn khác nhau có sự không thống nhất.

Theo báo cáo tổng kết của Douglas Pike[6], lúc bấy giờ là nhân viên hành chính ngoại giao của cơ quan thông tin Hoa Kỳ, năm 1970:

"Câu chuyện (về Huế) chưa chấm dứt. Nếu ước đoán của giới chức Huế được coi như gần đúng, khoảng 2.000 người vẫn còn mất tích. Tổng kết về người chết và mất tích như sau:
  • Tổng số dân sự tử vong: 7.600 - chết lẫn mất tích
  • Chiến trường: - 1.900 bị thương vì chiến cuộc; 944 thường dân chết vì chiến cuộc
  • Nạn nhân của những vụ giết tập thể:
1.173 - số tử thi tìm trong đợt đầu sau cuộc chiến, 1968
  809 - số tử thi tìm trong đợt nhì, kể cả tìm thấy ở đụn cát, tháng 3-7 năm 1969
  428 - số tử thi tìm trong đợt thứ ba, trong khe Đá Mài (khu Nam Hoa) - tháng 9 năm 1969
  300 - số tử thi tìm trong đợt thứ tư, khu Phu Thu, tháng 11 năm 1969
  100 - số tử thi tìm thấy các nơi trong năm 1969
1.946 - mất tích (tính đến năm 1970)"

Theo Gareth Porter[7], một học giả Mỹ, các ước lượng ban đầu của Bộ Di dân và An sinh Xã hội Việt Nam Cộng hòa, số dân thường thiệt mạng do giao tranh và bom pháo là 3.776, trên tổng số dân thường bị thương, chết hoặc mất tích là 6.700 người[8], chứ không phải các con số 944 và 7.600 do Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đưa ra[9]. (Các con số 944 và 7.600 này đã được Pike Douglas dùng trong thống kê của mình.)

Về các con số cụ thể tại các địa điểm khai quật, Gareth Porter[7] viết:

"...tại địa điểm trường trung học Gia Hội, báo cáo chính thức của Mỹ, dựa trên thông tin cung cấp bởi Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10, đưa ra tổng số 22 mộ tập thể và 200 tử thi, với bình quân 9 tử thi mỗi mộ. Nhưng khi Steward Harris [phóng viên Thời báo Luân Đôn] được đưa đến địa điểm đó, người sĩ quan Việt Nam hộ tống nói với anh ta rằng mỗi ngôi mộ trong số 22 ngôi có từ 3 đến 7 xác, cho ra tổng trong khoảng từ 66 đến 150. Cũng khoảng trong thời gian đó, Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 xuất bản một cuốn sách nhỏ dành cho người đọc Việt Nam, trong đó nói rằng tại trường học có 14 mộ (chứ không phải 22), con số này còn làm giảm tổng số hơn nữa."

Cũng theo Gareth Porter, Alje Vennema[10], một bác sỹ làm việc cho một đội y tế Canada tại bệnh viện Quảng Ngãi và đã tình cờ có mặt tại Bệnh viện Huế trong thời gian xảy ra sự kiện Tết Mậu Thân, nói tổng số tử thi tại bốn địa điểm chính được phát hiện ngay sau Tết là 68, chứ không phải con số 477 như đã được tuyên bố chính thức.

Các quan điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều quan điểm trái ngược nhau về sự thật vụ Thảm sát Huế Tết Mậu Thân.

Thành viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Theo hồi ký của Trương Như Tảng (cựu Bộ trưởng Tư pháp Cộng hòa miền Nam Việt Nam, về sau ly khai chính phủ và vượt biên sang sống lưu vong ở Pháp), thì trong khi đóng quân tại Huế, một số lớn người đã bị xử tử vì thuộc thành phần phục vụ cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa (viên chức, cảnh sát, sĩ quan, chính trị gia, địa phương quân...) nhưng cũng có người bị giết mặc dù không tham gia chiến trận. Ông dẫn lời "một người bạn" rằng do kỷ luật kém ở một số đơn vị, một số thường dân cũng nhân dịp hỗn loạn để trả thù nhau nên đã có những vụ giết hại vô cớ.[11] Mark Woodruff ghi rằng có một bản báo cáo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng bắt được ngày 25 tháng 4 năm 1968 ghi đã "loại khỏi vòng chiến đấu 1.892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, 790 tên ác ôn, sáu đại uý, 1 trung uý, 20 thiếu uý và nhiều sĩ quan trừ bị…" trong trận đánh ở Huế.[12]

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường là người viết lời hiệu triệu kêu gọi nhân dân Huế nổi dậy, ông bị đối phương coi là 1 những người trực tiếp chỉ đạo của "vụ thảm sát". Tuy nhiên, ông khẳng định: trong thời gian diễn ra trận đánh, ông và các cán bộ khác trú tại Sở chỉ huy tiền phương tại phía tây Huế chứ không hề vào thành. Nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân, cựu chiến binh quân Giải phóng, cũng khẳng định: Suốt thời gian chiến dịch diễn ra, Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn ở tại địa đạo Khe Trái trong vùng núi phía tây huyện Hương Trà chứ không hề bước chân về chiến trường Huế, tất cả những "thông tin" nói Hoàng Phủ Ngọc Tường làm việc này việc nọ ở Huế trong những ngày tết Mậu Thân 1968 đều là bịa đặt.

Trong cuộc phỏng vấn với đài PBS năm 1982, ông Hoàng Phủ Ngọc Tường nói:

"Đầu tiên, về những người bị giết, trong số đó tất nhiên thì có một số người do quân đội của chúng tôi, họ không đầu hàng và đã bắn vào chúng tôi, khiến binh sĩ chúng tôi bị thương và họ buộc phải bắn trả, trong số đó có viên Phó tỉnh trưởng Huế. Tuy nhiên số này không nhiều... còn một số trường hợp khác là những người dân có thân nhân bị tra tấn hoặc tù đày (bởi chế độ Sài Gòn). Khi quân Cách mạng vào thành phố, họ đi tìm những tên bạo chúa để trừ khử giống như trừ khử rắn độc, bởi nếu để còn sống thì chúng sẽ tiếp tục gây tội ác trong chiến tranh. Và như vậy, mặc dù chính sách của chúng tôi là giáo dục và không giết bất cứ ai đầu hàng, nhưng hành động của người dân khi chiến tranh bùng nổ như vậy thì chính những người chỉ huy của cách mạng cũng không thể nào mà kiểm soát nổi, và người dân đã tự mình thi hành án tử hình với kẻ thù của họ...
Đa số những tù binh của chúng tôi đã được đưa đến các trại cải tạo trong rừng. Hầu hết trong số họ sau đó đã được thả. Chỉ có một vài trong số họ bị bệnh bởi vì họ không thích ứng tốt với khí hậu trong rừng. Tất cả họ đều trở về với gia đình. Nhưng một số người đã bị giết chết. Đa số những người này bị giết và được chôn cất tại thành phố, sau đó lại được khai quật bởi Mỹ và chính phủ Sài Gòn để quay phim. Trước hết, những người đó đã bị giết bởi bom đạn của Mỹ bắn phá trong các trận phản công. Ví dụ, máy bay Mỹ đã thả một quả bom trúng vào một bệnh viện ở vùng lân cận Đông Ba, giết chết và làm bị thương hơn 200 người.
Đã có nhiều người theo lực lượng của chúng tôi vào rừng sau Tết Mậu Thân. Khi đối phương vào thành phố, họ đã giết chết các thành viên của các gia đình này và đưa đến các ngôi mộ tập thể. Thi hài quân Giải phóng mà chúng tôi không có thời gian đưa đi cũng được đưa đến các ngôi mộ tập thể. Ngoài ra, nhiều tù nhân chiến tranh đi cùng với chúng tôi đã bị giết bởi bom từ máy bay Mỹ cùng với cán bộ của chúng tôi. Trong khoảng 1975-1977, khi chúng tôi đào mương thuỷ lợi, chúng tôi phát hiện ra rằng, trong các ngôi mộ tập thể được cho là của "các nạn nhân bị thảm sát", toàn bộ các thi thể đều mang mũ tai bèo và trang phục của quân Giải phóng. Điều này thực sự là trò lừa tinh vi của chủ nghĩa thực dân mới. Họ định một đá ném hai chim. Đầu tiên, họ đã che giấu được tội ác của họ. Và thứ hai là họ đổ hết tội lỗi trên đầu quân Cách mạng. Một nhà sử học người Mỹ đến Huế sau đó đã nói công khai rằng đó là một chiến dịch tuyên truyền lớn mà Mỹ đã chi rất nhiều tiền và được sự chấp thuận của Kissinger, nhằm bôi nhọ quân Giải phóng.[13]

Năm 2008, nhân kỷ niệm 40 năm trận đánh, Hoàng Phủ Ngọc Tường cho biết thêm:

Không một quân đội nào dạy cho binh lính mình giết người dân cả. Dân là chỗ dựa của quân đội. "Nâng thuyền cũng dân, lật thuyền cũng dân" (Nguyễn Trãi). Hơn nữa tư tưởng chiến tranh của Đảng ta là "Chiến tranh nhân dân", dựa vào dân mà chiến đấu. Trong chiến tranh khốc liệt, người chết do nhiều nguyên nhân: Hai bên bắn nhau, tên rơi đạn lạc. Những ngày Mậu Thân suốt tháng trời đó, máy bay Mỹ dội bom, quân đội Sài Gòn bắn pháo dữ dội suốt tháng trời khắp các nẻo đường. Quân Giải phóng cũng chống trả quyết liệt. Bom pháo, súng đạn đó không biết cách phân biệt "Việt Cộng" hay người dân, tất cả đều bị chìm trong khói lửa. Vì thế, không thể đổ việc nhiều người chết cho một bên nào được.
Không hiểu sao đến giờ vẫn có những kẻ xấu miệng cứ tìm cách buộc chặt tôi vào "vụ" Mậu Thân Huế. Đúng Mậu Thân đã trở thành một bi kịch đời tôi! Tôi đành xem họ như những kẻ vu khống bẩn thỉu, thế thôi!".[3]

Lê Phong Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo diễn Lê Phong Lan đã bỏ 10 năm để tìm kiếm, gặp gỡ phỏng vấn để làm 12 tập phim tài liệu về chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Lý do quan trọng thôi thúc đạo diễn Lê Phong Lan thực hiện bộ phim là sau khi trò chuyện với thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn, ông nói: "Suốt một thời gian dài, đã có những thông tin sai về sự kiện Mậu Thân 1968. Trong khi chúng ta lại không hề lên tiếng"[4]

Bà đã gặp gỡ cả những người lính và cả những người chỉ huy ở cả hai chiến tuyến. Ở cấp chỉ huy, ở cấp lính, mỗi người đều có cái nhìn khác nhau. Và với những gì tìm được, bà cho biết: “Tôi đã gặp những nhà báo Mỹ, những người lính bên kia chiến tuyến, họ đã nói, tất cả những thông tin về vụ thảm sát năm 1968 tại Huế chỉ là sự vu cáo của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa đổ lên đầu Quân Giải phóng miền Nam. Để khỏa lấp cho sự thất bại nặng nề, phía Mỹ và Việt Nam cộng hòa đã phát động những tin đồn nhảm gây nhiễu loạn như một cuộc chiến tranh tâm lý, và nó đã kéo dài trong một thời gian. Nhưng sự thật là sự thật. Chiến dịch Mậu Thân trải qua thời gian càng khẳng định là bản anh hùng ca vĩ đại của quân dân Việt Nam”.[14]

Trong phim Mậu Thân 1968, đoàn làm phim đã phỏng vấn ông Lê Khả Phiêu - người chỉ huy một Trung đoàn trong trận Mậu Thân 1968 tại Huế, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, nhà sử học Mỹ Stanley Karnow, cựu phóng viên tờ Washington Post là Don Lux, giáo sư sử học Larry Berman, và cả những người lính từ hai phía. Những dẫn chứng lịch sử cho thấy thông tin bị làm méo mó, cái gọi là "cuộc thảm sát” chỉ là đòn tâm lý chiến mà Mỹ dựng lên, thực tế bom Mỹ đã làm nhiều thường dân chết lẫn lộn cùng với quân lính 2 bên. Vào thời điểm đó, một số hãng thông tấn nước ngoài và các nhà báo độc lập đã tìm hiểu và xác định không tìm thấy hố chôn người tập thể như phía Việt Nam Cộng hòa tuyên bố.[4] Điều này đặt câu hỏi về việc tại sao Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa sau khi tái chiếm được Huế đã không cho các phóng viên tới hiện trường để điều tra viết bài về sự kiện chấn động này, trong khi nếu sự việc có thật thì lẽ ra họ phải tận dụng vì đây sẽ là cơ hội tuyên truyền rất tốt cho họ.[cần dẫn nguồn]

Bùi Tín[sửa | sửa mã nguồn]

Bùi Tín, một người bất đồng chính kiến, trong hồi ký về giai đoạn còn ở Việt Nam, ông kể rằng mình đã hỏi nhiều sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào trận đánh ở Huế.[15] Ông đi đến kết luận:

"Khi kiểm tra lại thì không một ai, không cấp nào có ra lệnh thủ tiêu tù binh cả. Không có chỉ thị, chủ trương tàn sát tù binh. Trong bản qui định về kỷ luật chiến trường còn có ghi: Không được đánh đập tù binh; chỉ các cán bộ chỉ huy và chuyên môn (là quân báo và địch vận) mới được hỏi cung tù binh... Thế nhưng khi ở mặt trận lại có lệnh từ các sư đoàn xuống: "Phải giải hết tù binh loại 'ác ôn', loại nguy hiểm lên căn cứ"; phải "kiểm tra canh gác kỹ số này để không trốn được vì nếu để trốn, chúng sẽ làm lộ hết bí mật quân sự, sẽ hết sức nguy hiểm và tai hại." Danh từ "ác ôn" hồi ấy dùng cũng tràn lan, tuỳ tiện, mỗi đơn vị hiểu 1 kiểu: viên chức ở xã, ở huyện, ở tỉnh; chỉ huy tiểu đội trưởng lên đến đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng; đảng viên đảng Dân Chủ, Cần Lao cũ...; lính dù, biệt động, thủy quân lục chiến; lại còn có đơn vị coi người họ Tôn Thất, Bảo, Vĩnh... là gốc phong kiến, chống Cộng... Trên lại chỉ thị nghiêm không được để xổng tù binh, vì sẽ lộ bí mật quân sự, rất nguy hiểm. Đến khi chiến sự khẩn trương, quân Mỹ đổ bộ, ứng cứu, máy bay, pháo binh, pháo từ biển bắn dữ dội, bộ đội di chuyển, rồi lệnh rút lên núi, phải mang cả tù binh theo...
Giữa cảnh hỗn loạn khi có lệnh rút, quân đối phương lại có những mũi vu hồi chặn hậu. Phía sau, phía trước, ngay trong khu vực hành quân đều bị bom và hỏa lực pháo... Quân hai bên và tù binh chết hoặc bị thương lẫn lộn. Một số đơn vị nảy ra hành động thủ tiêu tù binh "để không bị lộ bí mật, không bị nguy hiểm, khỏi vướng chân, nếu không sẽ chết cả nút..."[cần số trang] Cuối cùng cũng còn một số ít tù binh giải về căn cứ, được dùng để đào hầm hố, khuân vác... một số về sau được thả về. Hai nữa là có trường hợp xảy ra những trận ném bom rất lớn của máy bay Mỹ khi quân Mỹ phản công, bom Mỹ giết hại người của cả 2 bên (quân Giải phóng cùng với những tù binh họ giải đi). Thi hài quân Giải phóng thì được chôn và đánh dấu, có khi được đưa về gần căn cứ, còn thi hài tù binh thì phải vùi nhanh."[15][16]

Douglas Pike[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Pike:[6] thì có 3 giai đoạn đưa đến những vụ xử tử.

Giai đoạn đầu là một loạt các cuộc xử án công cộng kéo dài khoảng 5 - 10 phút do giới chức trong quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng dựng lên. Bị cáo luôn bị kết án "có tội với nhân dân".

Giai đoạn nhì, khi họ cho rằng họ sẽ giữ được Huế lâu dài, quân Mặt trận Giải phóng bắt đầu tiến hành công tác giáo dục tư tưởng yêu nước cho quần chúng. Những ai bị tình nghi có thái độ chống cách mạng từ từ bị truy lùng trong giai đoạn này. Người theo đạo Công giáo, các nhà trí thức, thương gia, và đám người bị tội làm 'tay sai Đế quốc' bị chiếu cố để "tạo dựng xã hội mới". Giai đoạn sau cùng, khi thấy rõ họ đang bị đánh bật ra khỏi Huế, quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng thi hành những vụ thủ tiêu nhân chứng - bất cứ ai biết mặt họ, nhìn thấy những tội ác trong lúc Huế bị chiếm đều bị giết và chôn mất xác."

Nhiều tác giả sử dụng báo cáo của Pike, trong khi nhiều người khác thì phủ nhận, cho rằng đây là một chiêu bài tuyên truyền của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa để tạo hỗ trợ cho sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam.[5] Trong những thời gian đầu cuộc chiến, nhiều phóng viên chiến trường phải viết phóng sự tuân theo một quy định áp đặt từ chính phủ Hoa Kỳ.[5]

Marilyn B. Young[sửa | sửa mã nguồn]

Marilyn B. Young trong sách tựa đề The Vietnam Wars, 1945-1990[17][cần số trang] ghi lại:

"Trong những ngày đầu của cuộc chiếm đóng quả thực có những vụ xử tử công khai tại chỗ... khi trận chiến gần kết thúc bởi những cuộc pháo kích của Mỹ, lính miền Bắc trên đường rút lui xử tử những người họ đang giam giữ thay vì thả họ ra hay bắt theo làm tù binh - với con số người chết vào khoảng 300-400, không nhiều như chính phủ Sài gòn và Washington công bố, nhưng cũng đủ để tạo những câu hỏi tang thương cho những người sống sót ở Huế..."

Gareth Porter[sửa | sửa mã nguồn]

Về sau có khảo cứu của Gareth Porter[7] về vụ thảm sát Huế, trong đó, ông chỉ trích những phóng đại tuyên truyền từ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. Ông nói các thông tin về cái gọi là đàn áp tôn giáo là thiếu chính xác[18] Porter cũng nêu là tại khu Gia Hội, nơi quân Giải phóng đã kiểm soát trong 26 ngày, một linh mục Công giáo nói với Len Ackland rằng không có một ai trong số các giáo dân của ông bị hại[7].

Ông đã nêu ra các nguồn gốc không xác thực của những thông tin về vụ "thảm sát" khi chính quyền Sài Gòn không cho phép bất kỳ phóng viên nào xem các địa điểm có mộ hay các tử thi[19]; sự không rõ ràng trong việc điều tra tại thực địa các ngôi mộ tập thể[20]; những mâu thuẫn trong các báo cáo về số lượng tử thi tìm thấy; những mâu thuẫn với kết quả tìm hiểu của một bác sỹ y khoa làm việc tại Huế lúc đó; một số chi tiết đáng chú ý xung quanh các cuộc khai quật vào năm 1969; những mâu thuẫn giữa bài viết của Douglas Pike với các nguồn thông tin khác, rằng "Bộ trưởng Y tế Trần Lưu Y, sau khi đi thăm các địa điểm chôn cất vào tháng Tư năm 1969, đã thông báo với Phó Tỉnh trưởng Thừa Thiên rằng các tử thi có thể là của những người lính Mặt trận Dân tộc Giải phóng bị chết trong các trận giao tranh"[21]; những mâu thuẫn trong các lời khai của "người làm chứng" cho vụ thảm sát[22]; và thêm vào đó là kết quả của những trận bom Mỹ tại Huế đã khiến nhiều thường dân thiệt mạng.[23].

Gareth Porter cho biết rằng một người bác sỹ có mặt tại Huế vào thời điểm tìm thấy các mộ chôn, Alje Vennema[10], viết rằng đối với các địa điểm trong khu lăng vua, hầu hết các tử thi có dấu vết của quân phục. Vennema đã hỏi chuyện các dân làng gần đó, họ nói rằng trong các ngày 21 đến 26 tháng 2 khu vực trung gian đã bị bom và pháo dữ dội. Và, trái với các tuyên bố của chính phủ rằng nhiều nạn nhân đã bị chôn sống tại đó, Vennema nói rằng tất cả các tử thi đều có các vết thương.

Trong kết luận của bài viết, Gareth Porter đồng ý rằng có những vụ xử tử, giết người tại Huế trong giai đoạn đóng quân; tuy nhiên không có bằng chứng cụ thể về nguyên nhân của những cái chết.

"Các bằng chứng có được -- không phải từ nguồn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, mà từ nguồn chính thức của Hoa KỳViệt Nam Cộng Hòa và từ các quan sát viên độc lập -- cho thấy rằng câu chuyện chính thức về một cuộc tàn sát bừa bãi đối với những người được cho là không thích hợp với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là hoàn toàn bịa đặt. Không chỉ số lượng các thi thể được tìm thấy trong và xung quanh Huế đáng nghi vấn, mà quan trọng hơn, nguyên do của các cái chết có vẻ như là bị chuyển từ chính các trận đánh quân sự sang việc xử tử của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Và tường trình chi tiết nhất "có thẩm quyền" mà các chính phủ Mỹ hay Việt Nam Cộng hòa đưa ra về sự việc được cho là vụ thảm sát này đã không đứng vững trước các thẩm định."[24].

Noam Chomsky và Edward S. Herman[sửa | sửa mã nguồn]

Noam Chomsky, nhà ngôn ngữ học người Mỹ, và Edward S. Herman, nhà kinh tế học người Mỹ, trong "Tài liệu về Kinh tế và Nhân quyền" tập 1, cho rằng vụ việc đã bị mô tả một cách sai lệch, bị thổi phồng, bị tô vẽ nhằm mục đích tuyên truyền. "Đó là những thường dân bị chết do những trận bom pháo Mỹ san bằng TP Huế. Rồi sau đó khi Mỹ và VNCH phản kích trả thù lại thời kỳ hậu Mậu Thân cũng giết chóc rất nhiều. Thứ nữa là lực lượng quân Giải phóng đã tử trận trong lúc chiến đấu. Tất cả đều là người Việt với nhau và Mỹ gộp vô hết. Tất cả những điều đó được Mỹ dựng thành một vụ thảm sát tưởng tượng”[25] Các căn cứ được nêu ra có thể tóm lược như sau[26]:

Những tài liệu căn bản cho câu chuyện này gồm một bản báo cáo do chính phủ Sài Gòn đưa ra vào tháng 4/1968, một "tài liệu bắt được" và đã phổ biến trong công chúng của phái đoàn Hoa Kỳ vào tháng 11/1969, và một bài phân tích dài xuất bản năm 1970 của một nhân viên Phòng Thông tin “USIS” (Tâm lý chiến) là Douglas Pike. Cả hai bản báo cáo của Sài gòn và của Pike đã gây nên một sự nghi ngờ về nguồn tin, giọng điệu và vai trò của chúng trong một chiến dịch tuyên truyền mở rộng nhằm làm giảm đi ảnh hưởng của vụ thảm sát Mỹ Lai. Trong một phân tích cẩn thận về "tài liệu bắt được", Gareth Porter cho thấy bộ máy tuyên truyền của Mỹ đã cố tình nhập nhằng từ ngữ để đánh lừa. Cụm từ "loại bỏ" đã bị diễn giải thành "giết chết", mặc dù trong tiếng Việt từ này mang ý nghĩa rất rộng (giết chết, bị thương, bắt sống, đầu hàng hoặc bỏ trốn). Nhưng quan trọng hơn là những tài liệu này không được viết ngay khi sự việc diễn ra mà chỉ được viết ra nhiều tháng sau đó, và đã không có sự điều tra hay nghiên cứu tỉ mỉ để xác thực. Porter báo cáo rằng: không có tài liệu nào cho thấy rằng quân Giải phóng có ý định tàn sát dân thường hoặc ngay cả các chỉ huy của đối phương ở Huế. Chiến lược chung của quân Giải phóng chuyển tải trong các tài liệu đã bị bóp méo bởi Douglas Pike và cộng sự của mình.

Bằng chứng về các ngôi mộ tập thể cũng rất mơ hồ. Các con số này nhằm che lấp thực tế là đã có rất nhiều thường dân bị thiệt mạng khi quân Mỹ chiếm lại thành phố Huế bởi việc sử dụng hỏa lực mạnh một cách bừa bãi. Sau trận đánh 25 ngày, trong số 17.134 nhà thì 9.776 ngôi nhà đã hoàn toàn bị phá hủy và 3.169 ngôi nhà bị thiệt hại khá trầm trọng bởi bom đạn của Mỹ. David Douglas Duncan, phóng viên chiến trường, mô tả đó là “một sự nỗ lực dốc hết sức để loại bỏ bất cứ một kẻ địch nào. Tâm trí tôi bấn loạn trước cuộc tàn sát.” Robert Shaplen viết về khi đó “Không có gì trong cuộc chiến ở Triều Tiên và Việt Nam khi nói về sự tàn phá, mà tôi thấy kinh hoàng bằng những điều tôi thấy được ở Huế năm ấy". Townsend Hoopes, người có quyền truy cập đặc biệt thông tin mật Bộ Quốc phòng, nói rằng các nỗ lực tái chiếm Huế đã khiến 80% các tòa nhà trở thành đống đổ nát, và rằng "trong đống đổ nát, khoảng 2.000 dân thường đã chết...". Quân Giải phóng cũng cho biết họ đã chôn cất khoảng 2000 nạn nhân bị oanh tạc trong các ngôi mộ tập thể cùng binh sĩ tử trận của chính họ[27].

Một thông tin thú vị là việc các nhà báo độc lập không bao giờ được phép có mặt tại những cuộc khai quật mộ tập thể. Sự ước lượng về những nạn nhân của thảm sát tại Huế đã tăng vọt lên một cách đáng kể để đáp ứng lại với những nhu cầu chính trị bất ngờ đột xuất của chính quyền Nixon. Không có nhà báo phương Tây nào đã được dẫn đến những mồ chôn tập thể khi các hố chôn đó được khai quật cả. Ngược lại một nhà nhiếp ảnh người Pháp, Marc Riboud, đã nhiều lần bị từ chối yêu cầu muốn đi xem một trong số địa điểm nơi mà ông tỉnh trưởng tuyên bố "có 300 cán bộ chính phủ đã bị Việt cộng giết". Người tổ chức AFSC tại Huế cũng không thể khẳng định bản báo cáo về những hố chôn tập thể, những nhà báo độc lập không hề được phép có mặt tại hiện trường và họ rất khó xác định chỗ chính xác nơi những hố chôn tập thể mặc dù đã nhiều lần yêu cầu được đến xem.

Một giả thuyết khác ít được nhắc tới, rằng những nạn nhân ở Huế là do quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa trả thù khi tái chiếm thành phố. Nhiều người ủng hộ Mặt trận dân tộc đã lộ dạng trong suốt cuộc tổng tấn công, và đã hợp tác với chính quyền địa phương của những người cách mạng ở Huế, hoặc bầy tỏ sự ủng hộ của họ đối với Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam. Khi quân giải phóng rút đi, nhiều cán bộ và những người ủng hộ quân Giải phóng kẹt lại và họ trở thành nạn nhân của những sự trả thù. Trong một bài mô tả, một nhà báo người Ý Oriana Fallaci, trích dẫn lời một linh mục Pháp ở Huế đã kết luận rằng: “Tất cả có khoảng 1100 người bị giết (sau ngày quân Mỹ tái chiếm thành phố). Hầu hết là sinh viên, giảng viên, giáo sĩ. Những trí thức và người dân Huế đã không bao giờ che giấu cảm tình của họ với Mặt trận Dân tộc Giải phóng”[28].

Hai ông kết luận: Trong bất kỳ trường hợp nào, tình trạng rất lộn xộn về các sự kiện và bằng chứng, cộng với các "bằng chứng" không thuyết phục, ít ra cũng có thể nói rằng việc "tắm máu" tại Huế hiển nhiên đã được phóng đại. Nó có vẻ khá rõ ràng rằng bom đạn Mỹ nhằm "bảo vệ" Việt Nam đã giết nhiều thường dân hơn là do quân Giải phóng. Những ví dụ này, tất nhiên, không chỉ gợi lên một thực tế rằng các báo cáo chính thức của chính quyền Sài Gòn là dối trá và lừa bịp, và trong một số trường hợp đã được chuyển thành những câu chuyện hoang đường không có bằng chứng xác thực.

Các nguồn khác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1969, phóng viên Don Oberdorfer[29][cần số trang] sang ở Huế 5 ngày với Paul Vogle, giáo sư dạy Anh Văn người Mỹ tại Đại học Huế, và phỏng vấn nhiều nhân chứng trong thời gian Huế bị quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đóng giữ. Theo Oberdorfer, các vụ giết người chia làm hai loại:

  1. Loại xử tử có kế hoạch cho những giới chức chính phủ Việt Nam Cộng hòa và gia đình thân quyến của họ, nhân viên chính phủ và dân sự và những người "theo Mỹ".[cần dẫn nguồn]
  2. Loại bắn tại chỗ những ai chạy trốn không trả lời thẩm vấn, những ai nói xấu về cuộc chiếm đóng Huế, những ai có thái độ "không tốt" với quân cai quản.[cần dẫn nguồn]

Tuy không thể chứng minh bằng nguồn tin nào khác, Oberdorfer báo cáo rằng hầu hết những người nam trên 15 tuổi trốn tránh trong một nhà thờ khu Phú Cam đều bị đem đi và bắn chết. Khi Oberdorfer phỏng vấn Hồ Tý - một chỉ huy Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong cuộc tổng tấn công 1968 đã đào ngũ - ông này cho biết Đảng Cộng sản Việt Nam có lưu ý đặc biệt về khu Công giáo Phú Cam.[29][cần số trang]

Một nhân chứng người Việt ở Huế, chị Nguyễn Thị Hoa, thì cho biết: "Bắt đầu là chúng nó (quân Mỹ) dùng phi pháo. Chúng dội pháo vào khu vực chúng tôi sinh sống, san bằng nhà cửa, cây cối. Chúng bắn pháo vào nhà những khu vực quanh đó. Những nhà này bán xăng dầu nên khi pháo bắn thì cháy trụi. Tất cả người già, trẻ nhỏ, phụ nữ lánh nạn ở đây đều bị thiêu sống."[30]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tet Offensive, the battle of Hue, in History of Vietnam - Tet Offensive.”. Vets With A Mission, this article is taken from the book Vietnam Experience Nineteen Sixty-Eight ISBN 978-0939526062. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2010. 
  2. ^ THE 1968 'HUE MASSACRE', D. Gareth Porter, trích:"The agency of the Saigon government given overall responsibility for compiling data on the alleged "massacre" and publicizing the information was neither the Ministry of Social Welfare and Refugees nor the Ministry of Health, as one might have expected, but the Tenth Political Warfare Battalion of the Army of the Republic of Vietnam (ARVN)."
  3. ^ a ă Sự thật về 3 nhân vật bị kẻ thù gọi là "đồ tể khát máu": Sự vu khống tráo trở..., Báo Công An Nhân Dân, Chuyên đề An Ninh Thế giới và Văn nghệ Công An
  4. ^ a ă â "Giải mã" Mậu Thân 1968, Thanh Niên Online
  5. ^ a ă â b Herman & Porter, The Myth of the Hue Massacre, Ramparts, Tập 13, Chương 8, May-June 1975
  6. ^ a ă Douglas Pike, "Vietcong Strategy of Terror" (PDF)
  7. ^ a ă â b D.Gareth Porter. "The 1968 'Hue Massacre'"]. Tạp chí Indochina Chronicle số 33, 24/6/1974. phần 1 phần 2
  8. ^ Saigon Post, March 17, 1968
  9. ^ VC Carnage in Hue, Tenth Political Warfare Battalion, 1968, p. 8.
  10. ^ a ă Alje Vennema, "The Tragedy of Hue," unpublished manuscript, 1968, pp. 19-23.
  11. ^ The Tet Offensive: A Concise History. James H. Willbanks. Columbia University Press. P 101
  12. ^ Woodruff, Mark. Unheralded Victory. Arlington, VA: Vandamere Press, 1999. tr 209
  13. ^ “Phỏng vấn với Hoàng Phủ Ngọc Tường, 1982”. WGBH OpenVault. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013. 
  14. ^ Lật lại những câu chuyện lịch sử “nhạy cảm” trong chiến dịch Mậu Thân 1968, Báo điện tử Dân trí
  15. ^ a ă Mặt thật, Vụ tàn sát ở Huế, Bùi Tín, Nxb Sài Gòn Press
  16. ^ Mây mù thế kỷ, Phần 1: Nhìn lại cuộc chiến tranh, Bùi Tín, Nxb Đa Nguyên
  17. ^ Young, Marilyn B., The Vietnam Wars, 1945-1990 (New York: Harper Perennial, 1991)[cần số trang]
  18. ^ D.Gareth Porter. "The 1968 'Hue Massacre'". Tạp chí Indochina Chronicle số 33, 24/6/1974. Trích: "...Về những người Công giáo ở Huế, bằng chứng từ cả các tài liệu của Mặt trận và nhân chứng cho thấy chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng không hướng về phía chống lại Giáo hội Công giáo. Tài liệu Kế hoạch công kích và khởi nghĩa bắt được nói đến việc 'cô lập (isolate) những tên phản cách mạng lợi dụng Công giáo tại Phú Cam'. Tuy nhiên, trong thuật ngữ tiếng Việt của Cộng sản, 'cô lập' có nghĩa hành động để cắt đứt các ảnh hưởng của các cá nhân nói trên ra khỏi các sự vụ của cộng đồng. Nó không có nghĩa hành quyết hay thậm chí không nhất thiết có nghĩa bỏ tù, trái với những gì mà các chuyên gia chiến tranh chính trị có thể thuyết phục. Tài liệu chỉ ra rằng chỉ có các mục sư bị phát hiện 'che giấu địch' mới là đối tượng trừng phạt, và mức độ trừng phạt cụ thể còn tùy vào mức độ mà chống đối cách mạng của cá nhân đó trong quá khứ...".
  19. ^ D.Gareth Porter. "The 1968 'Hue Massacre'". Tạp chí Indochina Chronicle số 33, 24/6/1974, trích: "...chính quyền Sài Gòn không cho phép bất kỳ phóng viên nào xem các địa điểm có mộ hay các tử thi..."
  20. ^ Porter trích Le Monde, April 13, 1968, rằng Marc Riboud dùng trực thăng để đến địa điểm đã thông báo thì phi công từ chối hạ cánh với lí do là vùng đất đó "không an toàn". Danh sách địa điểm không giống với cái mà Đại tá Tỉnh trưởng Phạm Văn Khoa miêu tả.
  21. ^ Porter trích báo Tiền Tuyến, ngày 3-5-1969; ông cũng dẫn lời Washington Post, May 5, 1969 là "Một sỹ quan Mỹ tại Huế đã thừa nhận với một phóng viên tờ Washington Post tại một lễ tang tập thể cho những người chết: Một số có thể đã đơn giản là bị kẹt lại [trong các cuộc giao tranh]"
  22. ^ Porter nêu ra sự mâu thuẫn thông tin trong hai cuộc phỏng vấn của Baltimore Sun và báo Tiền Tuyến, ngày 17 tháng 10 năm 1969, với cùng một nhân chứng
  23. ^ D.Gareth Porter. "The 1968 'Hue Massacre'". Tạp chí Indochina Chronicle số 33, 24/6/1974, trích: "...toàn bộ những vùng tìm thấy các hố chôn là chiến trường trong nhiều tuần của năm 1968. Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã tiếp tục giữ nhiều làng nhỏ ngay cả sau khi đã bị đẩy ra khỏi thành phố, và một số làng vẫn nằm trong quyền kiểm soát của họ trong hàng tháng, khi các máy bay ném bom của Mỹ đánh phá họ dữ dội...Làng Phú Mỹ, chỉ cách Huế 3 dặm về phía đông, là một trong các làng đã bị các đơn vị Cộng sản chiếm giữ trong cuộc tổng tấn công, khi nhiều nam giới trẻ nằm trong tuổi quân sự đã được gọi vào Quân Giải Phóng. Theo một cuộc phỏng vấn sau này với một người dân làng, máy bay Mỹ đã liên tục ném bom làng, phá hủy hàng trăm ngôi nhà và làm nhiều dân thường thiệt mạng....Phú Xuân, cách Huế 13 dặm, đã là chiến trường của các cuộc giao tranh dữ dội, trong đó có sự sử dụng mạnh của không lực Mỹ, trong các tuần nối tiếp cuộc Tổng tấn công..."
  24. ^ http://msuweb.montclair.edu/~furrg/porterhue2.html. Trích: The available evidence -- not from NLF sources but from official U.S. and Saigon documents and from independent observers -- indicates that the official story of an indiscriminate slaughter of those who were considered to be unsympathetic to the NLF is a complete fabrication. Not only is the number of bodies uncovered in and around Hue open to question, but more important, the cause of death appears to have been shifted from the fighting itself to NLF execution. And the most detailed and "authoritative" account of the alleged executions put together by either government does not stand up under examination.
  25. ^ http://phapluattp.vn/20130204122756478p0c1112/mau-than-1968-45-nam-nhin-lai-bai-5-tan-cong-tan-cong-lien-tuc.htm
  26. ^ The Washington Connection and Third World Fascism By Noam Chomsky, Edward S. Herman. Black Rose Books 1979. ISBN 0-919618-89-8. P. 345-353
  27. ^ For Reasons Of State. By Noam Chomsky. Penguin Books India, Jul 1, 2003. ISBN 9780143030546. P 231
  28. ^ Oriana Fallaci, "Working Up to Killing," The Washington Monthly (February 1972), p.40
  29. ^ a ă Oberdorfer, Don. Tet!: The Turning Point in the Vietnam War. New York: Doubleday & Company, 1971.
  30. ^ Vietnam: A Television History.” PBS network produce by WGBH Boston, in cooperation with Central Independent Television/ United Kingdom and Antenne–2/France, and in association with LRE Production. Tập 7

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Arnold, James R., Tet Offensive 1968: Turning Point in Vietnam, London: Osprey 1990
  • Bullington, James R. "And Here, See Hue," Foreign Service Journal, November 1968.
  • Christmas, G. R. "A Company Commander Reflects on Operation Hue City," Marine Corps Gazette, April 1971.
  • Davidson, Phillip B. Vietnam at War: The History, 1946-1975. Novato, CA: Presidio Press, 1988.
  • Hammel, Eric. Fire in the Streets: The Battle for Hue, Tet 1968. Chicago: Contemporary Books, 1991.
  • Harkanson, John, and Charles McMahon. "USMC & Tet ’68: There’s a Little Trouble in Hue …," Vietnam Combat, Winter 1985.
  • Krohn, Charles A., The Lost Battalion: Controversy and Casualties in the Battle of Hue, Praeger Publishers, 1993
  • Nolan, Keith William. Battle for Hue: Tet 1968. Novato, CA: Presidio Press, 1983.
  • Palmer, Dave Richard. Summons of the Trumpet: U.S.-Vietnam in Perspective. Novato, CA: Presidio Press, 1978.
  • Phan Van Son. The Viet Cong Tet Offensive (1968). Saigon: Republic of Vietnam Armed Forces, 1969.
  • Pike, Douglas. PAVN: People’s Army of Vietnam. Novato, CA: Presidio Press, 1986.
  • Secrets of the Vietnam War. Novato, CA: Presidio Press, 1990.
  • Smith, Captain George W., USA. "The Battle of Hue," Infantry, July-August 1968.
  • Stanton, Shelby L. Anatomy of a Division: 1st Cav in Vietnam. Novato, CA: Presidio Press, 1987.
  • Tolson, Major General John J., 3rd. Airmobility: 1961-1971. Washington, D.C.: Department of the Army, 1973.
  • Truong Sinh. "The Fight to Liberate the City of Hue During Mau Than Tet (1969)," Hoc Tap, December 1974.
  • Tucker, Spencer, Vietnam. London: UCL Press, 1999
  • Vietnam Order of Battle. New York: U.S. News and World Report, Inc., 1981.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Việt)

(tiếng Anh)

Phỏng vấn nhân chứng[sửa | sửa mã nguồn]