Thảm sát Huế Tết Mậu Thân
Thảm sát tại Huế Tết Mậu Thân (tiếng Anh: Hue massacre) là tên gọi một sự kiện trong Chiến tranh Việt Nam khi phát hiện nhiều ngôi mộ tập thể chôn tử thi trong chiến trận Huế. Việc phát hiện hố chôn xảy ra sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, chiếm đóng Huế một tháng và triệt thoái trứoc sự phản công của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và Quân đội Hoa Kỳ.[1]
Một số nhà chức trách Mỹ và Việt Nam Cộng hòa cùng một số nhà báo coi hố chôn tập thể là một trong những chứng cứ để kết luận Quân giải phóng miền Nam đã thực hiện cuộc thanh toán quy mô lớn ở Huế và vùng phụ cận trong 4 tuần chiếm đóng. Có nguồn cho rằng các vụ giết người này là có chủ trương nhằm thanh trừng cả một tầng lớp trong xã hội miền Nam. Nguồn khác, trong đó có nhóm phản chiến thì khẳng định rằng số lượng và hoàn cảnh của những người bị giết đã bị khuếch đại và ngụy tạo để phục vụ mục đích tuyên truyền trong chiến tranh.
Mục lục |
[sửa] Bối cảnh
Sáng sớm ngày 31 tháng 1 năm 1968, trong dịp Tết Nguyên Đán, Quân đội Nhân dân Việt Nam và quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) cùng lúc tấn công bất thình lình tại nhiều thành phố và địa phương trên miền Nam Việt Nam - trong đó có Sài Gòn và Huế. Sau các thành công quân sự ban đầu, họ bị đối phương áp đảo và đẩy lui khắp nơi, trừ Huế. Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân tuy được xem là một thất bại chiến thuật nhưng lại là một chiến thắng có tầm vóc lớn về chiến lược.
Với mục đích giành giật chủ quyền tại Huế, trận chiến 28 ngày giữa MTDTGPMNVN với Quân đội Hoa Kỳ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) đã diễn ra và kết quả là 40% thành phố bị tàn phá, 116.000 người mất nhà ở. Quân đội Hoa Kỳ và QLVNCH chịu khoảng 4.400 lính thương vong, trong khi MTDTGPMNVN cũng tổn thất trên 4.000 quân. Cũng trong cuộc tái chiếm này, trong số 17.134 ngôi nhà tại Huế, 9.776 bị phá hủy hoàn toàn, 3169 bị hư hỏng nặng; số thường dân thiệt mạng theo ước tính đầu tiên của chính phủ Việt Nam Cộng hòa là 3.776 người; MTDTGPMN nói rằng họ đã chôn cất rất nhiều nạn nhân do bom đạn tại các khu mộ tập thể cùng với binh sĩ tử trận của chính họ[2].
[sửa] Số liệu về các hố chôn tập thể
Sau sự kiện Tết Mậu Thân khoảng một tháng, một số lượng lớn các ngôi mộ tập thể của những người đã chết tại Huế đã dần được tìm thấy. Số liệu từ các nguồn khác nhau có sự không thống nhất.
Theo báo cáo tổng kết của Douglas Pike[3], lúc bấy giờ là nhân viên hành chính ngoại giao của cơ quan thông tin Hoa Kỳ, năm 1970:
- "Câu chuyện (về Huế) chưa chấm dứt. Nếu ước đoán của giới chức Huế được coi như gần đúng, khoảng 2.000 người vẫn còn mất tích. Tổng kết về người chết và mất tích như sau:
- Tổng số dân sự tử vong: 7.600 - chết lẫn mất tích
- Chiến trường: - 1.900 bị thương vì chiến cuộc; 944 thường dân chết vì chiến cuộc
- Nạn nhân của những vụ giết tập thể:
- 1.173 - số tử thi tìm trong đợt đầu sau cuộc chiến, 1968
- 809 - số tử thi tìm trong đợt nhì, kể cả tìm thấy ở đụn cát, tháng 3-7 năm 1969
- 428 - số tử thi tìm trong đợt thứ ba, trong khe Đá Mài (khu Nam Hoa) - tháng 9 năm 1969
- 300 - số tử thi tìm trong đợt thứ tư, khu Phu Thu, tháng 11 năm 1969
- 100 - số tử thi tìm thấy các nơi trong năm 1969
- 1.946 - mất tích (tính đến năm 1970)"
Theo Gareth Porter[4], một học giả Mỹ, các ước lượng ban đầu của Bộ Di dân và An sinh Xã hội Việt Nam Cộng hòa, số dân thường thiệt mạng do giao tranh và bom pháo là 3.776, trên tổng số dân thường bị thương, chết hoặc mất tích là 6.700 người[5], chứ không phải các con số 944 và 7.600 do Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đưa ra[6]. (Các con số 944 và 7.600 này đã được Pike Douglas dùng trong thống kê của mình.)
Về các con số cụ thể tại các địa điểm khai quật, Gareth Porter[4] viết:
- "...tại địa điểm trường trung học Gia Hội, báo cáo chính thức của Mỹ, dựa trên thông tin cung cấp bởi Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10, đưa ra tổng số 22 mộ tập thể và 200 tử thi, với bình quân 9 tử thi mỗi mộ. Nhưng khi Steward Harris [phóng viên Thời báo Luân Đôn] được đưa đến địa điểm đó, người sĩ quan Việt Nam hộ tống nói với anh ta rằng mỗi ngôi mộ trong số 22 ngôi có từ 3 đến 7 xác, cho ra tổng trong khoảng từ 66 đến 150. Cũng khoảng trong thời gian đó, Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 xuất bản một cuốn sách nhỏ dành cho người đọc Việt Nam, trong đó nói rằng tại trường học có 14 mộ (chứ không phải 22), con số này còn làm giảm tổng số hơn nữa."
Cũng theo Gareth Porter, Alje Vennema[7], một bác sỹ làm việc cho một đội y tế Canada tại bệnh viện Quảng Ngãi và đã tình cờ có mặt tại Bệnh viện Huế trong thời gian xảy ra sự kiện Tết Mậu Thân, nói tổng số tử thi tại bốn địa điểm chính được phát hiện ngay sau Tết là 68, chứ không phải con số 477 như đã được tuyên bố chính thức.
[sửa] Nguyên nhân
[sửa] Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
Theo tài liệu hồi ký của Trương Như Tảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Cộng hòa miền Nam Việt Nam thì trong cuộc chiếm đóng Huế, một số lớn người đã bị xử tử vì thuộc thành phần có liên hệ với chính quyền Việt Nam Cộng hòa (viên chức, cảnh sát, địa phương quân...) nhưng cũng có người bị giết mặc dù không tham gia chiến trận. Huỳnh Tấn Phát, chủ tịch của chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam, thay mặt chính phủ "ân hận" và xác nhận do kỷ luật kém ở một số đơn vị nên đã có những vụ giết hại vô cớ. Một bản báo cáo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng bắt được ngày 25 tháng 4 năm 1968 ghi nhận, họ đã "diệt 1.892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, 790 tên ác ôn, sáu đại uý, 1 trung uý, 20 thiếu uý và nhiều sĩ quan trừ bị…" trong cuộc chiếm đóng Huế.[8]
[sửa] Pike
Theo Pike:[3] thì có 3 giai đoạn đưa đến những vụ xử tử.
| “ | Giai đoạn đầu là một loạt các cuộc xử án công cộng kéo dài khoảng 5 - 10 phút do giới chức trong quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng dựng lên. Bị cáo luôn bị kết án "có tội với nhân dân".
Giai đoạn nhì, khi họ cho rằng họ sẽ giữ được Huế lâu dài, quân Mặt trận Giải phóng bắt đầu tiến hành công tác giáo dục tư tưởng yêu nước cho quần chúng. Những ai bị tình nghi có thái độ chống cách mạng từ từ bị truy lùng trong giai đoạn này. Người theo đạo Công giáo, các nhà trí thức, thương gia, và đám người bị tội làm 'tay sai Đế quốc' bị chiếu cố để "tạo dựng xã hội mới". Giai đoạn sau cùng, khi thấy rõ họ đang bị đánh bật ra khỏi Huế, quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng thi hành những vụ thủ tiêu nhân chứng - bất cứ ai biết mặt họ, nhìn thấy những tội ác trong lúc Huế bị chiếm đều bị giết và chôn mất xác." |
” |
Nhiều tác giả sử dụng báo cáo của Pike, trong khi nhiều người khác thì phủ nhận, cho rằng đây là một chiêu bài tuyên truyền của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa để tạo hỗ trợ cho sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam. Trong những thời gian đầu cuộc chiến, nhiều phóng viên chiến trường phải viết phóng sự tuân theo một quy định áp đặt từ chính phủ Hoa Kỳ.
[sửa] Porter
Về sau có khảo cứu của Gareth Porter[4] về vụ thảm sát Huế, trong đó, ông chỉ trích những phóng đại tuyên truyền từ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. Ông nói các thông tin về cái gọi là đàn áp tôn giáo là thiếu chính xác[9] Porter cũng nêu là tại khu Gia Hội, nơi quân Giải phóng đã kiểm soát trong 26 ngày, một linh mục Công giáo nói với Len Ackland rằng không có một ai trong số các giáo dân của ông bị hại[10].
Ông đã nêu ra các nguồn gốc không xác thực của những thông tin về vụ "thảm sát"[11]; sự không rõ ràng trong việc điều tra tại thực địa các ngôi mộ tập thể[12]; những mâu thuẫn trong các báo cáo về số lượng tử thi tìm thấy; những mâu thuẫn với kết quả tìm hiểu của một bác sỹ y khoa làm việc tại Huế lúc đó; một số chi tiết đáng chú ý xung quanh các cuộc khai quật vào năm 1969; những mâu thuẫn giữa bài viết của Douglas Pike với các nguồn thông tin khác, rằng "Bộ trưởng Y tế Trần Lưu Y, sau khi đi thăm các địa điểm chôn cất vào tháng Tư năm 1969, đã thông báo với Phó Tỉnh trưởng Thừa Thiên rằng các tử thi có thể là của những người lính MTGPDT bị chết trong các trận giao tranh"[13]; những mâu thuẫn trong các lời khai của "người làm chứng" cho vụ thảm sát[14]; và thêm vào đó là kết quả của những trận bom Mỹ tại Huế đã khiến nhiều thường dân thiệt mạng. [15].
Gareth Porter cho biết rằng một người bác sỹ có mặt tại Huế vào thời điểm tìm thấy các mộ chôn, Alje Vennema[7], viết rằng đối với các địa điểm trong khu lăng vua, hầu hết các tử thi có dấu vết của quân phục. Vennema đã hỏi chuyện các dân làng gần đó, họ nói rằng trong các ngày 21 đến 26 tháng 2 khu vực trung gian đã bị bom và pháo dữ dội. Và, trái với các tuyên bố của chính phủ rằng nhiều nạn nhân đã bị chôn sống tại đó, Vennema nói rằng tất cả các tử thi đều có các vết thương.
Trong kết luận của bài viết, Gareth Porter đồng ý rằng có những vụ xử tử, giết người tại Huế trong giai đoạn chiếm đóng; tuy nhiên không có bằng chứng cụ thể về nguyên nhân của những cái chết.
- "Các bằng chứng có được -- không phải từ nguồn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, mà từ nguồn chính thức của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa và từ các quan sát viên độc lập -- cho thấy rằng câu chuyện chính thức về một cuộc tàn sát bừa bãi đối với những người được cho là không thích hợp với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là hoàn toàn bịa đặt. Không chỉ số lượng các thi thể được tìm thấy trong và xung quanh Huế đáng nghi vấn, mà quan trọng hơn, nguyên do của các cái chết có vẻ như là bị chuyển từ chính các trận đánh quân sự sang việc xử tử của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Và tường trình chi tiết nhất "có thẩm quyền" mà các chính phủ Mỹ hay Việt Nam Cộng hòa đưa ra về sự việc được cho là vụ thảm sát này đã không đứng vững trước các thẩm định."[16].
[sửa] Noam Chomsky and Edward S. Herman
Trong "Tài liệu về Kinh tế và Nhân quyền", 2 ông cho rằng vụ việc đã bị mô tả một cách sai lệch, bị thổi phồng, bị tô vẽ nhằm mục đích tuyên truyền. Các căn cứ được nêu ra có thể tóm lược như sau[17]
1. Những tài liệu căn bản cho câu chuyện này gồm một bản báo cáo do chính phủ Sài Gòn đưa ra và tháng 4/1968, một tài liệu lấy được và đã phổ biến trong công chúng của phái đoàn Hoa Kỳ vào tháng 11/1969, và một bài phân tách dài xuất bản năm 1970 của một nhân viên Phòng Thông tin “USIS” Douglas Pike. Cả hai bản báo cáo của Saigon và của Pike đã gây nên một sự nghi ngờ về nguồn tin, giọng điệu và vai trò của chúng trong một chiến dịch tuyên truyền mở rộng nhằm làm giảm đi ảnh hưởng của vụ thảm sát Mỹ Lai. Nhưng quan trọng hơn nữa là những tài liệu này đã không có sự điều tra hay sự nghiên cứu tỉ mỉ.
2. Sự ước lượng về những nạn nhân của thảm sát tại Huế đã tăng vọt lên một cách đáng kể để đáp ứng lại với những nhu cầu chính trị bất ngờ đột xuất của chính quyền Nixon. Không có nhà báo phương Tây nào đã được dẫn đến những mồ chôn tập thể khi các hố chôn đó được khai quật cả. Ngược lại một nhà nhiếp ảnh người Pháp Marc Riboud đã nhiều lần bị từ chối yêu cầu muốn đi xem một trong số địa điểm nơi mà ông tỉnh trưởng tuyên bố "có 300 cán bộ chính phủ đã bị Việt cộng giết". Người tổ chức AFSC tại Huế cũng không thể khẳng định bản báo cáo về những hố chôn tập thể, những nhà báo độc lập không hề được phép có mặt tại hiện trường và họ rất khó xác định chỗ chính xác nơi những hố chôn tập thể mặc dù đã nhiều lần yêu cầu được đến xem.
3. Một thực tế khác rằng có một số đông thường dân bị giết chết trong cuộc chiếm lại thành phố Huế bởi đạn pháo kích của Mỹ. David Douglas Duncan, một nhà nhiếp ảnh chiến trường nói về cuộc tái chiếm rằng đó là “một sự nỗ lực dốc hết sức để loại bỏ bất cứ một kẻ địch nào. Tâm trí tôi bấn loạn trước cuộc tàn sát.” Robert Shaplen viết về lúc đó “Không có gì trong cuộc chiến ở Triều Tiên và Việt Nam khi nói về sự tàn phá, mà tôi thấy kinh hoàng bằng những điều tôi thấy được ở Huế năm ấy". Sau trận đánh 25 ngày, trong số 17.134 nhà thì 9.776 ngôi nhà đã hoàn toàn bị phá hủy và 3.169 ngôi nhà bị thiệt hại khá trầm trọng bởi bom đạn.
4. Như thường thấy trước đó, quân Mỹ thường không phân biệt được du kích với dân thường, và thường dân có thể bị bắn nhầm. Theo Oberdofer, thủy quân lục chiến Mỹ đưa ra những tổn thất của Quân Giải phóng khoảng 5000 người, cao hơn nhiều số liệu của Quân Giải phóng.[18]. Điều này đưa ra giả thiết là một phần trong số này là thường dân trúng bom đạn Mỹ. Những thường dân này sau đó có thể đã được quân Giải phóng đem chôn tập thể cùng binh sĩ của họ.
5. Một giả thuyết khác rằng những nạn nhân ở Huế là do quân đội Mỹ và VNCH trả thù khi tái chiếm thành phố. Nhiều người thân Công đã lộ dạng trong suốt cuộc tổng tấn công, và đã hợp tác với chính quyền địa phương do những người cách mạng ở Huế hình thành, hoặc bầy tỏ sự ủng hộ của họ đối với MTGPMN. Khi quân giải phóng rút đi, nhiều cán bộ và những người ủng hộ quân giải phóng kẹt lại ở thế rất nguy hiểm và họ trở thành nạn nhân của những sự trả thù. Trong một bài mô tả, một nhà báo người Ý Oriana Fallaci, trích dẫn lời một linh mục Pháp ở Huế đã kết luận rằng: “Tất cả có khoảng 1100 người bị giết (sau ngày quân Mỹ tái chiếm thành phố)”.
[sửa] Young
Marilyn B. Young trong sách tựa đề The Vietnam Wars, 1945-1990[19]ghi lại:
- "Trong những ngày đầu của cuộc chiếm đóng quả thực có những vụ xử tử công khai tại chỗ ... khi trận chiến gần kết thúc bởi cuộc công pháo, lính miền Bắc trên đường rút lui xử tử những người họ đang giam giữ thay vì thả họ ra hay bắt theo làm tù binh - với con số người chết không nhiều như chính phủ Sài gòn và Washington công bố, nhưng nhiều đủ để tạo những câu hỏi tang thương cho những người sống sót ở Huế..."
[sửa] Các nguồn khác
Philip W. Manhard, một cố vấn cao cấp Hoa Kỳ tại Huế bị bắt đem ra trại tù binh ở miền Bắc Việt Nam (được thả năm 1974). Ông còn nhớ rõ những vụ bắn giết tại chỗ những người già yếu không đủ sức đi theo cuộc di tản tù nhân.[cần dẫn nguồn]
Năm 1969, phóng viên Don Oberdorfer[20] sang ở Huế 5 ngày với Paul Vogle, giáo sư dạy Anh Văn người Mỹ tại Đại học Huế, và phỏng vấn nhiều nhân chứng trong thời gian Huế bị quân MTDTGPMNVN chiếm đóng. Theo Oberdorfer, các vụ giết người chia làm hai loại:
- Loại xử tử có kế hoạch cho những giới chức chính phủ Việt Nam Cộng hòa và gia đình thân quyến của họ, nhân viên chính phủ và dân sự và những người "theo Mỹ".
- Loại bắn tại chỗ những ai chạy trốn không trả lời thẩm vấn, những ai nói xấu về cuộc chiếm đóng Huế, những ai có thái độ "không tốt" với quân cai quản.
Tuy không thể chứng minh bằng nguồn tin nào khác, Oberdorfer báo cáo rằng hầu hết những người nam trên 15 tuổi trốn tránh trong một nhà thờ khu Phú Cam đều bị đem đi và bắn chết. Khi Oberdorfer phỏng vấn Hồ Tý - một chỉ huy Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong cuộc tổng tấn công 1968 đã đào ngũ - ông này cho biết Đảng Cộng sản Việt Nam có lưu ý đặc biệt về khu Công giáo Phú Cam.[20]
[sửa] Chú thích
- ^ “Tet Offensive, the battle of Hue, in History of Vietnam - Tet Offensive.”. Vets With A Mission, this article is taken from the book Vietnam Experience Nineteen Sixty-Eight ISBN 978-0939526062. Truy cập 15 tháng 7 năm 2010.
- ^ Herman & Porter, The Myth of the Hue Massacre, Ramparts, Tập 13, Chương 8, May-June 1975
- ^ a b Douglas Pike, "Vietcong Strategy of Terror" (PDF)
- ^ a b c D.Gareth Porter. "The 1968 'Hue Massacre'". Tạp chí Indochina Chronicle số 33, 24/6/1974.
- ^ Saigon Post, March 17, 1968
- ^ VC Carnage in Hue, Tenth Political Warfare Battalion, 1968, p. 8.
- ^ a b Alje Vennema, "The Tragedy of Hue," unpublished manuscript, 1968, pp. 19-23.
- ^ Woodruff, Mark. Unheralded Victory. Arlington, VA: Vandamere Press, 1999. tr 209
- ^ "...Về những người Công giáo ở Huế, bằng chứng từ cả các tài liệu của Cộng sản và nhân chứng cho thấy chính sách của MTDTGPMN không hướng về phía chống lại Giáo hội Công giáo. Tài liệu Kế hoạch công kích và khởi nghĩa bắt được nói đến việc 'cô lập (isolate) những tên phản cách mạng lợi dụng Công giáo tại Phú Cam'. Tuy nhiên, trong thuật ngữ tiếng Việt của Cộng sản, 'cô lập' có nghĩa hành động để cắt đứt các ảnh hưởng của các cá nhân nói trên ra khỏi các sự vụ của cộng đồng. Nó không có nghĩa hành quyết hay thậm chí không nhất thiết có nghĩa bỏ tù, trái với những gì mà các chuyên gia chiến tranh chính trị có thể thuyết phục. Tài liệu chỉ ra rằng chỉ có các mục sư bị phát hiện 'che dấu địch' mới là đối tượng trừng phạt, và mức độ trừng phạt cụ thể còn tùy vào mức độ mà chống đối cách mạng của cá nhân đó trong quá khứ...".
- ^ trích dẫn Ackland và Porter, op. cit., p. 145
- ^ "...chính quyền Sài Gòn không cho phép bất kỳ phóng viên nào xem các địa điểm có mộ hay các tử thi..."
- ^ Porter trích Le Monde, April 13, 1968, rằng Marc Riboud dùng trực thăng để đến địa điểm đã thông báo thì phi công từ chối hạ cánh với lí do là vùng đất đó "không an toàn". Danh sách địa điểm không giống với cái mà Đại tá Tỉnh trưởng Phạm Văn Khoa miêu tả.
- ^ Porter trích báo Tiền Tuyến, ngày 3-5-1969; ông cũng dẫn lời Washington Post, May 5, 1969 là "Một sỹ quan Mỹ tại Huế đã thừa nhận với một phóng viên tờ Washington Post tại một lễ tang tập thể cho những người chết: Một số có thể đã đơn giản là bị kẹt lại [trong các cuộc giao tranh]"
- ^ Porter nêu ra sự mâu thuẫn thông tin trong hai cuộc phỏng vấn của Baltimore Sun và báo Tiền Tuyến, ngày 17 tháng 10 năm 1969, với cùng một nhân chứng
- ^ "...toàn bộ những vùng tìm thấy các hố chôn là chiến trường trong nhiều tuần của năm 1968. MTGPDT đã tiếp tục giữ nhiều làng nhỏ ngay cả sau khi đã bị đẩy ra khỏi thành phố, và một số làng vẫn nằm trong quyền kiểm soát của họ trong hàng tháng, khi các máy bay ném bom của Mỹ đánh phá họ dữ dội...Làng Phú Mỹ, chỉ cách Huế 3 dặm về phía đông, là một trong các làng đã bị các đơn vị Cộng sản chiếm giữ trong cuộc tổng tấn công, khi nhiều nam giới trẻ nằm trong tuổi quân sự đã được gọi vào Quân Giải Phóng. Theo một cuộc phỏng vấn sau này với một người dân làng, máy bay Mỹ đã liên tục ném bom làng, phá hủy hàng trăm ngôi nhà và làm nhiều dân thường thiệt mạng....Phú Xuân, cách Huế 13 dặm, đã là chiến trường của các cuộc giao tranh dữ dội, trong đó có sự sử dụng mạnh của không lực Mỹ, trong các tuần nối tiếp cuộc Tổng tấn công..."
- ^ Nguyên văn: The available evidence -- not from NLF sources but from official U.S. and Saigon documents and from independent observers -- indicates that the official story of an indiscriminate slaughter of those who were considered to be unsympathetic to the NLF is a complete fabrication. Not only is the number of bodies uncovered in and around Hue open to question, but more important, the cause of death appears to have been shifted from the fighting itself to NLF execution. And the most detailed and "authoritative" account of the alleged executions put together by either government does not stand up under examination.
- ^ The Myth Of The Hue Massacre 68, xem chi tiết bản dịch tại: http://www.nhandanvietnam.org/view.php?storyid=545
- ^ Nguồn: Cục Tác chiến, số 124/Tgi, Hồ sơ 1103 (14-2-1969): Mặt trận Trị-Thiên: 4.862 chết, 883 mất tích, 6.628 bị thương, 98 bị bắt. Trong đó đợt 1 chiếm 50%
- ^ Young, Marilyn B., The Vietnam Wars, 1945-1990 (New York: Harper Perennial, 1991)
- ^ a b Oberdorfer, Don. Tet!: The Turning Point in the Vietnam War. New York: Doubleday & Company, 1971.
[sửa] Đọc thêm
- Arnold, James R., Tet Offensive 1968: Turning Point in Vietnam, London: Osprey 1990
- Bullington, James R. "And Here, See Hue," Foreign Service Journal, November 1968.
- Christmas, G. R. "A Company Commander Reflects on Operation Hue City," Marine Corps Gazette, April 1971.
- Davidson, Phillip B. Vietnam at War: The History, 1946-1975. Novato, CA: Presidio Press, 1988.
- Hammel, Eric. Fire in the Streets: The Battle for Hue, Tet 1968. Chicago: Contemporary Books, 1991.
- Harkanson, John, and Charles McMahon. "USMC & Tet ’68: There’s a Little Trouble in Hue …," Vietnam Combat, Winter 1985.
- Krohn, Charles A., The Lost Battalion: Controversy and Casualties in the Battle of Hue, Praeger Publishers, 1993
- Nolan, Keith William. Battle for Hue: Tet 1968. Novato, CA: Presidio Press, 1983.
- Palmer, Dave Richard. Summons of the Trumpet: U.S.-Vietnam in Perspective. Novato, CA: Presidio Press, 1978.
- Phan Van Son. The Viet Cong Tet Offensive (1968). Saigon: Republic of Vietnam Armed Forces, 1969.
- Pike, Douglas. PAVN: People’s Army of Vietnam. Novato, CA: Presidio Press, 1986.
- Secrets of the Vietnam War. Novato, CA: Presidio Press, 1990.
- Smith, Captain George W., USA. "The Battle of Hue," Infantry, July-August 1968.
- Stanton, Shelby L. Anatomy of a Division: 1st Cav in Vietnam. Novato, CA: Presidio Press, 1987.
- Tolson, Major General John J., 3rd. Airmobility: 1961-1971. Washington, D.C.: Department of the Army, 1973.
- Truong Sinh. "The Fight to Liberate the City of Hue During Mau Than Tet (1969)," Hoc Tap, December 1974.
- Tucker, Spencer, Vietnam. London: UCL Press, 1999
- Vietnam Order of Battle. New York: U.S. News and World Report, Inc., 1981.
[sửa] Xem thêm
[sửa] Liên kết ngoài
(tiếng Việt)
- Chuyện Hoang Đường Vụ "Thảm Sát" ở Huế 1968 - The Myth Of The "Hue Massacre" 1968 Nhà xuất bản Nhân Dân, Noam Chomsky and Edward S. Herman, Lê Hồng Phong dịch.
- Chuyển bại thành thắng của Đại Tá Quận Đội Nhân Dân Bùi Tín.
- THE 1968 'HUE MASSACRE' của D.Gareth Porter.
- Bản dịch "The 1968 'Hue Massacre'" của D.Gareth Porter.
- Cuộc tàn sát Tết Mậu Thân ở Huế trích dịch bài của D Pike.
- Giải khăn sô cho Huế - thuật truyện do Nhã Ca viết.
- Chuyện nhỏ trong chiến tranh. Một câu chuyện xảy ra ở Huế - Tết Mậu Thân
(tiếng Anh)
- The Myth Of The "Hue Massacre" 1968 Noam Chomsky and Edward S. Herman.
- The Battle for Hue, 1968 by James H. Willbanks
- Time Magazine, contemporary article
- Misreporting that Doomed Millions, Setting the Record Straight
- Scott Laderman, Hue and the shaping of history
- THE 1968 'HUE MASSACRE' của D.Gareth Porter.
- Dossier: Vietnam and Africa, Volume 14 #1 nói về bác sĩ Alje Vennema trong thời kỳ Tết Mậu Thân.