Thuyền nhân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thuyền nhân Việt Nam chờ được cứu vớt
Mẹ và các con thuyền nhân vừa được cứu vớt

Thuyền nhân Việt Nam là hiện tượng hàng triệu người rời khỏi Việt Nam bằng thuyền sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 cho đến đầu thập niên 1990.

Hoàn cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Di tản tháng 4 năm 1975 được hiểu là hành động rời khỏi Việt Nam theo cách chính thống và có tổ chức. Khi ấy, nhiều đợt rời khỏi Việt Nam của các nhân viên, gia đình các đại sứ quán và công ty nước ngoài được các cơ quan Hoa Kỳ và các nước đồng minh tổ chức. Bắt đầu từ ngày 29 tháng 4 năm 1975, Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford đã chính thức ra lệnh khởi động chương trình "Frequent Wind" để di tản quân nhân, nhân viên dân sự Hoa Kỳ và một số người Việt đã từng cộng tác hay có liên hệ với chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa để rời khỏi Việt Nam. Cùng thời điểm này, rất nhiều người Việt ở miền Nam cũng đã quyết định di tản theo chương trình trên nhưng có thể bằng phương tiện riêng với tâm lý được thông báo từ chính phủ Việt Nam Cộng hòa khi Việt Cộng tiến vào sẽ xảy ra hành động tắm máu và trả thù. Chương trình di tản "Frequent Wind" trên nguyên tắc chỉ kéo dài từ 3 giờ 30 chiều ngày 29 tháng 4 đến đúng 21 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975 - khi người lính Mỹ cuối cùng được trực thăng bốc khỏi Sài Gòn và trụ sở của Sở Tùy viên Quốc phòng (Defence Attachés Offfice, DAO) của Hoa Kỳ bị Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ cho phá nổ.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 có rất nhiều người từ Campuchia, Lào nhưng đông nhất là từ Việt Nam cũng đã tìm cách vượt biên bằng thuyền sang các nước khác. Tại Campuchia, chế độ diệt chủng Khmer Đỏ đã giết hàng triệu người khiến nhiều người tìm cách chạy khỏi đất nước. Tại Việt Nam, cuộc cải tạo công thương nghiệp, chính sách hợp tác hóa nông nghiệp, thực hiện đổi tiền, việc đưa hàng trăm ngàn nhân viên chế độ cũ đi "học tập cải tạo" dài hạn, sự phân biệt đối xử đối với những người này cùng thân nhân họ, cộng với những khó khăn về kinh tế của xã hội đã làm cho rất nhiều người vượt biên bằng thuyền.[cần dẫn nguồn]

Dựa trên kinh nghiệm cá nhân, dữ liệu thu thập được từ các cuộc phỏng vấn thuyền nhân và các nguồn khác, tác giả Nguyễn Văn Canh cho rằng một số nguyên nhân sau đây có thể là động lực khiến chính quyền Việt Nam chấp nhận tình trạng vượt biên ồ ạt, bao gồm:[1]

  1. Khó khăn kinh tế trong khi nhà nước cần ngoại tệ; người ra đi chính thức và bán chính thức phải bỏ tiền và vàng ra để mua chỗ
  2. Chiếm đoạt tài sản hầu triệt hạ tầng lớp tư sản và tiểu tư sản.
  3. Loại bỏ thành phần xã hội chống đối hoặc không tin cậy được như trường hợp Hoa kiều chiếm gần 10% [cần dẫn nguồn] thành phần vượt biên.
  4. Gây áp lực chính trị với khối ASEAN.
  5. Chấp nhận một việc đã rồi vì không thể kiểm soát được hết 1.200 km duyên hải
  6. Gây áp lực với Hoa Kỳ để buộc Hoa Kỳ thực thi lời hứa viện trợ tái thiết thời hậu chiến như ghi trong Điều 21 của Hiệp định Paris 1973.
  7. Gia tăng lượng hàng hóa và hiện kim số người Việt ở hải ngoại gửi về cho thân nhân trong nước.

Theo số liệu của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, trong khoảng thời gian 1975-1995 đã có 849.228 người vượt biên bằng đường biển và đường bộ.[2] Theo số liệu của Indonesia, trong khoảng thời gian 1975-1996 đã có 250.000 người Việt Nam và Campuchia tá túc trên đảo Galang.

Một số thuyền nhân được các tàu khác (trong số đó có Hải quân Mỹ) cứu vớt; một số khác đến được các đảo trong biển Đông xung quanh Việt Nam; một số bị thiệt mạng trên biển, rất nhiều người bị hải tặc cướp bóc trước khi được cứu. Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc đã thiết lập một số trại tị nạn ở những nước lân cận và đã nhận được giải Nobel Hòa bình năm 1981, một phần là vì những hoạt động này. Hiện nay chưa có một con số thống kê chính thức về số thuyền nhân bị chết trên biển. Đã có những tượng đài được dựng lên để tưởng nhớ đến những thuyền nhân bị thiệt mạng trong các cuộc vượt biên, như ở Pulau Bidong (Malaysia), Pulau Galang (Indonesia).[3]

Hoa kiều tại Việt Nam năm 1979[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1975, ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện... và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường.[4]

Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, vấn đề về người Hoa càng thêm phần trầm trọng khi họ treo quốc kỳ Trung Quốc và ảnh Mao Trạch Đông trong khu Chợ Lớn, làm chính phủ Việt Nam nghi ngờ lòng trung thành của họ. Tháng 1 năm 1976, chính phủ ra lệnh cho người Hoa ở miền Nam đăng ký quốc tịch. Đa số đăng ký là quốc tịch Trung Quốc mặc dù họ đã chuyển sang quốc tịch Việt Nam từ những năm 1956-1957. Tháng 2 năm đó, người Hoa được lệnh đăng kí lại theo quốc tịch đã nhận thời Việt Nam Cộng hòa. Những người vẫn tiếp tục đăng kí là quốc tịch Trung Quốc sau đó bị mất việc và giảm tiêu chuẩn lương thực. Cuối năm đó, tất cả các tờ báo tiếng Trung bị đóng cửa, tiếp theo là các trường học của người Hoa. Với những hành động này, chính phủ Việt Nam đã lờ đi thỏa thuận rằng sau khi thống nhất sẽ tham khảo ý kiến của Trung Quốc về vấn đề người Hoa ở Việt Nam. Chính sách của Việt Nam năm 1976 đã bị ảnh hưởng bởi thay đổi nhanh chóng của mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, với nỗi e ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng Hoa kiều để ép Việt Nam theo các chính sách của mình. Vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn giản.[5]

Năm 1977, Hoa kiều vẫn tiếp tục kiểm soát nền kinh tế miền Nam, lạm phát 80% cùng với vấn đề tiếp diễn của sự thiếu thốn và nạn đầu cơ lương thực, Chính phủ Việt Nam sợ rằng Hoa kiều có thể bị lôi kéo theo các mục tiêu của Trung Quốc. Kèm theo đó là sự ngừng trệ nghiêm trọng của các vùng kinh tế phía Tây Nam do các xung đột tại biên giới với Campuchia. Người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức biểu tình đòi giữ quốc tịch Trung Quốc. Những điều này làm cho chính phủ Việt Nam lo sợ về nguy cơ đất nước bị rối loạn cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài bởi các nguyên nhân xuất phát từ Trung Quốc. Trong các tháng 3, 4 năm 1978, khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn của Hoa kiều bị quốc hữu hóa. Vị thế kinh tế của các thương gia giàu có bị hủy bỏ, nhà nước thắt chặt kiểm soát nền kinh tế. Quan hệ ngày càng xấu đi giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng làm tăng thêm số người Hoa rời Việt Nam. Kết quả là số người di tản từ Việt Nam tăng gấp đôi trong 6 tháng đầu năm 1979, trong những người di tản trong những năm 1978-1979, Hoa kiều chiếm số lượng rất lớn. Cộng thêm vào đó là khoảng 250.000 Hoa kiều sang Trung Quốc qua biên giới phía Bắc từ tháng 4 năm 1978 đến mùa hè năm 1979.[6] Trung Quốc đã gọi đây là vấn đề "nạn kiều".

Tổ chức vượt biên[sửa | sửa mã nguồn]

Người vượt biên có bốn cách ra đi:[7]

  1. Đi chui, tức là tự kiếm cách ra đi bằng cách giả dạng dân chài ra khơi lúc ban mai rồi chạy thẳng ra hải phận quốc tế.
  2. Mua bãi, tức là hối lộ nhà chức trách địa phương quản lý vùng sông biển để họ làm ngơ mà có nơi tập hợp trước khi ra khơi, giá khoảng 6 lạng vàng.
  3. Đi bán chính thức, tức mua chuộc giới chức cấp tỉnh. Người tổ chức thu tiền rồi đứng ra mua tàu, xăng dầu, v.v. với giá khoảng 12 lạng vàng mỗi đầu người. Ngoài ra, người vượt biên phải nộp văn tự nhà cửa cho Ủy ban địa phương.
  4. Đi đăng ký chính thức, tức ghi danh với chức trách trung ương. Cách này dành riêng cho Hoa kiều, có văn phòng đăng ký ở Sài Gòn. Người xuất cảnh phải nộp sổ gia đình ở và 12 lạng vàng. Phương tiện chuyên chở cho hạng này là tàu lớn, chứa trên ngàn người, rời bến Bạch ĐằngSài Gòn và được tàu hải quân hộ tống ra đến hải phận quốc tế. Người Việt đi ngả này phải mua lại giấy tờ tùy thân của người Hoa và học một ít tiếng Hán để lọt vòng kiểm tra.

Dù có cách ra đi "chính thức" trên tàu lớn tương đối an toàn, thuyền nhân vượt biên vẫn gặp nhiều rủi ro. Con tàu Hải Hồng chở 2.500 người là một thí dụ. Tàu này rời Việt Nam vào Tháng Mười Một năm 1978 đến được Mã Lai Á nhưng không được cập bến nên trôi dạt 45 ngày trên biển.[8]

Nói chung những người tìm cách vượt biên thường là những người chậm chân hoặc không thể đi trong giai đoạn "di tản" năm 1975. Một số người có tàu đánh cá hoặc có thể tổ chức cướp được tàu, ghe đã tổ chức móc nối nhiều người vượt biên ở quanh vùng và cả ở thành phố. Họ thường phải chuẩn bị thực phẩm, thuốc men và nhất là nước uống một cách kín đáo để đem lên tàu lúc thuận tiện. Khi đón người lên tàu tại "bãi" họ rời bến, nếu họ "mua" được nhân viên canh phòng thì việc tập kết tại bãi và rời bến được an toàn hơn. Chi phí ra đi tuỳ theo địa phương, phương tiện vượt biên - phương tiện càng lớn được cho càng an toàn thì chi phí càng cao - và người tổ chức đã có uy tín đã từng thành công thì giá càng cao thường từ 2 cây vàng cho tới cả 10 cây vàng một người lớn. Người ta ưu tiên cho tài công, người có hải bàn, bác sĩ và người biết tiếng nước ngoài đi cùng cũng có khi ưu tiên cho con em cán bộ giữ bến bãi đi cùng.

Hiểm nguy và rủi ro[sửa | sửa mã nguồn]

Thuyền nhân Việt Nam vừa được cứu và phát nước uống
Số liệu thuyền nhân đến Thái lan bị hải tặc tấn công[9]
Năm Tỷ lệ
1981 77%
1982 65%
1983 56%

Người tổ chức vượt biên và người vượt biên thường gặp nhiều rủi ro:

  • Bị lừa: do việc tổ chức vượt biên bị cấm, bị xem là phản quốc... nên mọi người chỉ dám bàn bạc lén lút và khi bị lừa cũng không dám lộ chuyện bị lừa vì sợ ở tù, vì vậy một số người đã tổ chức lừa đảo lấy tiền, vàng. Họ thường không đón khách đã hẹn và đã lấy tiền, họ mật báo hoặc phối hợp với công an đến bắt người vượt biên tại bãi.[cần dẫn nguồn]
  • Bị lộ: việc rủ người có tiền đi theo dễ làm lộ chuyện, cũng như khâu chuẩn bị nhiên liệu, thực phẩm, máy nổ dự phòng, thuê tài công hoặc bị lộ vì tuần phòng hoặc khi ra cửa biển.
  • Bị bão, bị chết máy, bị đi lạc, bị hải tặc Thái Lan giết, cướp, hãm hiếp, quăng xuống biển, chết đói, chết khát. Thậm chí, trong một số trường hợp có người buộc phải ăn thịt người chết để sống.[10] Khó chính xác có bao nhiêu người đã bỏ mình trên biển. Có ước đoán cho rằng từ 500.000-600.000 người chết ngoài biển.[11][12] Năm 1981 hội Chữ thập đỏ quốc tế ước đoán phân nửa số người vượt biển chết dưới tay hải tặc.[cần dẫn nguồn]
  • Cuộc sống thiếu đói, bệnh tật, chết vì sốt rét ở các trại tị nạn, điển hình là ở Malaysia.[13]

Hai thập kỷ sau khi những người tị nạn Việt Nam đầu tiên được đưa từ Hồng Kông đến một trung tâm tiếp nhận tại Hampshire, Anh, 27.000 mạnh cộng đồng người Việt ở đây rơi vào cuộc sống khủng hoảng, chủ yếu là người nghèo nông thôn phía Bắc. Một cuộc điều tra của nhật báo Anh The Independent cho biết hơn 50% người lớn thất nghiệp và nhiều gia đình sống trong cảnh nghèo đói kinh niên. Ít nhất 400 người Việt Nam tại Luân Đôn được điều trị nghiện heroin hoặc crack cocaine, bệnh tâm thần bao gồm tâm thần phân liệt và trầm cảm ở gấp đôi mức trung bình. Vấn nạn nghiện ma tuý đã có mầm mống từ thời họ còn ở các trại tị nạn ở Hồng Kông. Cảnh sát đang quan tâm đến sự tham gia ngày càng tăng của nam giới trẻ Việt Nam trong vấn đề tội phạm có tổ chức. Các dịch vụ hỗ trợ được đánh giá là thiếu trầm trọng. Giám đốc điều hành của Hội đồng người tị nạn ở Anh cho biết: "Những người tị nạn Việt Nam đến đây đã bị phản bội. Chúng tôi đã đề nghị đưa họ đến đây và họ đã bị bỏ rơi." Nhiều người tị nạn đã chuyển sang làm tội phạm vì những khó khăn ngôn ngữ và thiếu các kỹ năng liên quan làm cho họ gần như thất nghiệp.[14]

Nỗ lực cứu trợ[sửa | sửa mã nguồn]

Vì chuyến vượt biển đầy gian nguy làm xúc động lương tâm của nhiều người trên thế giới, một số tổ chức thiện nguyện đã ra tay phát động phong trào cứu trợ thuyền nhân. Từ cuối thập niên 1970 ở Pháp đã xuất hiện Un bateau pour le Vietnam ("Ủy ban một con tàu cho Việt Nam")[15][16] vận động việc cứu giúp. Hội Y sĩ không biên giới dưới sự lãnh đạo của bác sĩ Bernard Kouchner cho con tàu Île de Lumière đi vớt người lâm nạn. Con tàu này sau đó dùng làm tàu bệnh viện và nơi chữa trị cho 40.000 người Việt tỵ nạn bị giam ở đảo Pulau Bidong, Malaysia.[17] Cũng hưởng ứng lời kêu gọi đó, năm 1979 ở ĐứcEin Schiff für Vietnam quyên góp để rồi cùng phối hợp với Cao ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc, lần lượt cho ra khơi trên Biển Đông ba con tàu mang tên "Cap Anamur". Sự việc đó cũng dẫn đến việc hình thành tổ chức Cap Anamur, một đoàn thể thiện nguyện thường trực.[18][19]Bỉ thì có "Ủy ban Quốc tế Cứu trợ người Việt Tị nạn" được sử ủng hộ của hoàng gia Bỉ[19] trong khi đó ở Hoa Kỳ thì chính cộng đồng người Việt tỵ nạn cũng đứng ra thành lập "Ủy ban Báo nguy giúp Người vượt biển" năm 1980 do tiến sĩ Nguyễn Hữu Xương làm chủ tịch để hợp tác với các tổ chức quốc tế khác. Kết quả là con tàu Jean Charcot được điều hành đi vớt thuyền nhân.[20] Hội Y sĩ Thế giới (Medicins du Monde) thì điều động con tàu Akuna II[21] ra khơi với nhiệm vụ cứu trợ.[22][23]

Trong thập niên 1980-1990, Indonesia đã tiếp đón hàng trăm ngàn thuyền nhân Việt Nam vượt biển.[24]

Trại tị nạn đón thuyền nhân Đông Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Trại Whitehead ở Hương Cảng

Một số vùng có đông người vượt biên đã được Liên Hiệp Quốc hoặc nước sở tại lập trại tị nạn để cho người tị nạn tạm trú trong thời gian chờ ra đi đến nước thứ ba.

  • Hồng Kông: tất cả trại đóng cửa năm 2000[25], Achau, Argyle Street, Chimawan, Green Island, Heilingchau, High Island, Shek Kong, White Head, Tuen Mun (trại mở), Pillar Point (trại mở).
  • Indonesia: Galang, Kuku.
  • Malaysia: Bidong (Pulau Bidong),[26] Sungei Besi.
  • Philippines: Bataan, Palawan.
  • Thái Lan: Banthad, Leam Sing, Phanat Nikhom,[27] Sikiw, Site 1, Site 2, Songkhla.[26]

Từ chối[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 1992, những người nhập cảnh trái phép vào nước Úc được xếp dạng di dân bất hợp pháp và đều bị giam trong các trại giam di dân theo một tu chính của Đạo luật Di trú 1985. Dư luận Úc có nhiều thay đổi trong thời gian dài về vấn đề thuyền nhân. Cuối thập niên 1970, có 20-32% không muốn ai được ở lại. Đến năm 1993, con số này tăng lên 44%, với 46% ủng hộ giam giữ bắt buộc. Năm 2001, 71% đồng ý chính sách giam giữ trong thời gian xét đơn tị nạn. Đến giữa năm 2011, hơn 100 thuyền nhân Việt Nam vẫn còn bị giam trong các trại này.[28]

Tưởng niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Bia Thuyền nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiếc thuyền vượt biển của thuyền nhân, được Cap Anamur cứu vớt tháng 4 năm 1984, được đem về đặt tại Troisdorf, làm đài kỷ niệm năm 2007
Bia bằng đồng tri ân nước định cư và kỷ niệm thuyền nhân, dựng ở Hamburg, Đức năm 2009
Đài tưởng niệm Thuyền nhân Việt Nam tại Brisbane, Queensland. Úc

Vào năm 2005, ba mươi năm sau khi cuộc Chiến tranh Việt Nam kết thúc và đợt sóng người Việt tị nạn đầu tiên bỏ nước ra đi bằng thuyền, một số người trong cộng đồng người Việt hải ngoại tổ chức dựng bia tưởng niệm thuyền nhân tại hai địa điểm quan trọng trên chặng hành trình của nhiều thuyền nhân. Tại Pulau Bidong (tháng 3 năm 2005) thuộc MalaysiaGalang trên đảo Batam, thuộc Indonesia, hai nơi tạm trú của người tị nạn trong khi chờ đợi giấy phép tái định cư tại một nước thứ ba họ cho dựng hai tấm bia với dòng chữ song ngữ Việt-Anh:

Tưởng niệm hàng trăm ngàn người Việt đã bỏ mình trên con đường đi tìm Tự do (1975-1996). Dù họ chết vì đói khát, vì bị hãm hiếp, vì kiệt sức hay vì bất cứ lý do nào khác, chúng ta thảy đều cầu nguyện để họ được yên nghỉ dài lâu. Sự hy sinh của họ sẽ không bao giờ bị lãng quên.
In commemoration of the hundreds of thousands of Vietnamese people who perished on the way to freedom (1975-1996). Though they died of hunger or thirst, of being raped, of exhaustion or of any other cause, we pray that they may now enjoy lasting peace. Their sacrifices will not be forgotten.[3].

Tuy nhiên đến tháng 5 năm 2005 thì bia ở Galang bị phá. Vào tháng 11 thì bia ở Bidong cũng bị dỡ đi. Hai hành động này của chính quyền Malaysia và Indonesia là do áp lực ngoại giao của chính phủ Việt Nam vì bất bình với câu văn trên bia.[29][30]

Vì những nguy hiểm và không ít người thiệt mạng trên hành trình thoát khỏi Việt Nam, một phong trào nổi lên tại hoải ngoại dựng bia tưởng niệm thuyền nhân diễn ra số địa điểm khác. Trong số đó có

  1. Thị xã Grand-Saconnex, Thụy Sĩ (tháng 2, 2006)[31]
  2. Thành phố Santa Ana, California, Hoa Kỳ (tháng 2, 2006)[32]
  3. Liège, Bỉ (tháng 7, 2006)[33]
  4. Hamburg, Đức (tháng 10 2006)[34]
  5. Troisdorf, Đức (tháng 5, 2007)[35][36]
  6. Footscray (công viên Jensen Reserve thuộc Melbourne), Úc (tháng 6, 2008)[37]
  7. Bagneux, Pháp (tháng 11, 2008) [38][39]
  8. Westminster, California (tháng 4, 2009)[40][41][42]
  9. Cảng Landungsbruecken (Hamburg), Đức (tháng 9, 2009).[43][44]
  10. Đảo Galang, Indonesia (đã bị phá huỷ)
  11. Đảo Bidong, Malaysia
  12. Washington, Hoa Kỳ.
  13. Genève, Thuỵ Sĩ
  14. Canada: Bùng binh "Rond point Saigon", ngã tư thông lộ André Malraux và đại lộ des Genêts thuộc xã Bussy-Saint-Georges, thị trấn Marne-la-Vallée (12 tháng 9 năm 2010).[45] Tượng đài này có bốn mục đích: 1) Tưởng niệm người tỵ nạn thuyền nhân Việt Nam 2) Tri ân nước Pháp 3) Ghi ơn bậc phụ huynh 4) Vinh danh đóng góp của người Pháp gốc Việt. Đây là bức tượng bằng đồng do điêu khắc gia Vũ Đình Lâm thực hiện.[46]
  15. Bankstown, NSW, Úc (tháng 11, 2011) ở Saigon Place.[47] Đây là bức tượng bằng đồngnặng hơn ba tấn do điêu khắc gia Terrence Plowright thực hiện.
  16. Năm 2011 chính quyền địa phương Tarempa thuộc quần đảo Anambas, Indonesia đã khởi công trên đảo Kuku xây tượng đài tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam với dòng chữ "In Memory of the Refugees Who Died in Anambas, Indonesia, 1979-1986." Dự án sẽ khánh thành năm 2012.[48]
  17. Brisbane, Queensland, Úc (2 tháng 12, 2012) trong công viên Captain Burke, do Phillip Piperides thực hiện.[49]
  18. Perth, Western Australia, Úc (1 tháng 11, 2013) trong công viên Wade Street Reserve. Tượng đài cao 5,5 mét của điêu khắc gia Coral Lowry.[50]

"Ngày Thuyền nhân" ở Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm bằng đồng của Vi Vi Võ Hùng Kiệt dựng ở Tượng đài Thuyền nhân, Westminster, California, khánh thành năm 2009

Ngày 12 tháng 8 năm 2009 Hội đồng thành phố Westminster, CA, thông qua nghị quyết 4257 công nhận ngày thứ bảy cuối cùng mỗi tháng 4 sẽ là "Ngày Thuyền nhân Việt Nam".[51]

Con thuyền Tự do ở Úc[sửa | sửa mã nguồn]

Sydney, Úc, tại Viện Bảo tàng Hàng hải Quốc gia Úc (Australian National Maritime Museum) hiện lưu trữ một số hiện vật của con thuyền Tự do do một gia đình thuyền nhân Việt Nam đi chuyến hải hành vượt biên hơn 6.000 km từ Việt Nam để cập bến ở Darwin (Úc) năm 1977. Con thuyền này được chính phủ Úc mua lại năm 1990 đem trùng tu và trưng bày ở bảo tàng viện.[52]

Viện bảo tàng ở Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Rennes, vùng Bretagne ở Pháp vào Tháng Tư năm 2010 đã mở cuộc triển lãm một số di vật và hình ảnh thu thập được về hành trình vượt biên của thuyền nhân Việt Nam trong đó có một con thuyền chở 86 người lâm nạn trên biển.[53]

Viện Bảo tàng ở Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng đồng tỵ nạn người Việt ở Mỹ với sự giúp đỡ của chính quyền địa phương thành lập Viện Bảo tàng Người ViệtSan Jose, California. Cơ quan đó đang thu thập và lưu trữ nhiều hiện vật và tài liệu về Thuyền nhân Việt Nam.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyen Van Canh. tr 130-2
  2. ^ Trở lại Pulau Galang 25 Tháng 4 2005 - Cập nhật 14h29 GMT
  3. ^ a ă [1]
  4. ^ Evans và Rowley, tr. 53
  5. ^ Evans và Rowley, tr. 51
  6. ^ Evans và Rowley, tr. 54
  7. ^ Nguyen Van Canh. tr 129-30
  8. ^ Câu chuyện thuyền nhân
  9. ^ Thai Pirates against Vietnamese Boat People
  10. ^ "Former refugees retrace their path to freedom" theo OC Register News
  11. ^ "Boat People: A Refugee Crisis" theo CBC
  12. ^ Herschensohn, Bruce. An American Amnesia. New York: Beaufort Books, 2010. tr 67.
  13. ^ “Nữ thuyền nhân người Việt giúp hàn gắn vết thương chiến tranh”. VOA Tiếng Việt. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012. 
  14. ^ Burrell, Home Affairs Correspondent, Ian. “Vietnamese boat people came to Britain for a new life. They found unemployment and despair”. The Independent. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012. 
  15. ^ L’action humanitaire à travers le monde
  16. ^ Một con tầu cho Việt Nam
  17. ^ The Médecins Sans Frontières Experience
  18. ^ Tổ chức Cap Anamur
  19. ^ a ă Những bàn tay cứu vớt...
  20. ^ Lược Trình Hoạt Động của UBBNGNVB
  21. ^ HMAS Gladstone (AkunaII)
  22. ^ "Triển lãm về thuyền nhân VN" tại Pháp
  23. ^ Con tàu Akuna...
  24. ^ “60 thuyền nhân Afghanistan mất tích ngoài khơi Indonesia”. fti tiếng Việt. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012. 
  25. ^ Refugee Politics and the Vietnamese Diaspora
  26. ^ a ă "REFUGEES: Save Us! Save Us!" Báo Time tường thuật
  27. ^ Trại Phanat Nikhom
  28. ^ “Hơn 100 thuyền nhân VN còn bị giam ở Úc”. BBC Tiếng VIệt. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012. 
  29. ^ Bia Bidong
  30. ^ Bia Galang
  31. ^ Tượng đài ở Thụy Sĩ
  32. ^ http://hoahao.org/default.asp?catid=10&nid=7738
  33. ^ Radio Free Asia: Tượng đài ở Bỉ
  34. ^ Tượng đài Hamburg
  35. ^ Radio Free Asia: Tượng đài ở Đức
  36. ^ http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/05/070502_viet_monument.shtml
  37. ^ Hulls unveils Vietnamese Boat People Memorial
  38. ^ Hình ảnh công trình đài tưởng niệm tại Bagneaux, Pháp, trong khuôn viên chùa Khánh Anh
  39. ^ Liệt kê đài tưởng niệm Thuyền nhân trên thế giới
  40. ^ Việt Báo: Tượng đài Thuyền nhân ở Westminster
  41. ^ Thành phố Westminster và Tượng-đài Thuyền-nhân Việt-Nam
  42. ^ Người Việt: Khánh-thành tượng-đài Westminster
  43. ^ Tường thuật buổi lễ Khánh Thành Tượng Đài Tị Nạn Hamburg
  44. ^ Ngày tri ân nhân dân Đức
  45. ^ Tượng đài Bussy
  46. ^ "Hướng về tương lai với Niềm Mơ Ước của Mẹ" Khánh thành tượng đài thuyền nhân
  47. ^ Khánh thành tượng đài thuyền nhân Việt Nam ở Sydney
  48. ^ Khắc tên thuyền nhân trên đài tưởng niệm Indonesia
  49. ^ Queensland khánh thành tượng đài Thuyền nhân
  50. ^ "Boat people say ‘thanks, Australia’"
  51. ^ "Thị xã Westminster ra nghị quyết ngày Thuyền nhân Việt Nam". Khởi Hành năm xiii, số 155, Tháng Chín 2009. Midway City, CA. tr 3
  52. ^ Con thuyền Tự do
  53. ^ "Triễn lãm về thuyền nhân VN" tại Pháp"

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bằng cách nào, họ đến được đất tự do?: Phần 1Phần 2