Ấp Chiến lược

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hình ảnh ấp chiến lược với hàng rào bằng tre và hào cạn cắm chông bao quanh

Ấp Chiến lược là một "quốc sách" của chính quyền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam từ năm 1961 do Ngô Đình Diệm đề xuất để đối phó với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Những năm sau tên của chương trình này đổi thành Ấp Đời mới (1964) rồi Ấp Tân sinh (1965).

Mục đích[sửa | sửa mã nguồn]

Vì muốn cách ly thường dân khỏi lực lượng du kích, chính phủ Ngô Đình Diệm cho ra đời kế hoạch Ấp chiến lược. Mục đích chính là loại lực lượng du kích ra khỏi dân làng để dễ dàng tiêu diệt. Kế hoạch này đã gây khó khăn cho những người cộng sản miền Nam, nhiều cơ sở của họ bị quét sạch và có nguy cơ bị tiêu diệt. Khuôn mẫu cho Ấp chiến lược được rút từ kinh nghiệm chiến dịch bình định ở Philippines của quân lực MỹMalaysia của quân đội Anh. Kế hoạch được phái đoàn cố vấn Anh do R. G. K. Thompson cầm đầu đưa ra vào Tháng 11 năm 1961 và chính thức áp dụng vào Tháng Ba năm 1962 đầu tiên ở Bình Dương.[1]

  • Quan điểm của phía Việt Nam Cộng hòa về Ấp chiến lược là để tách rời quân du kích của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam ra khỏi khối dân thường ở nông thôn hòng hạn chế đối phương xây dựng cơ sở hoạt động và dần bị cô lập. Ấp chiến lược còn có dụng ý để dân địa phương có cách tự vệ đợi cho đến khi quân đội có thể đến giải cứu.
  • Quan điểm của phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thì Ấp chiến lược là nội dung cơ bản, là "xương sống" của chiến lược chiến tranh đặc biệt, là biện pháp chủ yếu để tiến hành cuộc chiến tranh tổng lực, trong đó hành quân càn quét, đánh phá, triệt hạ làng mạc, dồn dân, chiếm đóng, làm dân bị kìm kẹp nhằm "tát nước bắt cá", cô lập lực lượng vũ trang cách mạng để họ không thể dựa vào dân, nhằm thực hiện ý đồ tiêu diệt lực lượng quân Giải phóng.[2]

Giáo sư Sử học Randy Roberts thì nhận xét: "Cái gọi là Chương trình Ấp Chiến lược thực chất là lùa nông dân Việt Nam ra khỏi làng quê tổ tiên của họ và nhốt họ trong những khu đất rào quanh chắc chắn giống như một nhà tù hơn là các cộng đồng thật sự"[3]

Thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Ấp chiến lược tổ chức theo hình thức "tự quản, tự phòng và tự phát triển" và là hậu thân của Khu trù mật phát động năm 1959. Quản lý ấp là một Ban trị sự, phòng thủ bảo vệ ấp là lực lượng Phòng vệ dân sự, phối hợp với các đơn vị Thanh niên, Thanh nữ Cộng hòa của ấp đó phụ trách.

Người đứng đầu kế hoạch Ấp chiến lược là Cố vấn Ngô Đình Nhu với Trung tá Phạm Ngọc Thảo chịu trách nhiệm.

Quy hoạch[sửa | sửa mã nguồn]

Ấp được xây với hệ thống phòng thủ, thường có hai vòng rào. Vòng ngoài bằng dây kẽm gai, tre hoặc bụi gai. Vòng trong đắp đất, trên gắn kẽm gai. Giữa vòng ngoài và vòng trong là hào sâu khoảng hơn một mét cắm chông nhọn. Mỗi ấp đều có một hoặc nhiều chòi canh có tầm nhìn xa; các cổng ra vào được canh gác cẩn mật.

Ban ngày, người dân được tự do ra vào để làm ăn, tuy nhiên người lạ muốn vào ấp phải qua sự kiểm soát vô cùng chặt chẽ. Ban đêm, các cổng ra vào được đóng kín lại, nhưng các trường hợp cấp thiết của dân ở bên trong vẫn được giải quyết.[cần dẫn nguồn] Mọi trường hợp xâm nhập lén lút, bất hợp pháp từ bên ngoài vào đều bị phát hiện vì trong ấp có hệ thống báo động. Chung quanh ấp là một diện tích đồng trống để lính canh dễ theo dõi việc di chuyển phía ngoài.

Khu vực đầu tiên áp dụng Ấp chiến lược là khu đồn điền cao su Lai Khê, quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương; tiếp theo là các tỉnh Phú Yên, Bình ĐịnhQuảng Ngãi.[1]

Năm 1962 Chính phủ đề ra kế hoạch xây dựng 11.000 đến 12.000 ấp nhưng khi nền Đệ nhất Cộng hòa sụp đổ vào cuối năm 1963 thì con số đưa ra là 7.205 ấp.[4] Vùng hưởng ứng mạnh nhất trong việc xây dựng ấp Chiến lược là Cao nguyên Trung phần với nhiều bản người Thượng tự tổ chức lập ấp phòng thủ.[5]

Bổ túc cho Ấp chiến lược là lực lượng Dân vệ khoảng 60.000 vào thập niên 1960 [4] đảm nhiệm việc canh phòng và tuần tiễu.

Xây dựng Nông thôn[sửa | sửa mã nguồn]

Sang thời Đệ nhị Cộng hòa với tên gọi Ấp Đời mới của chương trình Xây dựng Nông thôn nói chung thì ấp có những mục tiêu rộng hơn như:

  • Phát triển nông nghiệp
  • Cải thiện quy chế tá điền
  • Thanh toán nạn mù chữ
  • Phổ biến vệ sinh, y tế
  • Chống Việt cộng và Cộng sản nằm vùng
  • Xây dựng cơ sở dân chủ
  • Tạo lập luồng văn hóa mới ở nông thôn

Kinh phí chương trình do viện trợ của Hoa Kỳ, Tây ĐứcÚc trang trải.

Kể từ năm 1966 trở đi Ấp chiến lược/Ấp Đời mới/Ấp Tân sinh dần được chuyển thành một bộ phận của Chương trình Xây dựng Nông thôn.[6]

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu, Quốc sách Ấp chiến lược thực hiện hiệu quả, hoạt động của du kích quân Giải phóng bị ngưng trệ. Tuy nhiên, trong khi thi hành thì nhiều viên chức lấy ngân sách Ấp chiến lược rồi bắt dân phải gánh chịu khoản này như phải nộp tiền, công sức và tre để làm hàng rào cho ấp. Trong trường hợp ở Vị Thanh thì 20.000 dân công được huy động để xây một ấp cho 6.500 người nên người bỏ ra công sức không hẳn là người được hưởng lợi. Trong khi đó việc đồng áng bị trễ nải vì dân phải xung công xây ấp.[4] Cũng có trường hợp dân địa phương bị cưỡng bách dời vào ấp.[1]

Riêng trong năm 1963, quân Giải phóng và người dân miền Nam đã phá hoàn toàn 2.895 Ấp chiến lược trong số 6.164 ấp được lập, số còn lại đã bị phá đi phá lại 5.950 lần ấp. Quân Giải phóng giành quyền làm chủ ở 12.000 thôn trong tổng số 17.000 thôn toàn miền Nam, gồm hơn 5 triệu dân trong tổng số 14 triệu dân toàn miền Nam. Hơn 1,5 triệu ha trên tổng số 3,5 triệu ha ruộng đất đã về tay nông dân; hơn 23.000 thanh niên miền Nam đã gia nhập quân Giải phóng. Hàng nghìn ấp chiến lược đã biến thành làng chiến đấu, hệ thống Ấp chiến lược bị sụp đổ đến 4/5.[2]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â "The Strategic Hamlet Program, 1961-1963," pp. 128-159
  2. ^ a ă http://chinhphu.vn/cttdtcp/vi/cpchxhcnvn/cpcacthoiky/1955_1975/02_2.html
  3. ^ WHERE THE DOMINO FELL - American and Vietnam, 1945-1995. James S. Olson & Randy Roberts. Brandywine Press, New York, 1999. Trang 98.
  4. ^ a ă â PSYOP OF THE STRATEGIC HAMLET IN VIETNAM
  5. ^ Duncacnson, Dennis. Government and Revolution in Vietnam. New York: Oxford University Press, 1968. tr 315-323
  6. ^ Xây dựng Nông thôn

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]