Súng không giật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phương thức hoạt động của SKZ.

Súng không giật (SKZ) hay súng phóng bom, pháo không giật là một loại vũ khí nhẹ nhưng bắn các loại đạn hạng nặng nhưng không có độ giật cao khi mà các loại súng bình thường sẽ có độ giật mạnh nếu mang so về kích cỡ. Về kỹ thuật súng không giật chỉ có thể có nòng dài. Súng phóng tên lửa cầm tay là biến thể sau này của súng không giật.

Thông thường loại súng này dùng để chống tăng và hệ thống đầu tiên đã đạt được kết quả đầu tiên do William Kroeger và Clarence Musser triển khai trong chiến tranh thế giới thứ hai.

Súng không giật bắn các loại đạn tương đương pháo, nếu so sánh tầm hoạt động và sơ tốc đạn thì nó giống như một khẩu pháo dã chiến nhỏ nhưng chúng sử dụng cỡ đạn lớn hơn, có sơ tốc và tầm bắn ngắn hơn. Có rất ít mẫu súng không giật có bắn khi vác vai, thường chúng sẽ được gắn trên bệ chống ba chân trước khi bắn và cả hệ thống có thể được một người lính mang đi dễ dàng. Có vài mẫu như L4 MoBATL6 Wombat của Anh có thể gắn trên các phương tiện cơ giới như xe jeep hay xe tải cũng như các APC.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Khẩu súng không giật có hình dáng bề ngoài trông rất giống với một khẩu súng thường. Một viên đạn sẽ được nạp vào súng thông qua bệ khóa nòng phía sau. Khi bắn thay vì toàn bộ khí sẽ đẩy viên đạn lên cho đến khi viên đạn ra khỏi nòng súng và tạo thành khí phản lực gây ra độ giật thì một lượng khí lớn sẽ thoát ra phía sau với áp lực gần tương đương với áp lực khí đẩy viên đạn ra khỏi nòng súng. Việc hai luồng phản lực ngược nhau và sức mạnh gần tương đương nhau sẽ tự triệt tiêu lẫn nhau làm giảm đến mức tối đa độ giật gây ra. Tuy nhiên các loại súng không giật cũ gần như không còn được sử dụng vì nó khá nặng và phức tạp để có thể vận chuyển cũng như các viên đạn của nó dùng quá nhiều thuốc súng để có thể giữ được sức mạnh và độ cân bằng khi bắn, mà thay vào đó là các loại súng phóng tên lửa cầm tay đơn giản hơn. Cho dù tên của loại súng này là súng không giật thì nó vẫn có độ giật với nhiều mức độ khác nhau.

Súng không giật còn là loại súng cần được bảo trì thường xuyên vì nếu bộ khóa nòng và hệ thống thoát khí phía sau bị cũ hay hỏng, bị rỉ hay không hoạt động được sẽ dẫn đến việc nó không thể tạo ra độ giật ngược lại một cách hiệu quả hay khả năng này bị mất hẳn thì người bắn sẽ gặp nguy hiểm với độ giật rất cao mà súng sẽ tạo ra khi bắn. Còn ngược lại nếu nòng súng bị nghẹt thì toàn bộ khẩu súng sẽ bay về phía trước như một trái tên lửa nếu như nó không nổ tung.

Không giống như súng phóng tên lửa với tên lửa có các đuôi giúp giữ ổn định đường bay và bắn từ nòng trơn thì súng không giật bắn các loại đạn pháo. Trong nòng súng không giật có rãnh xoắn giống như súng bình thường để ổn định đường đạn. Đạn của súng không giật để triệt tiêu độ phản lực nhưng vẫn giữ được sức công phá sẽ cần một lượng thuốc súng khá lớn trong khi tên lửa cầm tay chỉ cần nhiên liệu để đẩy nó đi.

Khối lượng khí thoát ra phía sau của súng có thể sẽ rất nguy hiểm cho chính ngườn bắn khi chiến đấu trong môi trường chật hẹp vì nó sẽ tạo ra một sóng chấn động ngược trở lại khi va vào vật cản thẳng vào người bắn. Hai khẩu súng phóng tên lửa ArmbrustMATADOR đã kết hợp sử dụng hệ thống chống dội ngược, với các pít tông nó có thể vừa chống giật vừa ngăn sóng chấn động dội lại từ khoảng không chật hẹp phía sau. Khi vừa bắn các pít tông sẽ mở ra để một lượng khí đẩy ra phía sau khẩu súng tạo ra hiệu ứng triệt tiêu độ giật nhưng ngay sau đó (khi luồn khí phía sau đã đi được vài feet) với sức đẩy của không khí các pít tông sẽ đóng lại ngăn không cho luồng khí nén tiếp tục thoát ra phía sau điều này sẽ dẫn đến việc súng bị giật một thơi gian ngắn sau khi bắn do luồng khí bị ngăn không thể tiết tục thoát ra nhưng vẫn trong mức độ an toàn sau khi viên đạn đã bay ra khỏi nòng súng đến mục tiêu và nó có thể bắn an toàn trong môi trường hẹp.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khẩu súng không giật đầu tiên được phát triển bởi trung tá Cleland Davis của hải quân Hoa Kỳ, ngay trước khi diễn ra chiến tranh thế giới thứ nhất. Thiết kế chủa ông là gắn phần sau của hai khẩu súng vào nhau, với một nòng sẽ nạp một viên đạn và nòng còn lại sẽ chỉ chứa thuốc súng và khi cước cò cả hai sẽ nổ cùng một lúc. Ý tưởng này đã được Anh thí nghiệm ở các loại vũ khí chống khí cầu Zeppelin và chống tàu ngầm gắn trên các chiếc Handley Page Type O/100 và các máy bay khác.

Liên Xô cũng đã thiết kế các loại vũ khí không giật từ năm 1923. Đến năm 1930 đã có rất nhiều vũ khí loại này được chế tạo và thí nghiệm với các cỡ đạn từ 37 mm đến 305 mm. Một số mẫu nhỏ nhất đã được thử nghiệm trên các máy bay (Grigorovich I-ZTupolev I-12) một số đã được chế tạo hạn chế và mang ra chiến đấu, tuy nhiên việc nghiên cứu đã bị bỏ ngỏ như kết quả phụ của cuộc Đại thanh trừng. Khẩu súng không giật được biết đến nhiều nhất là khẩu Model 1935 76 mm DRP được thiết kế bởi Leonid Kurchevsky. Một số khẩu đã được gắn trên xe tải và tham gia chiến đấu trong cuộc chiến mùa Đông. Hai khẩu đã bị Phần Lan thu được và mang đi thử nghiệm, một khẩu đã được trao cho Đức cũng để thí nghiệm năm 1940.

Khẩu súng không giật đầu tiên đưa vào chiến đấu trong quân đội Đức là khẩu Leichtgeschütz 40, thiết kế không giật với cỡ đạn 75 mm nòng trơn cũng được dùng trong lực lượng lính dù với các loại pháo hữu dụng và các loại vũ khí chống tăng mà thường được thả xuống chiến trường một cách mau chóng. Thiết kế này đã trở nên hữu dụng trong cuộc xâm chiếm Crete với mẫu sử dụng loại đạn 105 mm. Điều thú vị là các phiên bản này lại bị quân đội Hoa Kỳ sao chép một cách lỏng lẽo, sau đó lại nói ngược lại là Đức đã sao chép công nghệ của khẩu Bazooka. Hoa Kỳ có một chương trình nhưng không rõ là dùng để phát triển hay sao chép thiết kế vì nó cũng có các khác biệt trên thực tế. Nhật Bản cũng đã phát triển các loại súng không giật chống tăng để tiến hành bảo vệ lãnh thổ cũng như phục vụ việc tấn công vào lục địa của mình. Dù vậy các loại súng không giật vẫn xuất hiện rất ít trong suốt cuộc chiến cho dù mẫu súng không giật của Hoa Kỳ đã trở nên ngày càng phổ biến vào năm 1945.

Một chiếc Ontos.
Một chiếc M113 bị bắn hỏng bởi đạn súng không giật 50 mm của Quân Giải phóng.
Hai khẩu pháo không giật gắn trên xe jeep của lực lượng phòng vệ Nhật Bản.

Trong chiến tranh thế giới thứ hai một công ty Thụy Điển là Bofors Carl Gustaf đã phát triển một loại sử dụng đạn 20mm là khẩu 20mm m/42, Anh đã bày tỏ sự chú ý của mình với loại súng này nhưng vào thời điểm đó các loại súng trường chống tăng đã trở nên lỗi thời.

Vào năm 1947 quân đội Pháp đã mua lại các khẩu 75 mm của Hoa Kỳ như các vũ khí thanh lý sau chiến tranh và đã gắn vào các xe Vespa thành mẫu Vespa 150 TAP. Nó được sử dụng bởi lực lượng lính dù Pháp như loại vũ khí cơ động chống tăng và phá lũy đã được thấy sử dụng tại AlgérieĐông Dương.

Trong chiến tranh Triều Tiên các khẩu súng không giật đã được trang bị cho một lượng lớn quân đội Hoa Kỳ. Các khẩu súng không giật tiêu chuẩn của Hoa Kỳ là khẩu M18 (57mm) và M20 (75mm), và khẩu không được thành công là M27 (105mm). Các mẫu mới hơn được mang ra thay thế là khẩu M67 (90mm) và M40 (106mm) (trên thực tế nó là cỡ đạn 105mm nhưng gọi như thế để không bị nhầm với mẩu trước đó). Liên Xô cũng có công nghệ vũ khí không giật và cỡ đạn thường thấy là 73mm, 82mm và 107mm.

Khẩu SPG-9 (73mm) trọng lượng nhẹ và B10 (82mm) hạng nặng được sử dụng trong lực lượng lính dù Nga và thường thấy tồn kho trong tất cả các nước thuộc Liên Xô trước đây nơi chúng được dùng làm súng chống tăng.

Từ những năm 1960 đến những năm 1970 các tên lửa dẫn đường đã dần dần thay thế các khẩu súng không giật trong nhiệm vụ chống tăng. Các khẩu súng không giật dần dần không còn được sử dụng trong quân đội ngoại trừ những nơi rất lạnh vùng cực, nơi mà nhiên liệu tên lửa không thể bắt cháy và hệ thống dẫn đường bằng laser không thể hoạt động trong điều kiện nhiệt độ cực thấp. Các khẩu súng không giật từng được gắn trên chiếc M50 Ontos với 6 khẩu súng không giật rất có hiệu quả trong việc chống bộ binh trong chiến tranh Việt Nam nhưng càng về sau tranh luận về việc sử dụng các mẫu thiết kế hạng nặng khác càng mạnh hơn. Đến năm 1970 tất cả các Ontos đều đã bị cho ra khỏi biên chế và hầu hết đã bị tháo dỡ. Tuy nhiên loại súng này vẫn tìm được vị trí mới cho mình như tại Ấn Độ - Pakistan nơi nó được sử dụng để phá bong ke hay vai trò pháo binh trong những điều kiện rất khắc nghiệt.

Cũng trong chiến tranh Việt Nam quân đội Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh cũng đã tự thiết kế và chế tạo các loại súng không giật riêng để chiến đấu trong những vùng mà pháo không thể vào được hay yêu cầu độ cơ động cao, chúng thường dùng để phá lô cốt hay dùng để chống các phương tiện cơ giới bọc giáp nhẹ.

Vào những năm 1960 Hoa Kỳ đã thiết kế khẩu M-388 Davy Crockett với khả năng phóng một trái bom hạt nhân chiến thuật nhỏ.

Hiện tại súng không giật được sử dụng để gắn nhiều trên các phương tiện cơ giới hạng nhẹ vì khi bắn nó không tạo ra độ giật cao có thể làm hỏng phương tiện cũng như các phương tiện cơ giới này vốn rất nhẹ nên rất cơ động (chúng giống như những khẩu pháo dã chiến tự hành có tốc độ cao), các khẩu pháo này dùng để chiến đấu trong những điều kiện yêu cầu có hỏa lực tương đương với pháo binh và phải triển khai nhanh chóng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Julio S. Guzmán, Las Armas Modernas de Infantería, Abril de 1953
  • U.S. Patent No. 2,466,714, Recoilless Firearm and Ammunition, Filing date: May 20, 1944, Inventors: William J. Kroeger, Clarence Walter Musser.