Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến tranh Liên Xô - Phần Lan
Một phần của Chiến tranh thế giới thứ hai
Winter war.jpg
Tổ súng máy của Phần Lan
.
Thời gian 30/11/1939 - 13/3/1940
Địa điểm Phần Lan
Kết quả Chiến thắng đắt giá của Liên Xô[1]
Hoà ước Moskva
Thay đổi lãnh thổ Liên Xô chiếm được vùng Karelia của Phần Lan, nền độc lập của Phần Lan được bảo tồn[2].
Tham chiến
Flag of Finland (bordered).svg
Phần Lan
Flag of the Soviet Union (1923-1955).svg
Liên Xô
Chỉ huy
Carl Gustaf Emil Mannerheim Kliment Yefremovich Voroshilov, sau bị thay thế bởi Semyon Konstantinovich Timoshenko
Lực lượng
337.000-346.000[3][4]
30 tăng
216 phi cơ[5]
760.578 (ban đầu)[6]
998,100 (tổng cộng)
2,514–6,541 xe tăng, 1,691 xe thiết giáp [7]
3.800 phi cơ[8][9]
Tổn thất
25.904 chết[10]
43.557 bị thương[11]
1.000 bị bắt[12][13]
957 dân thường bị giết[14]
20-30 xe tăng
62 máy bay [15]
126.875 chết hoặc mất tích
188.671 bị thương hoặc bị ốm
5.600 bị bắt[16]
261-515 máy bay[17]
3.543 xe tăng [18]
.

Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan, hay Chiến tranh Mùa đông, là cuộc chiến giữa Liên XôPhần Lan trong bối cảnh thời kỳ đầu của Chiến tranh thế giới thứ hai, khi quân đội Đức đã tràn vào Áo, Tiệp Khắc, Ba Lan.

Cuộc chiến tranh ngắn nhưng tàn khốc này[19] diễn ra vào một trong những mùa đông khắc nghiệt nhất thế kỷ 20. Quân Phần Lan đã chiến đấu ngoan cường và gây cho Hồng quân một vài thất bại, và những thắng lợi này đã động viên tinh thần người Phần Lan. Nhưng sau 100 ngày quyết chiến, họ thất trận và phải nhượng một phần của Karelia cho Liên bang Xô viết.[1][20][21] Đây cũng được xem là một chiến thắng đắt giá của Liên Xô, bất chấp sự xem nhẹ của nhà lãnh đạo tối cao Iosif Vissarionovich StalinNguyên soái Kliment Yefremovich Voroshilov đối với quân Phần Lan.[22] Hậu quả của cuộc thanh trừng quân đội của Stalin, cũng như chiến thuật tốt[23] và sự dũng cảm của quân Phần Lan trong chiến đấu đã khiến cho họ cầm cự được lâu hơn hẳn dự kiến của Liên Xô, và nền độc lập của họ được đảm bảo, do đó cuộc chiến được xem là một thắng lợi tinh thần của họ. Vị thế quốc tế của Phần Lan được gia tăng, trong khi Liên Xô - với tổn thất to lớn trong chiến tranh - thì ngược lại.[2][24]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tướng Phần Lan Öhquist-Harald
Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô, Nguyên soái Voroshilov

Trước Cách mạng tháng Mười (1917), Phần Lan là một phần lãnh thổ của Đế quốc Nga. Sau Cách mạng, chế độ Nga hoàng sụp đổ. Ngày 6 tháng 12 năm 1917, Phần Lan chính thức tuyên bố độc lập, trở thành một nước cộng hòa. Từ ngày 27 tháng 1 đến 15 tháng 5 năm 1918 đã diễn ra cuộc Nội chiến Phần Lan với chiến thắng của phe Bạch Vệ (được Đế quốc Đức hỗ trợ) dẫn tới sự thù địch của nước Nga Xô viết vốn ủng hộ cho những người cộng sản Phần Lan. Năm 1919, trước sự đã rồi, Lenin và nhà nước Công nông của Nga đã tuyên bố trao quyền độc lập cho Phần Lan khi trên thực tế Phần Lan đã hoàn toàn độc lập.

Từ thập niên 1930, Phần Lan đã từ chối tham gia bất kỳ một tổ chức quốc tế nào nhằm bảo đảm cho sự trung lập của mình. Tuy nhiên, quan hệ giữa Liên Xô và Phần Lan vẫn căng thẳng xoay quanh tranh chấp tại vùng bán đảo Karelia, vùng đất mà Thụy Điển đã nhượng lại cho Nga trong Hiệp ước Nystad năm 1721. Năm 1809, sau chiến tranh Phần Lan giữa Đế quốc Nga và Vương quốc Thụy Điển, Đại công quốc Phần Lan được cắt cho Nga và trở thành một lãnh thổ do Sa hoàng cai quản, Sa hoàng quyết định nhập Karelia vào lãnh thổ Đại công quốc này. Từ năm 1920, khi Phần Lan độc lập khỏi Nga thì vùng này thuộc về Phần Lan trong hiệp ước đình chiến cùng năm (Hiệp ước Tartu). 18 năm sau, Nước Nga Xô viết, sau khi đã ổn định tình hình đất nước, muốn tái kiểm soát các lãnh thổ đã bị mất trong sự hỗn loạn của Nội chiến Nga, trong đó có Karelia[25].

Năm 1938-1939, Đức Quốc xã xâm chiếm Tiệp Khắc và Ba Lan, nguy cơ chiến tranh giữa Đức và Liên Xô đã cận kề. Để đảm bảo an ninh vùng biên giới phía bắc (đặc biệt là thành phố Leningrad) và tìm đường thông ra biển, Liên Xô đã đặt ra các yêu cầu đối với Phần Lan như sau:

  • Biên giới Phần Lan trên eo biển Karel phải lui về phía sau khoảng 150 km để đưa Leningrad ra khỏi tầm đại bác của đối phương (Đức và Phần Lan) bởi thành phố này chỉ cách biên giới 2 nước khoảng 20–30 km. Diện tích đất mà Phần Lan phải cắt là 2000 km2, bù lại, Liên Xô sẽ nhượng lại một vùng đất lớn hơn (khoảng 5.000 km2) cho Phần Lan (phần đất này ở xa Leningrad nên ít nguy hiểm với Liên Xô hơn).
  • Phần Lan phải nhượng lại một số đảo nhỏ của họ trên Vịnh Phần Lan
  • Liên Xô được thuê cảng Petsamo, cảng duy nhất không bị đóng băng của Phần Lan ở biển Bắc Cựccảng Hango trên đường vào vịnh Phần Lan để Nga dùng làm căn cứ hải quânkhông quân. Thời hạn thuê là 30 năm, mỗi năm Liên Xô trả tiền thuê là 8 triệu mác Phần Lan.

Phần Lan chấp nhận hầu hết yêu cầu, nhưng khước từ tất cả những yêu sách về cảng Hango[26] vì họ cho rằng với việc Liên Xô kiểm soát các vịnh then chốt, an ninh quốc gia của họ bị đe dọa nghiêm trọng. Những cuộc đàm phán diễn ra liên tục trong 6 tuần nhưng không đi đến thỏa thuận do không bên nào chịu nhượng bộ.

Đàm phán tan vỡ ngày 13 tháng 11, chính phủ Phần Lan bắt đầu ra lệnh tổng động viên. Ngày 28 tháng 11, Ngoại trưởng Liên Xô Vyacheslav Mikhailovich Molotov đơn phương hủy hiệp ước bất khả xâm phạm ký giữa Phần Lan và Liên Xô năm 1932 (có giá trị trong 10 năm) và quân Liên Xô tràn vào Phần Lan với lý do quân Phần Lan "bắn đại bác" sang lãnh thổ Liên Xô.

Ngày 1 tháng 12 năm 1939, tại Terijoki, một chính quyền thân Liên Xô với tên gọi là "Cộng hòa Nhân dân Phần Lan" đã được thành lập quy tụ những nhóm người thân Liên Xô tại Phần Lan[26].

Ngày 3 tháng 12 năm 1939, Phần Lan đã yêu cầu Hội Quốc Liên ra tuyên bố lên án cuộc xâm lược của Liên Xô[26]. Các nước trong Hội Quốc Liên đã đồng ý giúp đỡ Phần Lan trang bị và kinh tế trong cuộc chiến này. Phần Lan khi ấy hoàn toàn đơn độc: Đức Quốc xã không thể hỗ trợ họ do phải tuân theo Hiệp ước Xô-Đức, Thụy ĐiểnNa Uy thì tuyên bố trung lập trong khi sự hậu thuẫn của ÝHungary cũng bị Đức ngăn cản. Họ chỉ được sự giúp đỡ của quân tình nguyện nước ngoài, dù trong hơn 100 ngày sau đó họ đã thu hút sự chú ý của toàn thế giới[27]. AnhPháp đã lập kế hoạch cứu giúp Phần Lan, nhưng mọi sự đã diễn ra quá nhanh để có thể tổng động viên, trong khi Nauy và Thụy Điển thì từ chối việc cho quân Anh-Pháp đi ngang qua nước họ để tới Phần Lan.[2]

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc tấn công của Liên bang Xô viết dọc tuyến biên giới với Phần Lan

Trong cuộc chiến này Liên Xô gặp nhiều bất lợi, đội ngũ sĩ quan tài ba và có kinh nghiệm đã bị Stalin giết hại hoặc cách chức rất nhiều trong cuộc đại thanh trừng, chỉ huy Liên Xô là Nguyên soái Kliment Yefremovich Voroshilov, một người nổi tiếng vì vai trò phụ tá hỗ trợ đắc lực cho Stalin trong cuộc thanh trừng hơn là vì thành tích trên chiến trường. Dưới sự chỉ huy của những Sĩ quan cấp cao thiếu kinh nghiệm và dễ hiểu là hay lo lắng,[2] Hồng quân cũng không có sư am tường về lãnh thổ Phần Lan và sự phối hợp chiến đấu giữa các đơn vị cũng thiếu hiệu quả. Mặt khác, địa hình gồm toàn rừng rậm xen kẽ với vô số đầm lầy tại khu vực này đã hạn chế đáng kể ưu thế về thiết giáp của Hồng quân trong khi lại cung cấp nhiều nơi trú ẩn cho các đơn vị bộ binh Phần Lan tiến hành phục kích (trong chiến tranh Lapland, Đức Quốc xã cũng gặp những khó khăn tương tự ngay cả khi đã huy động cả xe tăng hạng nặng).

Ngày 30 tháng 11 năm 1939, Hồng quân Liên Xô tấn công tám điểm dọc biên giới dài 1.000 dặm của Phần Lan và dùng không quân oanh tạc thủ đô Helsingfors. Máy bay Liên Xô tràn ngập bầu trời Phần Lan, tiến hành oanh tạc dữ dội nhiều thành phố, thị trấn. Vào lúc 6h sáng cùng ngày, 23 sư đoàn của 4 tập đoàn quân với 425.000 binh lính, cùng 6 sư đoàn thiết giáp với hơn 3.000 xe tăng, được yểm hộ bởi hơn 3.000 máy bay vượt biên giới Phần Lan. Vào thời điểm này, Phần Lan có lực lượng quân đội 337.000 người (trang bị 250,028 khẩu súng, 200 máy bay, vài chục xe tăng và xe thiết giáp), trong đó khoảng 120-130 ngàn đang đóng tại khu vực xảy ra chiến sự.

Không quân Liên Xô tấn công Phần Lan chủ yếu là đơn vị ném bom và trinh sát tầm xa ADD (Aviatsiya Dalnego Deystviya), dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Bộ tư lệnh tối cao. Ngoài ra còn có các đơn vị không quân khác, tổng số máy bay khoảng 1.500 tới 3.200 chiếc. Không lực Phần Lan lúc đầu chỉ có 36 chiếc tiêm kích Fokker D.XXI, 17 máy bay ném bom Blenheim Mk.I, 31 máy bay bổ nhào Fokker C.X (các loại khác như Gladiator, Fiat G.50, Brewster B 239, Messerschmitt Bf 109... chưa có), tổng cộng là 210 chiếc, nhưng các phi công được đào tạo tốt, nhiều kinh nghiệm. Dù phải sử dụng cóp nhặt đủ loại máy bay và số lượng mỗi loại rất ít, không quân Phần Lan sử dụng chúng rất hiệu quả, với tỷ lệ tiêu diệt đối phương cao.

Chân dung lãnh đạo tối cao Liên Xô Stalin

Ngay ngày đầu tiên của chiến tranh đã có tới 16 thành phốthị trấn miền Nam Phần Lan bị 200 máy bay Nga ném bom. Trong đó người Nga thực hiện một cuộc ném bom bất ngờ vào thủ đô trong lúc nhiều người dân Phần Lan chưa biết tin gì về chiến tranh đã nổ ra. Theo các nguồn tin của Nga thì 9 chiếc máy bay SB-2 được giao nhiệm vụ tìm kiếm các kỳ hạm "Vainamoinen" và "Ilmarinen" của Phần Lan nhưng không tìm thấy nên chuyển mục tiêu vào dinh tổng thống gần quảng trường trung tâm. Đã có sự nhầm lẫn trong việc tìm mục tiêu và bom rơi xuống trung tâm thành phố, khu vực trạm xe buýt vào lúc 14h50, 2 dặm tính từ dinh tổng thống. 91 người chết, 236 người bị thương hầu hết đều là thường dân. Nhiều nhà cửa bị phá hủy. Mặc dù các máy bay Nga lợi dụng mây để tấn công bất ngờ, vẫn có 3 chiếc bị rơi vì trúng đạn cao xạ của Phần Lan. Mục tiêu chiến lược của Nga là ép chính phủ Phần Lan phải đầu hàng, tiêu diệt nguồn lực cho cuộc kháng chiến, gây hoang mang trong dân chúng. Các phi vụ ném bom chiến lược thực hiện nhằm vào các hải cảng, ga xe lửa nhằm cắt đứt tiếp tế của Phần Lan trong khi các phi vụ chiến thuật nhằm vào các đạo quân trên chiến tuyến cùng các căn cứ không quân.

Các chiến lược gia Hồng quân quá tự tin sau cuộc tấn công Ba Lan nên đã quyết định tấn công bất ngờ vào Phần Lan ngay cuối mùa thu năm 1939 mà không cần chuẩn bị trang bị, khí tài mùa đông cho binh sĩ của mình. Tình báo Liên Xô cho biết Phần Lan chỉ có 120.000 quân phòng thủ cùng 162 máy bay đủ loại, yếu hơn nhiều so với đội quân Liên Xô.

"Thùng bánh mì" mà ngoại trưởng Liên Xô Molotov đã nói tới. Người dân Phần Lan đã gọi nó là Molotovin leipäkori/Thùng bánh mì Molotov. Đây chính là loại bom RRAB-3 do Liên Xô sản xuất

Dù lúc đầu ít có ác cảm với Liên Xô nhưng sau các cuộc ném bom, người Phần Lan hình dung Liên Xô là một đất nước bạo tàn, từ đó họ bắt đầu căm ghét và mong muốn được trả thù, đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới việc Phần Lan trở thành đồng minh của Đức Quốc xã. Tổng thống Hoa Kỳ Roosevelt gửi thông điệp tới Moskva, khuyến cáo về việc Liên Xô ném bom các thành phố thì Molotov, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô trả lời rằng "chúng tôi không ném bom và sẽ không bao giờ ném bom thành phố của Phần Lan, mà chỉ ném bom các sân bay, các sân bay này cách Mỹ 8 ngàn km nên người Mỹ không thể phân biệt được". Chính phủ Liên Xô nói rằng các hình chụp nhà cháy, người chết có từ năm 1918[cần dẫn nguồn].

Stalin do quá chủ quan, khinh thường lực lượng quân đội Phần Lan nên nghĩ rằng Phần Lan sẽ thất bại chóng vánh, trước ưu thế áp đảo về quân sự và vũ khí của Liên Xô[1][28]. Ông chỉ đặt kế hoạch chiếm Phần Lan chỉ trong 2 tuần với Lục quân Liên Xô hùng hậu trên 1 triệu lính, khi đó dù Molotov nói gì cũng không còn quan trọng. Người Nga đã lập trước một chính quyền gọi là "Cộng hòa Dân chủ Phần Lan" cũng như tuyên bố mọi hành động quân sự là để giúp chính phủ nói trên. Chính quyền này còn gọi là "Chính phủ Terijoki", theo tên ngôi làng Terijoki, nơi đầu tiên mà Hồng quân chiếm được trong cuộc tấn công.[29] Chính phủ này có trách nhiệm chỉ huy các hoạt động chống "các nhóm vũ trang phản động" tại Hensinki đang đàn áp nhân dân. Sau này người Nga còn dùng nhiều từ khác nhau để chỉ cuộc chiến như: "cuộc chiến không tuyên bố", "chiến dịch Phần Lan", "chiến dịch truy quét Bạch vệ Phần Lan" v.v... Nhưng ngay từ khi chiến tranh bùng nổ, đa số người dân Phần Lan đã ủng hộ chính phủ hợp pháp ở Helsinki.[30]

Con đường chết Raate, xe tăng và binh sĩ Liên Xô bị quân Phần Lan phục kích và tiêu diệt

Ban đầu người Nga tấn công chủ yếu vào công trình bố phòng trên biên giới Phần Lan ở eo biển Karel, bao gồm một vùng có công sự phòng ngự rộng khoảng 20 dặm chạy từ Bắc đến Nam. Tuy nhiên xe tăng Liên Xô thường xuyên vấp mìn của quân Phần lan cài lại nên nhiều chiếc bị phá huỷ mau chóng còn binh sĩ Liên Xô bị vướng rào kẽm gai trong phòng tuyến của đối phương nên phơi mình cho các ổ súng máy bố trí khéo léo trong rừng. Quân đội Phần Lan với số lượng ít hơn, khoảng hơn 200.000, dựa vào địa hình quen thuộc, lòng yêu nước đã chống trả quyết liệt. Họ chủ động rút lui nhử các binh đoàn Xô Viết với vũ khí hạng nặng vào sâu trong lãnh thổ. Khi quân Nga kéo sâu vào 30 dặm, người Phần Lan tổ chức phản công. Bị chặn lại tại các phòng tuyến Phần Lan được xây dựng trong rừng, ngày đêm bị tấn công dữ dội vào sườn, đường giao thông phía sau bị gián đoạn, các binh đoàn Nga bị cắt ra từng mảnh, rút lui về điểm xuất kích với tổn thất lớn[cần dẫn nguồn].

Mùa đông năm 1939 có nhiệt độ âm 40-50 độ C, lạnh thứ hai kể từ năm 1828. Đây được xem là một trong mùa Đông khắc nghiệt nhất của thế kỷ 20.[1] Không quần áo ấm, nhiên liệu, thuốc men dự trữ và vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của quân Phần Lan[1], binh lính Liên Xô phải chiến đấu trong địa ngục băng giá (frozen hell). Hậu cần quá kém đến nỗi số người chết rét cao gấp nhiều lần số bị đối phương giết. Mặc dù chiến đấu với đội quân gấp 4 lần số bộ binh, 100 lần số xe tăng, 30 lần số máy bay, tinh thần quân Phần Lan vẫn rất cao.

Trong suốt tháng 12, gần 12 sư đoàn Liên Xô đồng loạt tấn công ồ ạt trên toàn phòng tuyến Mannerheim thuộc eo biển Karel nhưng đều thất bại. Từ ngày 7 tháng 12 năm 1939 đến ngày 8 tháng 1 năm 1940, khoảng 45.000-50.000 quân Liên Xô có xe tăng yểm trợ tấn công mạnh 11.000 quân Phần Lan ở Suomussalmi, kết quả là 13.000 tới 27.500 lính Hồng quân tử trận, bị thương và 2.100 bị bắt làm tù binh để đổi lấy 2.000 thương vong về phía quân Phần Lan. Đặc biệt là trong khoảng từ 4 tháng 1 đến 7 tháng 1 năm 1940, 6.000 quân Phần Lan phục kích một lực lượng Xô viết khoảng 25.000 quân trong một trận lớn trên đường Raate, quân Phần Lan có 402 người chết để đổi lấy 7.000-9.000 quân Xô viết chết hoặc mất tích và 1.300 tù binh. 2 sư đoàn 163 và 44 Bộ binh Liên Xô bị kẹt trong đầm lầy và bị chết rét dần dần, trong số 44.000 quân thì đã tử trận, chết cóng, bị thương hoặc bị ốm mất hơn 30.000, bị mất 86 xe tăng còn phía Phần Lan tịch thu làm chiến lợi phẩm 69 xe T-26 và 10 xe cơ giới các loại.[31] Tàn quân Liên Xô rút chạy về hậu cứ.

Lính trượt tuyết Phần Lan tại mặt trận phía bắc ngày 12-1-1940

Thống kê trong các chiến dịch này Phần Lan đã tịch thu 288 xe tăng và 35 xe cơ giới các loại của Liên Xô bao gồm T-26, BT-5BT-7. 167 chiếc đã được trang bị lại cho các đội xe tăng lúc này còn nhỏ bé của Phần Lan.[32]

Hồng quân rất lúng túng bởi nhiều vấn đề chưa lường hết như quân phục lính liên Xô có màu sẫm khiến họ dễ bị lộ trên tuyết, vấn đề liên lạc, vấn đề di chuyển trên các vùng đầm lầy Phần Lan, vấn đề lương thực, nhiên liệu và sưởi ấm trong nhiệt độ âm 40 độ C cho một đội quân nửa triệu v...v... Tại eo đất Karelian, các đơn vị Nga bị bao vây trong các công sự bằng gỗ, nhiều người bị chết đói hoặc chết rét. Các đoàn xe vận tải, xe tăng chìm trong đầm lầy, mắc kẹt giữa sông băng cho tới tận mùa xuân mới chìm xuống đáy. Hàng đoàn xe bị bỏ giữa những con đường xuyên rừng. Phần Lan chiếm được 85 xe tăng, 437 xe tải, 36 xe kéo, 10 xe gắn máy, 1.620 ngựa, 92 pháo, 78 súng chống tăng, 13 pháo cao xạ và hàng ngàn súng trường, súng máy, nhiều kho đạn dược.

Quân tình nguyện Na Uy chiến đấu bên cạnh người dân Phần Lan năm 1940

Trong cuộc chiến này, người dân Phần Lan đã sáng chế ra 1 loại vũ khí đặc biệt là Cocktail Molotov (hàm ý căm ghét Molotov-Ngoại trưởng Liên Xô lúc đó) hay còn gọi là chai xăng để chống lại những xe tăng hạng nhẹ, xoay trở chậm chạp, vỏ thép mỏng của Liên Xô đạt hiệu quả rất cao cũng như việc các binh sĩ Phần Lan mặc áo khoác trắng nguỵ trang trong tuyết để phục kích quân địch. Những kinh nghiệm này về sau đã được Liên Xô học lại trong Chiến tranh Xô-ĐứcCocktail Molotov vì nhiều lý do đã không đạt hiệu suất tiêu diệt xe tăng Đức cao như những gì người Phần Lan đã làm với Liên Xô (do xe tăng Liên Xô tham chiến hầu hết là tăng hạng nhẹ T26 dễ bị phá hủy). Khi kết thúc cuộc chiến Hồng quân Liên Xô bị thiệt hại 2.268 xe tăng, tương đương 9,2% số xe tăng Liên Xô có được năm 1939.[33]

Cuộc tấn công trên bộ của 6 sư đoàn Hồng quân, được yểm hộ bởi 440 khẩu đại bác cỡ lớn (bắn 300.000 quả đạn trên phòng tuyến chỉ dài 1,6 km), cùng với 500 máy bay và hàng trăm xe tăng tại Hatjalahti và hồ Muolaa đã bị bẻ gãy. Hồng quân thiệt hại nặng, nhưng Stalin tiếp tục điều thêm 300.000 quân, trong suốt một tháng, các cuộc tấn công tiếp diễn tại hồ Ladoga, tại vịnh Phần Lan...

Người anh hùng của quân Phần Lan- Trung uý Simo Hayha

Ngoài những trận đánh trực diện, quân Phần Lan còn sử dụng các tay bắn tỉa, mà trong đó nổi tiếng nhất là Simo Hayha (Simo Häyhä), người được quân Nga mệnh danh là Cái chết trắng (tiếng Nga: Белая Смерть, tiếng Anh: White Death, tiếng Phần Lan: Valkoinen kuolema). Sử dụng 1 khẩu súng trường Pystykorva và sau đó được tặng 1 khẩu súng tiểu liên Suomi M-31 SMG, anh được ghi nhận đã hạ 505 quân địch, cùng với khoảng 200 lính khác chưa được khẳng định, nâng thành tích lên 705 lính bị diệt trong suốt cuộc chiến.

Tuy đạt được những thắng lợi ấn tượng nhưng Phần Lan không thể sánh lại ưu thế của Liên Xô về người và của. Trong khi chiến tranh làm hao tổn lực lượng Phần Lan không thể bù đắp thì Liên Xô dù thiệt hại nặng nhưng với 170 triệu dân so với 4 triệu của Phần Lan thì thiệt hại nhân mạng là không đáng kể. Ngay cả quân đội Xô viết với 4 triệu người năm 1939 cũng đã đông bằng toàn bộ dân số Phần Lan.

Xe tăng T-26 của Liên Xô bị tịch thu trên đường Raate

Đến tháng 2 năm sau, Hồng quân thay đổi chiến thuật. Họ tập trung gom quân mở cuộc tấn công lớn tràn ngập eo biển, kết hợp với những cuộc không kích lớn vào các nhà ga và các khu đầu mối đường sắt phía sau chiến tuyến.

Tháng 2 năm 1940, không quân Liên Xô đánh bom tập trung nhằm cắt đứt đường xe lửa-nguồn tiếp tế cho mặt trận. Xe lửa chỉ có thể chạy vào ban đêm, dù vậy các cuộc ném bom trong đợt này diễn ra dày đặc đến nỗi hệ thống đường sắt của Phần Lan gần như tan tành vào thời điểm kết thúc cuộc chiến. Stalin tiếp tục huy động hàng đoàn quân ra mặt trận, ông tuyên bố hồ hởi: "không quân của chúng ta đã tham chiến! Rất nhiều cầu đã bị phá sập! Rất nhiều đoàn tàu đã bị tiêu diệt! Quân Phần Lan chỉ còn ván trượt tuyết (để đánh nhau)! Nguồn cung cấp ván trượt của chúng quả là vô tận...".

Sau nửa tháng chiến đấu, phòng tuyến của Phần Lan bị phá vỡ. Như ở phía đông Karelia, quân Phần Lan tiếp tục chống trả những đợt công kích của Hồng quân, đánh lui Hồng quân trong trận Taipale.[34] Ngày 12 tháng 3 năm 1940 quân Liên Xô đổ bộ 2 sư đoàn (1 sư đoàn Liên Xô khoảng 8.000-9.000 người) lên Petsamo để tấn công 3 đại đội của Phần Lan với 400 quân. Tuyến phòng thủ phía bắc của quân Phần Lan bị chọc thủng, 3 đại đội quân Phần Lan phòng thủ ở đây bị tiêu diệt hoàn toàn. Ngày 26/2, hết sạch đạn dược và nhiên liệu, lương thực, quân Phần Lan buộc phải rút khỏi Koivisto. Ngày 12 tháng 3 năm 1940, chính phủ Phần Lan đã phải chấp thuận các điều kiện ban đầu của Liên Xô.

Xác lính Hồng quân
Những lãnh thổ của Phần Lan bị cắt cho Liên Xô

Những thắng lợi phòng ngự của quân Phần Lan trong cuộc chiến đã lên dây cót cho tinh thần của binh lính. Trong khi đó, ở hậu phương, người Phần Lan trở nên tự tin rằng họ có khả năng đương đầu với cuộc chiến.[21] Sau 100 ngày quyết chiến[1], cuộc chiến kết thúc với thắng lợi của Liên Xô, dù bị thiệt hại nặng. Hội Quốc Liên đã phản đối quyết liệt cuộc tấn công này và với đa số phiếu tuyệt đối đã khai trừ Liên Xô ra khỏi tổ chức hội.[26]. Thắng lợi đắt giá trong cuộc chiến được xem là một đòn giáng mạnh vào uy thế quân sự của Liên Xô, đem lại cho Hồng quân những bài học cay đắng.[35][36] Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan và Mặt trận Phần Lan (Chiến tranh Xô-Đức) được xem là giai đoạn lịch sử được người nước ngoài biết đến nhiều nhất của Phần Lan.[27]

Sau khi chiến tranh kết thúc, trên phần đất chiếm được của Phần Lan (chiếm 11% lãnh thổ của Phần Lan trước chiến tranh[2]), Liên Xô đã thành lập Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Tự trị Karelia và sáp nhập vào Liên Xô do Otto Kusinen (một nhà chính trị Phần Lan lưu vong ở Liên Xô) lãnh đạo. Nhiều người dân ở đây đã bỏ chạy sang vùng lãnh thổ của chính phủ Phần Lan sau chiến tranh. Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan cùng với Hiệp định giữa Liên Xô và Phần Lan đã đánh dấu thất bại cuối cùng của Liên Xô trong những nỗ lực biến Phần Lan trở thành một nước phụ thuộc hoặc là một nước Cộng hòa Xô viết[28].

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối cuộc chiến 105 ngày, không quân Liên Xô đã ném bom 690 thành phố, thị trấnlàng mạc. Máy bay của không lực lục quân bay 44.041 phi vụ, hải quân bay 8.000 phi vụ, ném hơn 25 ngàn tấn bom (55.000 quả), 41 ngàn khối bom cháy. Cường kích Hồng quân tấn công hơn 440 phi vụ. Không lực Hồng quân mất 314 máy bay do cao xạ Phần Lan, 207 chiếc khác bị hạ bởi các máy bay tiêm kích.

Tổn thất của dân thường Phần Lan do không kích là 956 người chết, 540 bị thương nặng, 1.300 bị thương nhẹ với 2.000 ngôi nhà bị phá hủy, 5.000 nhà khác bị hư hại. Trong cả cuộc chiến, Phần Lan phải hứng chịu thiệt hại nặng nề[27], với 25.000 người chết, 55.000 bị thương, 450.000 người mất nhà cửa. Nước Phần Lan đã "chảy máu từ muôn nghìn vết thương"[24].

Hồng quân Xô Viết đã không thực hiện được kế hoạch đề ra ban đầu và bị tổn thất lớn, do vậy vị thế của Liên Xô trên vũ đài quốc tế bị suy sụp.[37] Có thể thấy, dù nhỏ bé và trang bị kém nhưng quân Phần Lan đã cầm chân Hồng quân trong suốt cuộc chiến (lâu hơn hẳn dự kiến của Liên Xô[2]), do đó đây là một thắng lợi tinh thần cho họ và thực sự là một thảm họa đối với Liên Xô. Những thất bại của Liên Xô trong chiến tranh đã đem lại cho Stalin một dấu ấn không thể phai mờ, khiến ông phải đánh giá thấp hơn khả năng của quân đội Liên Xô. Ông trở nên hết sức thận trọng trước nguy cơ nước Đức của Hitler tấn công Liên bang Xô viết.[19][24][28] Trong khi người Phần Lan xem chiến tranh mùa đông là cuộc tranh đấu không còn lựa chọn nào khác của họ, để bảo vệ đất nước chống lại quân xâm lược[21], cuộc chiến đã mang lại cho Phần Lan sự đoàn kết dân tộc ở một mức độ cao, gọi là Hào khí của Chiến tranh Mùa đông[38]. Ngoài ra, vị thế quốc tế của Phần Lan cũng gia tăng.[2][27] Johan Nykopp - nhà ngoại giao hàng đầu của Phần Lan và là một thành viên của nhóm đàm phán tới Moskva vào tháng 11 năm 1939 đã cho rằng:[39]

Chiến tranh Mùa đông và Hòa ước đã cứu Phần Lan khỏi việc mất tên hoàn toàn trên bản đồ thế giới.

—Johan Nykopp

Dù sao, Liên Xô đã có thể đoạt được các khu vực chiến lược nhằm củng cố phòng thủ đất nước và lấy thêm nhiều nhà máy, công trình của Phần Lan trên vùng đất mới Karelia[1]. 30% sản lượng kinh tế Phần Lan đã rơi vào tay Liên Xô.[2] Thành thử, như nhiều sự kiện lịch sử khác, chiến tranh Liên Xô-Phần Lan được xem là câu chuyện sống động về cuộc tranh đấu của một nước nhỏ chống lại sự tấn công của một nước mạnh láng giềng, mà kết thúc như dự đoán là nước nhỏ thua và phải nhượng bộ cho nước mạnh.[39] Ngoài ra, cuộc chiến cũng đem lại một số bài học quý báu cho Hồng quân Xô Viết.[40] Song, hậu quả trực tiếp của cuộc Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan là sự cô lập của Liên Xô với các cường quốc, ngoại trừ Đức.[19] Sau khi Liên Xô chiếm dải đất Karelia của Phần Lan, họ đã tạo được cái đệm quan trọng cho Leningrad[2] nhưng cũng gây ra sự căm phẫn trong dân chúng và chính phủ Phần Lan, khiến họ bắt buộc phải từ bỏ chính sách trung lập và tham gia cùng với quân Đức tấn công Liên Xô trong Chiến tranh Xô-Đức năm 1941. Dù vậy sau khi giành lại các vùng đất bị mất năm 1940, Phần Lan đã đơn phương dừng lại, không tiếp tục tiến vào lãnh thổ Liên Xô và không tham gia nhiều vào bao vây Leningrad cùng phát xít Đức. Năm 1944, Hồng quân Liên Xô phản công và phải trả một giá đắt mới đánh bại được quân Phần Lan, đồng thời chiếm lại các vùng đất này. Phần Lan và Liên Xô sau đó đã ký kết hòa ước: Phần Lan công nhận chủ quyền của Liên Xô tại Karelia, trong khi Liên Xô đảm bảo sẽ không đưa quân vào Phần Lan và cũng không thuê cảng biển của Phần Lan nữa (do mối đe dọa từ Đức đã sắp kết thúc). Từ sau 1944, 2 nước có quan hệ ngoại giao khá tốt, Phần Lan là một trong số ít nước phương Tây duy trì quan hệ hợp tác kinh tế, kỹ thuật với Liên Xô trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh (Xem chi tiết: Mặt trận Phần Lan (Chiến tranh Xô-Đức))

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Quan điểm Liên Xô cho rằng cuộc chiến này là một phần trong cố gắng nhằm tạo một "vùng đệm" chuẩn bị cho cuộc chiến với Đức Quốc xã, đảm bảo chặn đứng các lối vào Liên Xô từ phía tây, với Phần Lan ở phía Bắc là con đường cuối cùng cần phải kiểm soát - sau khi Hồng quân đã thu hồi miền đông Ba Lan (vùng mà trước đó bị Ba Lan chiếm từ Nga vào năm 1920, ngày nay thuộc về Tây Belarus và Tây Ucraina) và sáp nhập các quốc gia vùng Baltic (Estonia, LatviaLitva). Tuy nhiên, một số sử gia phương Tây cho rằng các đòi hỏi về lãnh thổ chỉ là cớ Liên Xô dùng để ép Phần Lan vào "vòng ảnh hưởng" của mình[41][42] sau khi đã ký hiệp ước không tấn công với Đức Quốc Xã (Hiệp ước Xô-Đức) vào tháng 8 năm đó, có kèm theo một nghị định thư bí mật phân chia vùng ảnh hưởng tại Đông Âu, mà trong đó Phần Lan được đặt vào vùng ảnh hưởng của Liên Xô, được ký bổ sung.[43][44][45][46] Hội Quốc Liên (tiền thân của Liên Hiệp Quốc) đã lên án hành động của Liên Xô vào ngày 14 tháng 12 năm 1939 và trục xuất nước này ra khỏi tổ chức, cũng như kêu gọi các hội viên giúp đỡ Phần Lan bảo vệ đất nước.[47]. Sau cuộc chiến, với các điểm yếu được bộc lộ, quá trình hiện đại hóa quân đội Liên Xô đã được đẩy nhanh tốc độ vào năm 1940-1941.

Về sau, tổng thống Nga (nước thừa kế của Liên Xô) là ông Boris Yeltsin đã xin lỗi vì sự gây hấn của Liên Xô.[48] Vào năm 2001, tổng thống Nga sau đó là Vladimir Putin đã tiến xa hơn, khi đến mộ của thống chế Mannerheim để đặt vòng hoa[48] Tuy nhiên đến năm 2013, Tổng thống Nga Vladimir Putin trong cuộc gặp mặt các nhà sử học quân sự, tuyên bố rằng việc Liên Xô phát động chiến tranh là "chính đáng" nhằm "sửa chữa sai lầm" khi tiến hành hoạch định biên giới với Phần Lan sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, khi mà nước Nga Xô viết mới thành lập còn rất non yếu nên đã phải nhân nhượng đáng kể về lãnh thổ.[49].

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng T-26 của Hồng quân Liên Xô ở mặt trận Karelia tháng 12/1939

Năm 1942, nghệ sĩ Phần Lan Matti Jurva đã hát bài Njet Molotoff (Không Molotov) để lên án cuộc tấn công của Liên Xô.

Nguyên tác Lời Việt
Đoạn 1

Finlandia, Finlandia,
Sinne taas matkalla oli Iivana.
Kun Molotoffi lupas: "Juu kaikki harosii,
Huomenna jo Helsingissä syödään marosii".
Njet Molotoff, njet Molotoff,
Valehtelit enemmän kuin itse Bobrikov.

Phần Lan, Phần Lan
Ivan đã quay lại nơi này lần nữa
Molotov nói "nhanh thôi, mọi thứ sẽ OK
Ngày mai chúng ta sẽ ăn kem ở Helsinki"
Không Molotov, không Molotov
Ông nói dối nhiều hơn cả Bobrikov

Đoạn 2

Finlandia, Finlandia,
Mannerheimin linja oli vastus ankara.
Kun Karjalasta alkoi hirmu tulitus,
Niin loppui monen Iivanan puhepulistus.
Njet Molotoff...
Valehtelit enemmän kuin itse Bobrikov.

Phần Lan, Phần Lan
Phòng tuyến Mannerheim là hàng rào độc ác
Lửa giận bốc lên từ Karelia
Đã chấm dứt những lời ba hoa của Ivan
Không Molotov, không Molotov
Ông nói dối nhiều hơn cả Bobrikov

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ Douglas A. Phillips, Finland, trang 46
  2. ^ a ă â b c d đ e ê Bob Carruthers, The Wehrmacht Experience in Russia.
  3. ^ Palokangas (1999), pp. 299–300
  4. ^ Juutilainen & Koskimaa (2005), p. 83
  5. ^ Peltonen (1999)
  6. ^ Meltiukhov (2000): ch. 4, Table 10
  7. ^ Kantakoski, Pekka (1998). Punaiset panssarit: Puna-armeijan panssarijoukot 1918–1945. Hauho: PS-Elso. ISBN 951-98057-0-2. (Red tanks: the Red Army tank forces, 1918–1945) tr 260
  8. ^ Tomas Ries, Cold Will - The Defense of Finland, 1988, ISBN 0-08-033592-6, Potomac Books
  9. ^ Ohto Manninen, Talvisodan salatut taustat, 1994, ISBN 952-90-5251-0, Kirjaneuvos, từ tư liệu giải mật của Liên Xô, Manninen tìm thấy 12 sư đoàn bộ binh trước đó chưa được biết đã được lệnh ra mặt trận Phần Lan
  10. ^ Kurenmaa and Lentilä (2005)
  11. ^ Lentilä and Juutilainen (1999), p. 821
  12. ^ Finnish Defence College, Talvisodan historia 4, tr.406, 1991, ISBN 951-0-17566-8, WSOY, Số binh sĩ bị chết bao gồm cả 3.671 người bị thương nặng đã chết trong vài năm sau chiến tranh mà chưa hề ra viện.
  13. ^ Malmi (1999), p. 792
  14. ^ Kurenmaa, Pekka; Lentilä, Riitta (2005). "Sodan tappiot". Js Pj. p. 1152. (Casualties of the War)
  15. ^ Tillotson, H.M. (1993). Finland at peace & war 1918–1993. Michael Russell. ISBN 0-85955-196-2.
  16. ^ G.F. Krivosheev, Soviet Casualties and Combat Losses in the Twentieth Century, 1997, ISBN 1-85367-280-7, Greenhill Books
  17. ^ Kilin, Yuri (1999). "Puna-armeijan Stalinin tahdon toteuttajana". Ts Pj. (The Red Army's execution of Stalin's will) tr 381
  18. ^ Manninen, Ohto (1999b). "Venäläiset sotavangit ja tappiot". Ts Pj. (Russian prisoners of war and casualties) tr 810=811
  19. ^ a ă â Robert Edwards, The Winter War: Russia's Invasion of Finland, 1939-1940, các trang 11-15.
  20. ^ Chris Cook, John Stevenson, The Routledge Companion To World History Since 1914, trang 300
  21. ^ a ă â Olli Venvilainen, Finland In The Second World War: Between Germany and Russia, các trang 51-54.
  22. ^ Helen Rappaport, Joseph Stalin: A Biographical Companion, trang 307
  23. ^ Ries (1988), pp. 79–80
  24. ^ a ă â Martina Sprague, Swedish Volunteers in the Russo-Finnish Winter War, 1939-1940, trang 190
  25. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Edwards_28-29
  26. ^ a ă â b Lê Văn Quang, Lịch sử Quan hệ Quốc tế 1919-1945
  27. ^ a ă â b Kenneth D. McRae, Mika Helander, Sari Luoma, Conflict and Compromise in Multilingual Societies: Finland, các trang 73-74.
  28. ^ a ă â Albert L. Weeks, Assured Victory: How "Stalin the Great" Won the War, But Lost the Peace, các trang 8-9.
  29. ^ Trotter (2002), p. 58
  30. ^ Trotter (2002), p. 61
  31. ^ Hughes-Wilson, Snow and Slaughter at Suomussalmi, pp. 49-50
  32. ^ Muikku, Suomalaiset Panssarivaunut 1918–1997 p. 18
  33. ^ Kantakoski, Punaiset panssarit - Puna-armeijan panssarijoukot 1918-1945p. 286
  34. ^ Laaksonen (1999), p. 452
  35. ^ Helen Rappaport, Joseph Stalin: A Biographical Companion, trang 89
  36. ^ Helen Rappaport, Joseph Stalin: A Biographical Companion, trang 222
  37. ^ Edwards (2006), pp. 272–273
  38. ^ Soikkanen (1999), p. 235
  39. ^ a ă Yohanan Cohen, Small Nations in Times of Crisis and Confrontation, trang 323
  40. ^ Max Hastings, The Second World War: A World In Flames, trang 62
  41. ^ John Lukacs (2006). June 1941: Hitler and Stalin. Yale University Press. tr. 60. ISBN 0-300-11437-0. 
  42. ^ Bernd Wegner (1 tháng 1 năm 1997). From Peace to War: Germany, Soviet Russia, and the World, 1939-1941. Berghahn Books. tr. 85. ISBN 978-1-57181-882-9. 
  43. ^ Jason Edward Lavery (1 tháng 1 năm 2006). The History of Finland. Greenwood Publishing Group. tr. 120. ISBN 978-0-313-32837-4. 
  44. ^ Henrik Olai Lunde (5 tháng 9 năm 2008). Finland's War of Choice. Casemate Publishers. tr. 11–12. ISBN 978-1-61200-037-4. 
  45. ^ Bradley Lightbody (27 tháng 5 năm 2004). The Second World War: Ambitions to Nemesis. Routledge. tr. 51. ISBN 978-1-134-59273-9. 
  46. ^ Robert D. Lewallen (14 tháng 10 năm 2010). The Winter War. Alyssiym Publications. tr. 85. ISBN 978-0-557-73812-0. 
  47. ^ “USSR expelled from the League of Nations”. History.com. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2014. 
  48. ^ a ă Pami Aalto; Helge Blakkisrud; Hanna Smith (2008). The New Northern Dimension of the European Neighbourhood. CEPS. tr. 209–210. ISBN 978-92-9079-834-7. 
  49. ^ “Putin: Red Army Losses in Finland to Be Honored”. Associated Press. 14 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]