Chiến tranh Kavkaz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một cảnh trong cuộc Chiến tranh Kavkaz, của Franz Roubaud
Xây dựng Đường Quân sự Gruzia xuyên qua những vùng lãnh thổ tranh cãi là một yếu tố chủ chốt trong thắng lợi cuối cùng của Nga
Những người dân miền núi rời aul, của Pyotr Gruzinsky
Huy chương của Nga cho việc chinh phục Tây Kavkaz 1859-1864

Chiến tranh Kavkaz 1817–1864, cũng được gọi là Cuộc chinh phục Kavkaz của Nga[1] là một cuộc xâm lược vùng Kavkaz của đế quốc Nga chấm dứt với sự sáp nhập các vùng Bắc Kavkaz vào Nga. Nó bao gồm một loạt các hành động quân sự do người Nga tiến hành chống lại một số lãnh thổ và các nhóm bộ tộc ở Kavkaz gồm cả Chechnya, Dagestan, KarachayAdyghe (người Circassia) khi người Nga tìm cách mở rộng lãnh thổ xuống phía nam.[2]

Cuộc Chiến tranh Nga-Circassia, một cuộc xung đột giữa Nga và Circassia, là một phần của cuộc Chiến tranh Kavkaz.

Các lãnh thổ khác của Kavkaz (Gruzia, ArmeniaAzerbaijan) cũng bị sáp nhập vào Nga ở nhiều thời điểm trong thế kỷ 19 như kết quả của những cuộc chiến tranh giữa đế quốc Nga với OttomanBa Tư.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ba vị hoàng đế nước Nga đã gây ra cuộc chiến: Aleksandr I, Nikolai IAleksandr II. Các chỉ huy hàng đầu của Quân đội Nga là Aleksey Petrovich Yermolov giai đoạn 1816–1827, Mikhail Semyonovich Vorontsov giai đoạn 1844–1853 và Aleksandr Baryatinskiy giai đoạn 1853–1856. Các đại văn hào Mikhail Yuryevich LermontovLev Nikolayevich Tolstoy, người có được hầu hết hiểu biết và kinh nghiệm về chiến tranh cho cuốn sách Chiến tranh và hoà bình từ những trận đánh trong cuộc chiến tranh này, đã tham gia vào cuộc xung đột. Đại thi hào Nga Aleksandr Sergeyevich Pushkin đã đề cập tới nó trong bài thơ của mình Người tù Kavkaz (1821).

Cuộc xâm lược của Nga đã gặp phải sự kháng cự mãnh liệt. Giai đoạn đầu tiên chấm dứt khi Hoàng đế Aleksandr I qua đời và cuộc nổi dậy Tháng Chạp vào năm 1825. Khá ngạc nhiên là nó không mang lại nhiều thành công, đặc biệt khi so sánh với thắng lợi mới đó của quân Nga trước Đại quân của Hoàng đế Napoléon Bonaparte.

Giai đoạn 1825 – 1833 không có nhiều hành động, bởi quân Nga đang tham gia vào các cuộc chiến tranh với Thổ Nhĩ KỳBa Tư. Sau những thắng lợi to lớn trong cả hai cuộc chiến, quân Nga nối lại những trận đánh tại vùng Kavkaz. Họ một lần nữa lại gặp sự kháng cự, đáng chú ý nhất là dưới sự lãnh đạo của Ghazi Mollah, Gamzat-bekHadji Murad. Imam Shamil tiếp bước họ. Ông lãnh đạo những người dân miền núi từ năm 1834 cho tới khi bị Dmitry Milyutin bắt giữ năm 1859. Năm 1845, các lực lượng của Shamil đã có thắng lợi ấn tượng nhất của mình khi họ chống lại được một cuộc tấn công lớn của Nga dưới sự lãnh đạo của Vương công Vorontsov.

Trong cuộc Chiến tranh Krym, người Nga đã tìm kiếm một thoả thuận ngừng chiến với Shamil nhưng cuộc xung đột lại tiếp tục năm 1855. Chiến tranh tại vùng Kavkaz cuối cùng chấm dứt trong giai đoạn 1856–1859, khi một đội quân hùng mạnh gồm 250.000 người dưới sự chỉ huy của Tướng Baryatinsky tiêu diệt cuộc kháng chiến của những người dân miền núi.

Cuộc Chiến tranh Kavkaz chấm dứt với việc Nga chinh phục Bắc Kavkaz và Shamil thề nguyền trung thành với Hoàng gia Nga và chuyển tới sống tại Trung Nga. Sự chấm dứt chiến tranh được tuyên bố ngày 2 tháng 6 năm 1864 (21 tháng 5 Lịch cũ), 1864, bằng bản tuyên ngôn của hoàng đế Nga là Aleksandr II. Trong số những sự kiện diễn ra sau đó, một trang bi kịch trong lịch sử của những dân tộc bản địa vùng Kavkaz là việc Muhajir hoá, hay di chuyển dân cư của dân cư Hồi giáo vào đế quốc Ottoman. [cần dẫn nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Baddeley, John F. The Russian conquest of the Caucasus. London, New York, Bombay, Calcutta: Longmans, Green and Co., 1908. Reprinted Mansfield Centre, Conn.: Martino Pub., 2006. ISBN 1-57898-576-5.
  2. ^ Charles King The ghost of freedom: a history of the Caucasus Oxford University Press US, 2008 ISBN 0-19-517775-4 ISBN 978-0-19-517775-6

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dubrovin, N. tiếng Nga: (Дубровин Н.Ф.) История войны и владычества русских на Кавказе', volumes 4–6. SPb, 1886–88.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]