Mikhail Yuryevich Lermontov

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mikhail Lermontov

Mikhail Lermontov năm 1837
Sinh 15 tháng 10, 1814
Cờ của Nga Moskva, Nga
Mất 27 tháng 7, 1841
Cờ của Nga Kavkaz, Nga
Công việc Nhà thơ, nhà văn
Quốc gia Cờ của Nga Nga
Thể loại chủ nghĩa lãng mạn
Bảo tàng Mikhail Yuryevich Lermontov ở Taman

Mikhail Yuryevich Lermontov (tiếng Nga: Михаи́л Ю́рьевич Ле́рмонтов, 15 tháng 10, 181427 tháng 7, 1841) – nhà thơ, nhà văn Nga. Là nhà thơ lớn của Nga sau Aleksandr Pushkin.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Mikhail Yuryevich Lermontov sinh ở Moskva trong một gia đình có gốc gác từ Scotland. Mẹ mất sớm nên Lermontov được bà ngoại nuôi dạy. Từ nhỏ đã thông thạo tiếng Pháp, tiếng Đức. Năm 1825 bà ngoại đưa Lermontov đi về vùng Kavkaz. Ký ức tuổi thơ trước phong cảnh thiên nhiên của vùng Kavkaz in đậm trong nhiều sáng tác của ông. Năm 1827 trở lại Moskva, Lermontov vào học tại học xá Moskva, đến năm 1830 học xá trở thành gymnazy thì nghỉ học, sau đó vào học Đại học Moskva nhưng hai năm sau lại nghỉ học. Theo lời khuyên của một người bạn, Lermontov vào học trường võ bị Sankt Peterburg. Sau khi tốt nghiệp đi về vùng Kavkaz phục vụ. Thời gian ở Kavkaz, trong một vụ xích mích với Martynov, người trước đây từng là bạn học ở trường võ bị, đã quyết định đấu súng và bị giết chết.

Thơ ca[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đời của Lermontov chỉ vỏn vẹn có 27 năm nhưng di sản thơ ca mà ông để lại cho đời vô cùng to lớn. Lermontov giữ một vị trí đặc biệt trong thơ ca Nga.

Nhà phê bình Belinsky viết: "Trong thơ của Lermontov là tất cả sức mạnh, là tất cả yếu tố để làm nên cuộc đời và thơ ca: một sức mạnh bền vững của tâm hồn, sự nhún nhường của than vãn, mùi hương của lời cầu nguyện, một sự khích lệ như sóng gió ba đào, một nỗi buồn tĩnh lặng, một nỗi trầm tư dịu dàng, những lời thở than kêu hãnh, những tiếng kêu la tuyệt vọng, vẻ đằm thắm bí huyền của tình cảm, những ước mong táo bạo không thể ngăn kìm, sự trong trắng trinh nguyên, những bệnh tật của xã hội, những bức tranh của thế giới, những lời quở trách của lương tâm, sự hối hận đến mủi lòng, sự thổn thức của đam mê và những giọt nước mắt lặng lẽ rót vào sóng gió của con tim, sự hoan hỉ của tình, lo âu của ngày ly biệt, niềm vui của ngày gặp mặt, sự coi khinh vẻ đơn điệu của đời thường, sự khát khao điên cuồng của vẻ hân hoan, một lòng tin cháy bừng như ngọn lửa và nỗi khổ của sự trống vắng trong tâm hồn, tiếng kêu than xua đi cảm giác về một cuộc đời đang chết lặng, chất độc của phủ nhận, vẻ lạnh lùng của mối nghi ngờ, ác quỉ ngạo mạn và đứa bé ngây thơ, vẻ ngang tàng của kẻ rượu chè và cô gái ngây thơ trong trắng – tất cả, tất cả trong thơ này: và bầu trời, và mặt đất, và thiên đàng, và địa ngục". Với vẻ phong phú về ý tưởng và mô-típ kể trên, có thể chia sáng tác của Lermontov thành 2 giai đoạn: giai đoạn thứ nhất đến năm 1835 và giai đoạn thứ hai là những năm còn lại của cuộc đời thơ ngắn ngủi. Ở giai đoạn đầu Lermontov sáng tác bằng trí tưởng tưởng, bằng cảm nhận về thế giới xung quanh mình: sự đấu tranh không khoan nhượng của hai mặt đối lập giữa trời và đất, qua đó nhìn ra nguyên nhân của bi kịch cuộc đời mình. Giai đoạn thứ hai nhà thơ đã gần hơn với thực tế qua sự với tiếp xúc nhiều với những con người và đời sống xã hội. Như một người theo thuyết nhị nguyên luận, nhà thơ cảm nhận vẻ hai mặt của con người "trong khoảng trung gian kinh hoàng giữa hai cuộc đời".

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Nga:

I. Издания

  • "Герой Нашего Времени", части I-II, изд. И. Глазунова (СПб., 1840);
  • "Стихотворения М. Лермонтова" (СПб., 1840);
  • "Сочинения Лермонтова", тома I-II, изд. А. Смирдина (СПб., 1847);
  • "Сочинения Лермонтова, приведенные в порядок и дополненные С.С. Дудышкиным", тома I-II, изд. А.И. Глазунова (СПб., 1860);
  • Сочинения Лермонтова", под ред. П.А. Ефремова, изд. "Новое Время" (СПб, 1880).
  • "Жизнь и творчества Лермонтова", П.А. Висковатова (М., 1889-1891).
  • "Сочинения М.Ю. Лермонтова", под редакцией и с примечаниями И.М. Болдакова, тома I-V, (М., 1891).
  • "Полное собрание сочинений Лермонтова", под ред. Арс. И. Введенского, тома I-IV, (СПб., 1903).
  • "Полное собрание сочинений М.Ю. Лермонтова", под ред. Д.И. Абрамовича, *"Академическая библиотека русских писателей", издание Академии Наук (СПб., 1910-1912).

II. Биографические сведения а) Ранние годы. "Воспоминания А.П. Шан-Гирея" ("Русское Обозрение", 1890, кн. VIII); "Заметки и воспоминания художника-живописца - М.Е. Меликова" ("Русская Старина", 1896, кн. VI); "Воспоминания" А.М. Миклашевского ("Русская Старина", 1884, кн. XII); П.Ф. Вистенгофа ("Исторический Вестник", 1884, кн. V); "Записки" Я.А. Хвостовой (рожд. Сушковой), изд. М.И. Семевским (СПб., 1871; критический отзыв о них сестры автора Е.А. Ладыженской, "Русский Вестник", 1872, кн. II). b) Годы юнкерства и военная служба. "Воспоминания Миклашевского"; А. Меринский ("Русский Мир", 1872, No. 205); Н.С. Мартынов "Русский Архив", 1893, II [8]; "Исторический очерк Николаевского Кавалерийского училища" (СПб., 1873); В. Потто "История 44-го драгунского Нижегородского полка" (т. IV); Д.В. Ракович "Тенгинский полк на Кавказе" (Тифлис, 1900). с) Литературно-общественные отношения. "Записки" А.О. Смирновой (ч. II, СПб., 1897); "Воспоминания" Н.М. Сатина ("Почин". Сборник Общества любителей российской словесности на 1895 г.); М.Н. Лонгинова ("Русская Старина", 1873, кн. III и IV); графини Е.П. Ростопчиной ("Русская Старина", 1882, кн. IX); Фр. Боденшедта ("Современник", 1861, кн. II, стр. 326); И.И. Панаева ("Современник", 1861, кн. II, стр. 656-663); графа В.А. Соллогуба ("Исторический Вестник", 1886, кн. IV-VI); князя А.В. Мещерского ("Русский Архив", 1900, No. 9, стр. 80-81); А.Я. Головачевой-Панаевой ("Исторический Вестник", 1889, кн. II, стр. 313). d) Последние дни жизни Лермонтова: "Воспоминания" Э.А. Шан-Гирей ("Русский Архив", 1889, No. 6, стр. 315-320); "Новое Время", 1881, No. 1983; "Нива", 1885, No. 20; "Русский Архив", 1887, No. 11; "Север", 1891, No. 12; "Русское Обозрение", 1891, кн. IV, стр. 707-712); князя А.И. Васильчикова ("Русский Архив", 1872, No. 1); Н.П. Раевского ("Нива", 1885, No. 7, 8); "Дело следственной комиссии о поединке Лермонтова с Н.С. Мартыновым" ("Русский Архив", 1893, кн. II [8], стр. 595-606); "Дело о погребении Лермонтова" ("Русское Обозрение", 1895, кн. II, стр. 841-876).

Một vài bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Парус
 
Белеет парус одинокой
В тумане моря голубом!..
Что ищет он в стране далекой?
Что кинул он в краю родном?..
 
Играют волны - ветер свищет,
И мачта гнется и скрыпит...
Увы! он счастия не ищет
И не от счастия бежит!
 
Под ним струя светлей лазури,
Над ним луч солнца золотой...
А он, мятежный, просит бури,
Как будто в бурях есть покой!
 
Выхожу один я на дорогу
 
Выхожу один я на дорогу;
Сквозь туман кремнистый путь блестит;
Ночь тиха. Пустыня внемлет богу,
И звезда с звездою говорит.
 
В небесах торжественно и чудно!
Спит земля в сияньи голубом...
Что же мне так больно и так трудно?
Жду ль чего? жалею ли о чём?
 
Уж не жду от жизни ничего я,
И не жаль мне прошлого ничуть;
Я ищу свободы и покоя!
Я б хотел забыться и заснуть!
 
Но не тем холодным сном могилы...
Я б желал навеки так заснуть,
Чтоб в груди дремали жизни силы,
Чтоб дыша вздымалась тихо грудь;
 
Чтоб всю ночь, весь день мой слух лелея,
Про любовь мне сладкий голос пел,
Надо мной чтоб вечно зеленея
Тёмный дуб склонялся и шумел.
Cánh buồm
 
Một cánh buồm cô đơn đang dần trắng
Trong màn sương của nước biển ngời xanh
Buồm đi tìm chi ở nơi xa vắng?
Và tại vì sao từ giã quê mình?…
 
Những ngọn sóng chơi đùa – cơn gió thét
Và cột buồm đang cót két, uốn cong…
Than ôi – buồm chẳng đi tìm hạnh phúc
Và cũng không chạy trốn nỗi vui mừng!
 
Phía dưới buồm, nước màu xanh sáng tỏ
Phía trên buồm ánh nắng có màu vàng…
Còn buồm nổi loạn, cầu xin bão tố
Tựa hồ trong bão tố có bình yên!
 
Tôi một mình bước ra con đường nhỏ
 
Tôi một mình bước ra con đường nhỏ
Qua màn sương con đường đá ánh lên
Đêm tĩnh lặng. Đồng hoang nghe lời Chúa
Và những ngôi sao to nhỏ tự tình.
 
Giữa bầu trời diệu kỳ và trang trọng
Đất ngủ yên trong ánh sáng màu xanh
Có điều chi làm cho tôi đau đớn?
Có điều chi tôi mong đợi cho mình?
 
Không còn đợi điều chi từ cuộc sống
Tháng ngày qua không một chút tiếc thương
Tôi đi tìm tự do và tĩnh lặng
Tôi chỉ mong giá được ngủ và quên!
 
Nhưng không bằng giấc mơ trong mồ lạnh
Dù vẫn mong được ngủ vậy muôn đời
Để trong ngực mê man nguồn nhựa sống
Để lặng yên con sóng giữa lòng tôi.
 
Để suốt đêm, suốt ngày tôi nghe được
Về tình yêu một giọng hát ngọt ngào
Để trên đầu tôi muôn đời xanh mướt
Cây sồi đen ngả cành xuống lao xao.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]