Trận El Alamein thứ hai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận chiến El Alamein thứ hai
Một phần của Chiến dịch Sa mạc Tây trong
Chiến tranh thế giới thứ hai
El Alamein 1942 - British infantry.jpg
24 tháng 10, 1942
Hình chiến binh Úc trang tư thế tấn công
do Len Chetwyn dàn dựng và chụp.
.
Thời gian 23 tháng 10 - 3 tháng 11, 1942
Địa điểm El Alamein, Ai Cập
Kết quả Quân Đồng Minh thắng trận
Tham chiến
Đồng Minh:
Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Anh Quốc
Cờ của Úc Úc
Cờ của New Zealand Tân Tây Lan
Cờ của Cộng hòa Nam Phi Nam Phi
Cờ của Ấn Độ Ấn Độ
Cờ của Pháp Pháp
Cờ của Hy Lạp Hy lạp
Khối Trục:
Cờ của Đức Đức Quốc Xã
Cờ của Ý Phát xít Ý
Chỉ huy
Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Bernard Montgomery
Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Harold Alexander
Cờ của Đức Erwin Rommel
Cờ của Đức Georg Stumme
Cờ của Ý Ettore Bastico
Lực lượng
220000 lính
1100 xe tăng[1]
750 máy bay chiến đấu (530 serviceable)
116000 lính[1]
559 tanks[2]
275 Đức (150) & 400 Ý (200)
Tổn thất
2350 tử vong [3]
8950 bị thương[3]
2260 mất tích[3]
500 xe tăng bị hủy[2]
97 máy bay chiến đấu [3]
111 súng [3]
Đức: 1149 tử vong [4]
3886 bị thương[4]
8050 bị bắt [4]
64 máy bay [3]
Italian: 971 tử vong [4]
933 bị thương[4]
22071 bị bắt [3]
20 aircraft [3]
.

Trận El Alamein thứ hai diễn ra trong vòng 20 ngày từ 23 tháng 10 đến 11 tháng 11 năm 1942 ở gần thành phố duyên hải El Alamein của Ai Cập, và chiến thắng của Đồng Minh tại đây đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của Chiến dịch Sa mạc Tây thời Chiến tranh thế giới thứ hai. Trận này nối tiếp trận El Alamein thứ nhất trước đó đã chặn đứng đà tiến quân của phe Trục vào lãnh thổ Ai Cập, và đến tháng 8 năm 1942, trung tướng Bernard Montgomery đã tiếp nhận quyền chỉ huy Tập đoàn quân số 8 Anh của tướng Claude Auchinleck.

Có thể coi chiến thắng của quân Đồng Minh trong trận này là một trong những thắng lợi quyết định của cuộc chiến, góp phần xoay chuyển thế trận sang chiều hướng có lợi cho họ.[5] Nó đã làm thay đổi toàn diện tình hình chiến sự tại Mặt trận Bắc Phi và chấm dứt mối đe dọa đối với Ai Cập, kênh đào Suez, cũng như khả năng các mỏ dầu ở Trung ĐôngBa Tư của quân đội phe Trục qua ngả Bắc Phi. Từ góc độ tâm lý, El Alamein đã vực dậy tinh thần phe Đồng Minh, vì đây là chiến dịch tấn công lớn đầu tiên chống lại quân Đức mà quân Đồng Minh phương Tây giành được một thắng lợi quyết định kể từ khi chiến tranh bùng nổ ở châu Âu năm 1939.

Mục lục

Bối cảnh[sửa]

Xem thêm thông tin: Trận El Alamein thứ nhất

Vào đầu tháng 7 năm 1942, sau khi chiến thắng tại Gazala, Tập đoàn quân thiết giáp châu Phi (Panzerarmee Afrika) bao gồm Quân đoàn châu Phi của Đức và bộ binh Đức, Ý và các đơn vị cơ giới dưới sự chỉ huy của tướng Erwin Rommel tiến sâu vào đất Ai Cập, đe dọa đường vận tải và sức sống còn của quân đội Anh ở kênh đào Suez. Tướng Claude Auchinleck chỉ huy tập đoàn quân 8 của Anh phải rút lui về 50 dặm bên ngoài thành phố Alexandria. Vị trí của khu này dễ phòng thủ vì có sa mạc che chở và các chiến đoàn xe tăng của Rommel không thể vượt qua những hố cát sâu rộng. Tập đoàn quân 8 nhiều lần ráng phản công nhưng đều thất bại vì Rommel kiên trì giữ vững tư thế để chờ tiếp viện. Đến cuối tháng 7 thì quân Anh phải ngưng phản công để chờ tăng cường lực lượng. Qua tháng 8, thủ tướng Anh Winston Churchill sang Cairo họp cùng tham mưu trưởng là Alan Brooke quyết định tìm người thay Auchinleck chỉ huy tập đoàn quân 8. Tướng William Gott được chọn nhưng ông ta chết khi máy bay của ông bị quân Đức bắn rơi. Tướng Bernard Montgomery do đó được cử làm chỉ huy trưởng, cùng với tướng tham mưu trưởng mới là Harold Alexander.

Trong lúc này quân Đức cũng gặp nhiều vấn đề vì công tác vận tải rộng và xa quá mức hỗ trợ từ hậu phương. Đã thế lại có tin tình báo cho biết lực lượng tiếp viện hùng hậu của quân Đồng Minh đang kéo đến. Trước tình hình này, Rommel quyết định tấn công quân Đồng Minh mặc dầu quân đội của ông chưa chuẩn bị xong. Vào ngày 30 tháng 8 năm 1942 Rommel mở đầu cuộc tấn công gồm hai mũi dùi thiết giáp từ Alam Halfa. Tuy cuộc tấn công này thất bại, Rommel tìm hiểu được nhiều về tình hình chiến lược, và trong khi đang trong thế chưa thua, ông bắt đầu củng cố lực lượng và tăng cường công tác gài mìn và kéo dây kẽm gai, để phòng khi quân của mình lọt vào tư thế phải rút lui.

Về phía quân Anh, hai tướng Alexander và Montgomery cũng nhận thức được khả năng kháng cự của Rommel nên họ tiếp tục chịu dậm chân tại chỗ trong nhiều tuần lễ để củng cố lực lượng. Vấn đề chính không chỉ là thắng một trận, mà còn phải còn đủ sức đánh dấn tới để đẩy lui quân khối Trục ra khỏi Phi châu. Trong những trận đụng độ tại Bắc Phi trước đó, bên thắng chưa bao giờ có khả năng tiến tới và đánh tan quân địch; và bên thua lúc nào cũng có thể rút lui để hồi phục đánh tiếp.

Sau 6 tuần lễ củng cố lực lượng, tập đoàn quân 8 của Anh Quốc đã chuẩn bị xong và sẵn sàng tấn công. Quân của Montgomery gồm 200.000 lính, 1.000 xe tăng, tấn công quân của Rommel gồm 100.000 lính và 500 xe tăng.

Kế hoạch của quân Đồng Minh[sửa]

Với chiến dịch Lightfoot (nhẹ chân), Montgomery hy vọng đẩy quân theo hai ngã hành lang qua bãi mìn của của quân phe Trục phía bắc mặt trận. Một ngã theo hướng tây-nam băng qua sư đoàn quân New Zealand vào trung tâm dãy đồi Miteirya Ridge, ngã kia theo hướng tây, khoảng 2 dặm về phía bắc phần cuối của Miteirya Ridge, và chia hai sư đoàn 51 của quân Úc.[6] Sau đó lực lượng thiết giáp sẽ tấn công và đánh bại xe tăng của quân Đức. Những cuộc tấn công dụ địch tại trung tâm và phía nam của rặng đồi Miteirya sẽ góp phần đưa đẩy lực lượng Đức về phía bắc. Montgomery dự tính chỉ đánh 12 ngày trong 3 giai đoạn: đột nhập, tác chiến giành giật từng khu vực và phá vỡ sức phản kháng của địch quân.[7]

Montgomery dự tính cho đêm đầu tiên của cuộc tấn công sẽ đưa 4 sư đoàn bộ binh của quân đoàn XXX Anh tiến đánh theo đội hình hàng ngang dài khoảng 25 km (biệt danh dàn trận Oxalic) với mục tiêu đập vỡ tuyến phòng thủ của Đức. Kỹ sư công binh có nhiệm vụ khai phá và rà mình, vạch hai ngã tấn công hang lang qua bãi mìn - qua đó sư đoàn thiết giáp của quân đoàn X do Herbert Lumsden chỉ huy sẽ tiến sang chiếm tuyến đường Pierson, lập căn cứ quấy nhiễu đối phương, đồng thời bảo vệ mạng tây cuộc hành quân bộ binh. Sau đó theo kế hoach này thì sư đoàn thiết giáp sẽ tân công sâu vào thuyến phòng thủ của Đức và nẳm giữa hai tuyến đường về Rahman, chống lại thiết giáp của địch.[6]

Năm 1941, Anh bắt đầu sản xuất máy rà mìn do kỹ sư quân đội Józef Kosacki người Ba Lan sáng chế tại Scotland. Năm trăm máy được đem sang Tập đoàn quân 8 trong cuộc tấn công quân đội Đức. Máy này có khả năng rà phá mìn với tốc độ 200 mét mỗi giờ, gấp đôi loại máy cũ.[8][9]

Nhiều tháng kế đó, quân liên hiệp Anh thao diễn tập dợt khắp nơi để gây hoang mang và đánh lạc hướng địch quân - gọi là Chiến dịch Bertram. Vào tháng 9, quân Anh lập một ụ đất đẻ bỏ rác và đồ phế thải dưới màn ngụy trang ở một vùng đất phía bắc chiến trường. Quân Đức dò tìm thấy nhưng khi biết chỉ là bãi rác thì không để ý đên nữa. Quân Anh từ từ mỗi đêm sau đó đem nhiên liệu, vũ khí, đạn dược ra tiếp tế vào đó, thay thế đồ phế thải - quân Đức vẫn không hay biết. Ở phía nam thì quân Anh cho làm xe tăng giả (bằng gỗ thô nằm trên các xe Jeep nhỏ) và lập đường ống dẫn dầu giả để làm nghi binh. Trong khi đó, xe tăng thật sự đang đồn quân tại phía bắc thì lại được ngụy trang thành xe chở hàng.[10]

Kế hoạch của quân phe Trục[sửa]

Vị trí quân sự trước trận chiến

Sau tổn thất trong cuộc tấn công không thành tại Alam el Halfa, lực lượng phe Trục kiệt quệ trầm trọng. Quân Đức-Ý bị căng thẳng và kiệt sức vì không đủ tiếp viện, phải sinh tồn bằng những nguyên vật liệu bắt được từ phe Đồng Minh. Trong khi tiếp viện bên Đồng Minh được tăng cường từ Úc, New Zealand, Ấn Độ và Hoa Kỳ, quân Đức tại châu Phi không chẳng nhận được gì vì bộ tư lệnh trung ương Đức lúc bấy giờ đang đổ hết nhiệt huyết vào chiến trường Xô-Đức.

Đã vậy, Rommel lại còn ngã bệnh. Đầu tháng 9, ông xin về Đức nghỉ bệnh, tướng thiết giáp Georg Stumme được triệu từ mặt trận Xô-Đức sang châu Phi thay thế Rommel. Ngày 23 tháng 9 Rommel hoạch định chiến lược phòng thủ mặt trận Bắc Phi, một lần nữa nhấn mạnh với tư lệnh Đức về sự thiết yếu của tập đoàn quân thiết giáp Panzerarmee.[11].

Rommel biết chắc rằng một khi đầy đủ lực lượng, quân Anh và Đồng Minh sẽ mở cuộc tổng tấn công. Ông cầu mong trận Stalingrad sớm chấm dứt để Đức có khả năng đem quân đánh xuống mạng Trung Đông và chia bớt lực lượng Đồng Minh. Trong tình hình hiện thời, quân Đức dưới tay ông chỉ còn cách nằm chờ quân Anh đến đánh. Rommel đặt hai vòng đai phòng thủ gồm nhiều ô đất hình hộp, phía trước mỗi ô có một đội quân canh giữ, phía sau là một bãi mìn (những ô đất này được quân Anh gọi là Vườn Quỷ (tiếng Anh: "Devil's Gardens"), tạo khó khăn cho xe tăng Anh chạy qua và xoay xở. Lực lượng phòng thủ chính yếu nằm khoảng 2 km phía sau những ô đất mìn này.[12] Quân Đức cài khoảng nửa triệu mìn, phần lớn là loại mìn chống tăng Teller, còn lại là mìn chống lính.[7][13] (một số lớn là mìn của Anh bị Đức tịch thu trong trận đánh tại Tobruk trước đó). Để dụ địch tiến vào, quân Ý dùng dây kéo trục bánh xe chạy ngang dọc các bãi đất trước khi gài mìn - tạo ảo giác là có xe chạy qua khu này rồi.[13] Một nguy hại của kế hoạch này là hỏa lực thiết giáp Đức-Ý bị phân tán mỏng. Phía sau, Rommel chỉ còn các đơn vị cơ động (sư đoàn 90 khinh binh Đức và sư đoàn Trieste Ý).[14]

Rommel không muốn chạm trán với quân Thiết giáp Anh trên chiến địa mở rộng vì quân đội của ông không còn đủ lực lượng và nhiên liệu để phản kháng. Ông phải cố gắng tạo thuyến phòng thủ vững chắc để có thể dồn sức đánh nhanh và lấp kín những chỗ hở mỗi khi bị quân Anh chọc thủng. Quân Đức-Ý củng cố sức mạnh phòng thủ bằng cách xen kẽ đội hình đóng quân. Rommel thường khi vẫn tập trung lực lượng thiết giáp vào một nơi nhưng vì không biết quân Đồng Minh sẽ mở cuộc tấn công ở đâu, ông phải chia hai ra đoàn thiết giáp, một ở phía bắc (sư đoàn 15 thiết giáp Đức và sư đoàn Littorio Ý) và một ở phía nam (sư đoàn 21 thiết giáp Đức và sư đoàn Ariete Ý). Hai nhánh này có nhiệm vụ di chuyển chống đỡ và nhanh chóng lấp kín các kẽ hở bị quân Anh chọc thủng. Rommel hy vọng là khi quân Anh kéo sang, quân Đức-Ý đủ khả năng di chuyển nhanh hơn quân Đồng Minh và tập trung mạnh mẽ hơn vào những trọng tâm giao chiến. Tuy nhiên ông cũng nghi ngại vấn đề khan hiếm nhiên liệu.[15]

Diễn tiến trận El Alamein thứ hai[sửa]

Trận đánh được chia thành 5 giai đoạn: đột nhập (23 - 24 tháng 10), phá vụn (24 - 25 tháng 10), phản công (26 - 28 tháng 10), Chiến dịch Supercharge (1 - 2 tháng 11) và vượt thoát (3 - 7 tháng 11). Trong 3 ngày 29 - 31 tháng 10, cuộc chiến khựng lại và không nằm trong những mốc thời điểm đáng ghi.

Giai đoạn 1: Cuộc đột nhập[sửa]

Lính Ý nghỉ mệt quanh xe thiết giáp

Trước khi thực sự giao chiến, lữ đoàn 24 Úc đánh lạc hướng địch bằng cuộc công phá dữ dội vào sư đoàn 15 thiết giáp Đức.[16] Sau đó, vào lúc 9 giờ 40 phút tối ngày 23 tháng 10 [17] trong đêm sáng trăng yên tĩnh, Chiến dịch Lightfoot bắt đầu. Đồng loạt 882 súng lớn nã pháo bắn 40 dặm sang chiến tuyến của địch quân.[18] Sau 20 phút pháo kích liên tục, đại bác bắt đầu được cho nhắm kỹ vào các mục tiêu chiến thuật để hỗ trợ đoàn lục quân tiến sang.[19] Cuốc công pháo tiếp tục trong 5 tiến rưỡi đồng hồ, với mỗi đại bác bắn ra trên dưới 600 viên.

Chiến dịch Lightfoot mang tên nhẹ chân là vì chiến thuật cho quân lính chạy bộ tràn sang bãi mìn trước. Mìn chống tăng khi bị đạp lên thường sẽ không nổ vì trọng lượng của người lính quá nhẹ. Sau đợt lính bộ là đợt kỹ sư công binh chạy sang rà và tháo gỡ mìn, mở những lối đi bề ngang khoảng 7.3 mét vừa đủ rộng cho xe tăng chạy qua. Các toán công binh phải tháo mìn cho tuyến đường dài 8 km băng qua các ô đất Vườn Quỷ. Công tác này quá khó khăn và không hoàn thành được vì bãi mìn của Đức quá sâu rộng.

Lúc 10 giờ tối, 4 sư đoàn lục quân của quân đoàn XXX bắt đầu tiến sang nhắm vào trung tâm của lực lượng phòng thủ của quân phe Trục. Khi đến bãi mìn đầu tiên, xe rà mìn và toán thám thính công binh kéo sang tháo mìn và lập đường đi cho xe tăng. Tuy chậm hơn dự tính, đến 2 giờ sáng, 500 xe tăng đầu tiên chuyển xích tiến sang. Đến 4 giờ sáng, xe tăng đầu tiên chạy vào bãi min làm tung cát bụi lên mờ mịt và những đơn vị đi sau không thể thấy đường đi - làm trị trệ cuộc hành quân.

Cùng lúc, sư đoàn xe tăng 7 Anh và một lữ đoàn Lực lượng Pháp Tự do thuộc quân đoàn XIII mở cuộc tấn công dụ địch ở phía nam chiến trường với mục đích kềm hãm sư đoàn 21 Đức và sư đoàn Ariete Ý tại Jebel Kalak. Trong khi đó, bên trái có quân Pháp Tự do chiếm Qaret el Himeimat và đồng bằng el Taqa.[6] Bên phải có lữ đoàn 131 thuộc sư đoàn lục quân 44 phòng vệ. Cuộc tấn công này bị lính dù phe Trục (sư đoàn 185 dù, lữ đoàn dù của Hermann-Bernhard Ramcke và toán quân Keil) phản kích dữ dội.[20][21] Công tác tháo mìn và tạo đường đi cho xe tăng bị trì hoãn vì bãi mìn quá sâu rộng và quân phe Trục bắn trả liên tục. Rạng sáng ngày 24, đường đi qua bãi mìn vẫn chưa làm xong. Hai lữ đoàn 22 và 4 thiết giáp nhẹ do đó không thể tiến sang Deir el Munassib ở phía bắc như dự tính.[6]

Xa hơn về phía bắc, sư đoàn 50 lục quân Anh bị hai sư đoàn PaviaBrescia và lữ đoàn lính dù 185 Đức cầm chân.[22] Sư đoàn 4 lục quân Ấn Độ hai lần tấn công sườn đồi Ruweisat để phân tán lực lượng đối phương.[23]

Giai đoạn 2: Cuộc đập vụn[sửa]

Sáng thứ bảy 24 tháng 10 bộ chỉ huy Đức được tin báo cáo quân địch đánh sang trên chiến tuyến rất rộng nhưng các đơn vị phòng thủ còn đủ sức cầm cự. Tướng Stumme ra mặt trận dò xét nhưng khi căn cứ ông đang tham quan bị pháo kích của đối phương, Stumme căng thẳng quá nên chết vì nhồi máu cơ tim. Trung tướng Ritter von Thoma phải tạm thời lên nắm chỉ huy quân Đức. Hitler truyền lệnh cho Rommel phải ra khỏi giường bệnh trở về Bắc Phi. Rommel trên đường sang Phi ghé Roma đòi hỏi tư lệnh Ý phải cho tiếp viện thêm nhiên liệu cho chiến trường Bắc Phi. Lực lượng thiết giáp Đức từ ngày 25 tháng 11 đó kết hợp đồng nhất với quân Ý (với tên gọi Deutsch-Italienische Panzerarmee).[24]

Rạng sáng Montgomery nghe máy bay thám thính báo cáo đội hình quân phe Trục không có thay đổi gì mới. Ông liền ra lệnh sư đoàn New Zealand cùng sư đoàn 10 thiết giáp tiến xa hơn rồi vòng về phía nam tấn công rặng đồi Miteirya. Sư đoàn 9 Úc phải dồn hết sức đập vụn lực lượng Đức-Ý trong vòng một đêm. Ở phía nam sư đoàn 7 thiết giáp phải tiếp tục công kích và tiến vào bãi mìn, và nếu cần có thể kéo thêm hỗ trợ của sư đoàn 44..[25]

Trong khi chờ đợi toán công binh phá mìn làm đường, cuộc tấn công ngừng lại. Thiết giáp nằm yên trên chiến tuyến Oxalic[7] nhường cho không quân Đồng Minh oanh tạc địch quân, nội trong một ngày có hơn 1000 phi đoàn bay sang bắn phá quân Đức-Ý.[25]

Quân thiết giáp Đức phản kích đánh sư đoàn 51 Lục quân Anh mờ sáng hôm sau nhưng bị cầm chân. Đến 4 giờ chiều chẳng bên nào tiến thoái gì được. Lúc hoàng hôn, quân phe Trục gồm sư đoàn 15 thiết giáp Đức và sư đoàn Littorio lục quân Ý quay trở iại tấn công sư đoàn 1 thiết giáp Anh. Đây là cuộc so tài xe tăng quy mô đầu tiên của trận El Alamein thứ hai. Hơn 100 chiếc xe tăng tham chiến, một nửa bị bắn hỏng, nhưng sau cùng không bên nào chiếm được thế thắng.[cần dẫn nguồn]

Tối đến, sư đoàn 10 thiết giáp tấn công rặng đồi Miteirya nhưng thất bại. Công tác gỡ mìn tại đây chậm quá mức dự tính của kế hoạch. Lữ đoàn 8 thiết giáp đi đầu đang chờ đội gỡ mìn dọn đường thì bị máy bay phe Trục oanh tạc, phải bỏ đội ngũ chạy tán loạn. Khi chấn chỉnh được hàng ngũ thì bị trễ kế hoạch và mất liên hệ với pháo binh. Do đó khi sáng ra thì lữ đoàn xe tăng này nằm phơi lộ liễu, bị địch quân dễ dàng phát hiện và nhắm bắn tơi bời. Trong khi đó, lữ đoàn 24 thiết giáp kéo đi được khá xa, tưởng rằng đã đến mục tiêu là tuyến Pierson - báo cáo thành công với chỉ huy nhưng sau đó mới biết chưa hẳn đến mục tiêu.[26]

Ở phía nam chiến trường, quân đoàn XIII cũng không khá gì hơn. Lữ đoàn 131 lục quân thuộc Sư đoàn 44 mở đường qua bãi mìn cho Lữ đoàn 22 Thiêt giáp tiến sang nhưng bị địch quân bắn phá dữ quá phải bỏ chạy, thiệt mất 31 xe tăng.[26]

Tối đến không quân Đồng Minh thả 300 tấn bom vào đoàn thiết giáp phía bắc của Rommel. Để tránh không cho máy bay Đức phản kích, các phi đạo của quân Đức cũng bị dội bom dữ dội hơn.[26]

Ngày D + 2: Chủ nhật, 25 tháng 10 năm 1942[sửa]

Bernard Law Montgomery

Cuộc tấn công đầu tiên ngưng lại vào ngày Chủ Nhật. Quân Đồng Minh mở được lối vào bãi mình rộng 10 km sâu 8 km, chiếm được phía đông nam rặng đồi Miteirya. Bên kia quân Đức-Ý đào hào chiến lược nằm cố thủ giữ vững vị trí. Trận đánh lúc này coi như bất phân thắng bại. Montgomery kiểm soát tình hình và nhận thấy nếu tiếp tục theo kế hoạch cho quân New Zealand đánh từ đồi Miteirya về phía nam sẽ đem lại nhiều tổn thất. Ông quyết định đổi chiến thuật ra lệnh Quân đoàn XXX một mặt giữ đồi Miteirya một mặt cho Sư đoàn 9 Lục quân Úc đánh lên phía bắc. Đồng thời, Sư đoàn 1 Thiết giáp kè theo bên trái của quân Úc đánh về phía tây-bắc. Phần còn lại của mặt trận tiếp tục canh phòng và giữ vững vị trí.[27] Thay đổi của thế trận chú trọng vào vùng thung lũng cát hình quả thận và Tel el Eisa cho đến khi chọc thủng được phòng thủ của Đức.

Sáng hôm sau Sư đoàn 15 thiết giáp Đức và Sư đoàn Littorio Ý mở cuộc tấn công cố gắng tìm sơ hở của quân Đồng Minh nhưng thất bại. Đến chiều thì Đồng Minh tấn công. Sư đoàn 51 Anh mở 3 đợt công kích vào thung lũng quả thận nhưng do đêm tối quá không ai biết rõ vị trí của mình như thế nào. Trong tình thế hỗn loạn, hơn 500 lính Đồng Minh tử trận.[cần dẫn nguồn] Trong khi đó quân Úc tấn công cứ điểm 29,[28] một đài quan sát pháo binh của Đức nằm trên ngọn đồi cao 6 thước phía nam Tel el Eisa. Mục đích của cuộc tấn công này là bao vây quân Đức (Sư đoàn 164 khinh binh) và một số đơn vị lục quân Ý đang dồn quân gần bờ biển.[29] Lữ đoàn 26 Úc tấn công vào giữa khuya dưới hỗ trợ của pháo binh và 30 xe tăng của Sư đoàn 40 Thiết giáp Hoàng gia Anh. Tuy quân phe Trục phản công kịch liệt, quân Úc chiếm được cứ điểm này và bắt được 240 tù binh.[30] Trong nhiều ngày sau đó, quân phe Trục ráo riết đến đánh để chiếm lại cứ điểm quan trọng này nhưng thất bại.

Không quân Đồng Minh tiếp tục thả bom khắp nơi và phá hủy nhiều căn cứ cơ sở của Đức, trong đó có 14 tấn máy bay Stuka tại Sidi Haneish. Các chỗ đáp của máy bay Đức cũng bị không quân Đồng Minh tuần tra và khống chế.[30]

Giai đoạn 3: Phản công[sửa]

Ngày D + 3: Thứ Hai, 26 tháng 10 năm 1942[sửa]

Xe tăng và lục quân Đức tại Bắc Phi

Rommel vừa trở lại đất Phi lập tức kiểm điểm tình hình chiến cuộc. Ở phía bắc, quân Đức bị Đồng Minh pháo kích và oanh tạc gây tổn thất rất nặng nề. Sư đoàn Trento Ý mất phân nửa lực lượng, binh lính và súng pháo, sư đoàn 164 Khinh binh mất hai tiểu đoàn. Hai sư đoàn 15 Panzer và Littorio tuy cầm cự được với lực lượng thiết giáp Đồng Minh, cũng phải chịu nhiều thiệt hại đáng kể.[24]. Những đơn vị khàc cũng không khá gì hơn, lính tráng chỉ lãnh được nửa phần lương thực và tiếp tế. Xăng thì chỉ còn đủ xài cho 3 ngày.[cần dẫn nguồn]

Rommel dự đoán hướng tấn công duy nhất là phía bắc mặt trận[31] và quyết chí phải giành cho được cứ điểm Point 29. Ông cho sư đoàn 15 Thiết giáp và sư đoàn Khinh kỵ 164 cùng một số đơn vị của quân đoàn XX Ý tấn công cứ điểm này lúc 3 giờ chiều nhưng thất bại vì Đồng minh bắn pháo dữ dội quá.[32] Cùng ngày, Rommel quyết định đẩy hết lực lượng còn lại ra trận. Đây là một mốc ngoặc quan trọng của trận El Alamein. Sư đoàn 21 Panzer và một phần của sư đoàn Ariete tiến lên phía bắc yểm trợ Panzer 15 và Littorio. Sư đoàn 90 Khinh binh đang đóng tại tại El Daba phải tiến lên. Sư đoàn 101 Trieste Cơ động kéo từ Fuka lên thay sư đoàn 90. Sư đoàn 21 và Ariete tiến quân chậm chạp vì bị pháo kích liên tục.[33]

Tại thung lũng quả thận, quân Anh không giành được thế chủ động mặc dù quân địch thiếu xe tăng. Mỗi đợt tấn công đều bị Đức dùng súng chống tăng đẩy lui. Thế trận giằng co khá lâu. Churchill nghe được phải gào lên : "Is it really impossible to find a general who can win a battle?" (Tìm một vị tướng có khả năng đánh thắng trận có thật là chuyện không thể làm được?)[34]

Tình hình ở vùng biển có vẻ khả quan hơn cho quân Anh. Phi đội 42 Không quân Anh bắn chìm thuyền chở dầu Proserpina của Đức tại Tobruk - cắt đứt đường tiếp tế nhiên liệu của Rommel.

Montgomery lúc này lo ngại vì thế chủ động của cuộc tấn công đang bị sa sút. Ông quyết định dàn mỏng quân trên chiến tuyến, đem nhiều đơn vị về củng cố lực lượng đi sau để chuẩn bị mở cuộc tấn công tiếp theo mạnh hơn. Sư đoàn New Zealand (trong đó có lữ đoàn 9 bọc thép), Sư đoàn thiết giáp 10 và 7 được cho về thủ phía sau chiến tuyến.[35]

Ngày D + 4: Thứ Ba, 27 tháng 10 1942[sửa]

Rommel và sĩ quan tham mưu

Trận chiến tập trung tại Tel el Aqqaqir và thung lũng quả thận, đầu mũi tấn công của Sư đoàn 1 Thiết giáp. Quân Đức thiết lập căn cứ phòng thủ tại vùng đất cách đó 1,5 km về phía tây bắc (gọi là "Woodcock") và về phía tây nam (gọi là "Snipe"). Lúc 11 giờ khuya ngày 26 tháng 10 quân Anh đẩy hai tiểu đoàn của Lữ đoàn 7 Cơ động tấn công hai cứ điểm này. Kế hoạch dự tính đưa Lữ đoàn 2 thiết giáp băng qua phía bắc Woodcock và Lữ đoàn 24 thiết giáp tiến về phía nam Snipe, tạo thế gọng kìm kẹp lại sáng ngày hôm sau. Cuộc tấn công này có pháo binh của quân đoàn X và XXX yểm trợ.[36]

Cả hai tiểu đoàn lò mò trong đêm tối không định rõ được vị trí và đến sáng thì một tiểu đoàn không đến kịp mục tiêu, phải đào hào nằm ụ cách Woodcock khá xa. Tiểu đoàn tấn công Snipe may mắn hơn, đến được mục tiêu và chỉ gặp phản kháng yếu ớt của địch quân.[37]

Lúc 6 giờ sáng Lữ đoàn 2 thiết giáp bắt đầu tiến lên và gặp phải lực lượng phòng thủ khá mạnh của Đức, không thể nào liên kết được với lực lượng đang nằm ụ bên ngoài Woodcock. Lữ đoàn 24 thiết giáp gặp ít cản trở và thiết lập liên lạc với tiểu đoàn tại Snipe (sau một trận pháo kích nhầm vào quân bạn một thời gian!). Nhân dịp quân Đồng Minh lúng túng vì nhầm lẫn và đội ngũ lộn xộn, thiết giáp của Littorio và súng chống tăng của 15 Panzer được dịp cầm chân quân Đồng Minh - Lữ đoàn Súng trường kéo súng chống tăng đến tiếp ứng nhưng cũng không làm sao phá được tuyến phòng thủ của quân phe Trục.[37]

Rommel nhân lúc này quyết định đẩy đoàn quân hậu thuẫn ra trận. Sư đoàn Khinh binh 90 tấn công tái chiếm cứ điểm Point 29, trong khi Sư đoàn 21 Panzer tấn công vùng Snipe.[37] Quâ Đồng Minh bắn pháo vào Snipe suốt buổi. Đến 4 giờ chiều Rommel mở cuộc tấn công quy mô. Xe tăng Đức và Ý tiến lên. Bên kia, Lữ đoàn Súng trường đem 19 súng chống tăng 6 cân ra chống cự. Tuy nhiều lần bị xe tăng địch công phá, lực lượng Đồng Minh phá hủy được 22 xe tăng Đức và 10 xe tăng Ý.[38] Quân Trục rút lui. Quân Anh cũng rút nhưng phạm lỗi lầm là không cho quân lên thay thế tối hôm đó. Thiếu tá Anh Victor Buller Turner được trao huy chương Victoria Cross cho chiến công tại Snipe.[38] Trong số 6 súng chống tăng của Tiểu đội 239 đưa đến tiếp ứng trận đánh này, chỉ có một còn hoạt động được.[39]

Trận đụng độ tại Snipe làm một cuộc tranh chấp rất kịch liệt và được coi là quan trọng nhất của Trung đoàn Sussex trong toàn trận El Alamein.[37] Lucas-Phillips, trong hồi ký Alamein ghi nhận:

"Khí hậu sa mạc nóng quay cuồng. Các toán lính canh ụ súng và tiểu đội nằm bẹp trong những chiến hào và giếng cạn, mồ hôi chảy như suối trên những khuôn mặt đóng đầy bụi. Mùi hôi thối xông lên ghê khiếp. Ruồi bay từng đàn như mây đen đến bu quanh các xác chết, hố xí, và làm phiền các vết thương của binh sĩ. Rải rác toàn khu vực là các xác xe tăng và vận tải đang cháy, khắp nơi là một làn khói mù mịt và bụi tung lên theo chất nổ và tiếng gào của súng lớn."[40]

Khi phát hiện được hai cứ điểm Woodcock va Snipe vẫn chưa lọt vào tay quân nhà, Tập đoàn quân 8 đưa Lữ đoàn Lục quân Vận tải ra chiếm đóng. Lúc 1 giờ rưỡi sáng, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn Sussex Hoàng gia đến đóng tại vùng đất tưởng là Woodcock. Mồ sáng, Lữ đoàn 2 Thiết giáp kéo đến tiếp ứng nhưng chưa kịp liên lạc với Tiểu đoàn 4 thì bị quân địch đột kích, chịu thiệt hại rất cao.[41] Trong khi đó, hai tiểu đoàn khác của Lữ đoàn Lục quân Vận tải đến đóng tại Snipe nhưng đến hôm sau mới phát giác là đã đóng nhầm chỗ, khá xa mục tiêu.[42]

Sư đoàn Khinh binh 90 Đức tấn công cừ điểm Point 29 ngày 27 tháng 10 nhưng chưa kịp giao chiến với quân Úc thì đã phải lui quân vì bị pháo kích quá mãnh liệt.[38]

Ngày D + 5-6: Thứ Tư - Thứ Năm, 28-29 tháng 10 1942[sửa]

Ngày 28 tháng 10, sư đoàn 15 và 21 Panzer cố sức tấn công chiến tuyến của Quân đoàn 10 nhưng bị bắn phá kịch liệt và đẩy lui. Chiều đến, hai sư đoàn này lại chấn chỉnh đội ngũ tấn công nữa nhưng bị dội bom tơi bời không còn sức thiết lập đội hình được nữa.[42] Montgomery ra lệnh cho các đơn vị tại hai cứ điểm Woodcock-Snipe lập căn cứ phòng thủ. Toàn quân còn lại dồn lên phía bắc. Tối 28 sáng 29 tháng 10 Sư đoàn 9 Úc được giao kế hoạch xuất quân. Lữ đoàn 20 Lục quân và Trung đoàn 40 Úc từ cứ điểm Point 29 sẽ tiến về phía tây bắc tạo căn cứ cho Lữ đoàn 26 Lục quân và Trung đoàn 46 Úc đánh về phái đông bắc, tấn công một trọng điểm của Đức tại vùng đất phía nam tuyến đường sắt mang tên "Thompson's Post" - sau đó sẽ phải vượt qua đường sắt ra con lộ gần biển và theo kế hoạch tiến về hướng đông nam ra phía sau lực lượng Đức đang đóng gần bờ biển nhô vào trong chiến tuyến của Đồng Minh. Một mũi tấn công khác do lữ đoàn thứ ba của sư đoàn Úc sẽ đánh quân Đức từ phía đông nam.[43]

Xe thiết giáp Valentine

Lữ đoàn 20 đạt mục tiêu dễ dàng nhưng Lữ đoàn 26 gặp khó khăn. Vì đường hành quân xa, lính phải ngồi ké xe thiết giáp Valentine của Trung đoàn 46. Nhưng sau đó đụng phải mìn và súng chống tăng dữ quá, lính phải nhảy xuống đi bộ. Xe tăng chạy nhanh hơn lính và sau đợt công kích của Trung đoàn 125 Panzer Đức và Trung đoàn 7 Bersaglieri Ý hai đơn vị Úc bị mất liên lạc.[43] Quân Úc thiệt mất 200 lính trong trận đánh này.[44] Nhận thấy tình hình bất lợi để kịp chấn chỉnh hàng ngũ, bộ chỉ huy ra lệnh ngưng cuộc tấn công.[43]

Các toán lính chống tăng Ý chiến đấu anh dũng và hầu hết đều bị thương hay chết, 20 thương binh Ý bị bắt làm tù binh ngày hôm sau. Rommel viết trên bảng ghi công quân Ý thuộc trung đoàn Bersaglieri: Binh sĩ Đức tại ấn tượng cho thế giới, nhưng trung đoàn Ý Bersagliere tạo ấn tượng cho binh sĩ Đức.[45]

Chiều hôm đó, quân Anh còn 800 xe tăng, trong quân Đức chỉ còn 148 chiếc và quân Ý 187 chiếc. Đã thế, tàu chở dầu Luisiano tiếp viện nhiên liệu cho quân Đức-Ý tại châu Phi bị máy bay Wellington của quân Đồng Minh đánh bom chìm ngoài khơi Hy Lạp.[46] Rommel nghe tin bàn với các tham mưu của ông: "Chúng ta không thể nào tránh né địch quân được nữa. Không còn đủ xăng để xoay xở. Chỉ còn cách duy nhất là chiến đấu cho đến cùng tại El Alamein."[47]

Nhờ cuộc hành quân ra bờ biển của quân Úc, Montgomery biết được Rommel đã đẩy lực lượng hậu thuẫn là Sư đoàn Khinh binh 90 ra trận, và ông nghĩ Rommel sẽ tiên đoán Tập đoàn quân 8 sẽ đánh tại vùng này. Montgomery liền đặt kế hoạch đánh chỗ khác, xa hơn về phía nam - cách Point 29 khoảng 4 km. Theo kế hoạch cuộc tấn công sẽ bắt đầu tối 31 tháng 10 sáng 1 tháng 11. Ông cũng vẫn tạo nghi binh bằng cách ra lệnh cho quân Úc tiếp tục tăng cường và hành quân ở khu bờ biển phía bắc.[48]

Trung sĩ William Henry Kibby
Tiểu đoàn 2/48 Úc

Ngày D + 7-9: Thứ Sáu-Chủ Nhật, 30 tháng 10 - 1 tháng 11 1942[sửa]

Tối 30 tháng 10 quân úc tiếp tục kế hoạch, tấn công lần thứ 3 để ra đến đường lộ. Tuy đụng phải nhiều phản kích của Đức, lực lượng Úc chiếm được kiểm soát của đường lộ và đường sắt, đưa địch quân vào thế cô lập. Rommel thấy vậy liền đưa các đơn vị thuộc Sư đoàn 21 Panzer đến đánh liên tiếp nhiều đợt tại "Thompson's Post". Cuộc đụng đố rất kịch liệt và nhiều phen đánh giáp lá cà giữa quân Đức và Úc. Quân Đức đánh tuy mạnh nhưng không giành được lợi thế. Trung sĩ Úc William Henry Kibby lập chiến công sau cùng: ông một mình len lõi vào trận tuyến địch và ném 3 quả lựu đạn phá được một ổ súng máy của Đức. Ông bị trúng đạn chết khi vừa hoàn thành nhiệm vụ. Kirby được tưởng niệm bằng huân chương Victoria Cross.[49] Chủ Nhật 1 tháng 11 Rommel tấn công quân Úc lần nữa nhưng sau một cuộc chiến đấu tàn khốc và đẫm máu, cả hai bên thiệt hại nặng nề nhưng không tạo được thay đổi gì cho chiến lược của mặt trận. Tuy nhiên Rommel tạo được liên lạc với Đơn vị 125 Panzer tại đầu mũi dùi.[50]

Rommel lúc này biết ông đang thua trận. Nhiên liệu càng ngày càng khan hiếm vì cả hai tàu TripolinoOstia chở dầu và đạn dược tiếp viện cho quân Đức đều bị bắn chìm ngoài khơi Tobruk. Rommel phải nhờ Kesselring cho không quân Đức chở xăng từ Crete. Không quân Đồng Minh theo đó bắn phá liên tục các phi đoàn chở dầu và các phi cảng tại Crete.[46]

Rommel lúc này đang dự tính mở cuộc rút lui 81 km về phía tây cho nghỉ quân tại Fuka. Trớ trêu là khi quân Đức vừa bỏ chạy xong thì nhiên liệu lại được máy bay của Kesselring đem đến Benghazi.[51]

Giai đoạn 4: Chiến dịch Supercharge[sửa]

Ngày D + 10: Thứ Hai, 2 tháng 11 1942[sửa]

Chiến dịch Supercharge (tấn công siêu cường) mở màng lúc 1 giờ sáng ngày 2 tháng 11 với mục địch phá hủy lực lượng thiết giáp, buộc địch quân phải tiến ra chiến đấu trực diện, đồng thời phá kho xăng, chận tiếp viện - tạo rối loạn trong quân phe Trục. Chiến dịch Supercharge quy mô nhất trong trận El Alamein. Mục tiêu chiến lược là cứ điểm Tel el Aqqaqir, căn cứ của quân Đức, cách thung lũng quả thận khoảng 3 dặm (4,8 km) về phía tây bắc và nằm trên tuyến đường Rahman.[52]

Xe tăng Anh tiến lên sau khi bãi mìn đã được lục quân khai phá

Chúng ta ai cũng biết khi xe tăng tấn công một bức tường súng pháo phải giống như cuộc tấn công của kỵ binh tại Balaclava, đúng ra phải là do lính bộ làm chủ chiến trường. Nhưng ở đây chúng ta không có lính bộ. Vì thế quân thiết giáp chúng ta cứ phải làm đại thôi.

Trung tướng Bernard Freyberg[53]

Lực lượng tiên phong của chiến dịch là Sư đoàn 2 New Zealand do Bernard Freyberg chỉ huy. Freyberg trước đó không muốn nhận nhiệm vụ này vì quân của ông vẫn còn hồi phục sau nhiều thiệt hại chiến trường. Nhưng bộ tư lệnh Đồng Minh tăng cường cho ông 4 đơn vị tác chiến quân đội Anh là Lữ đoàn 151 Lục quân (Durham), Lữ đoàn 152 (Seaforth and Camerons) và Lữ đoàn 133 (Sussex Lorried). Ngoài ra Lữ đoàn 9 Thiết giáp Anh cũng theo đi hỗ trợ.[54] Tương tự như chiến dịch Lightfoot, kế hoạch đặt ra gồm 2 lữ đoàn lính bộ (151 bên phài, 152 bên trái) với yểm trợ của xe tăng của trung đoàn 8 và 50 Hoang gia Anh tiến lên rà và vô hiệu hóa bãi mìn. Sau khi lấn sâu vào được 4.000 yard (3.700 m), Lữ đoàn 9 Thiết giáp sẽ tiến qua bãi mìn dưới loạt pháo kích phủ đầu, đâm sau 2 km nữa để chọc thủng phòng tuyến của Đức trên tuyến đường Rahman. Sư đoàn 1 Thiết giáp sẽ theo sau tấn công lực lượng hậu thuẫn của Rommel.[54]

Supercharge bắt đầu bằng cuộc oanh tạc kéo dài 7 tiếng đồng hồ vào hai thành phố Tel el Aqqaqir và Sidi Abd el Rahman, tiếp theo là một cuộc pháo kích dài 4 tiếmg rưỡi - 360 đại bác bắn 15.000 quả đạn.[cần dẫn nguồn] Hai lữ đoàn bộ binh tấn công lúc 1 giờ 5 phút sáng ngày 2 tháng 11 và đạt được mục tiêu quân sự nhưng chịu tổn thất đáng kể.[55] Tiểu đoàn 28 Maori NZ chiếm được vị trí bảo vệ sườn phải của mũi dùi tấn công, bên trái tiểu đoàn 133 Lorried cũng thành công. Quân công binh New Zealand rà và gỡ phá mìn tạo 5 tuyến đường cho xe tăng và xe bọc thép chạy qua và phá rối đường dây liên lạc của quân Đức-Ý.[55]

Lữ đoàn 9 Thiết giáp gồm 130 xe tăng xuất phát từ El Alamein từ 8 giờ chiều ngày 1 tháng 11 - khi đến trận tiền thì chỉ còn 94 chiếc còn đủ sức chiến đấu[55] Theo kế hoạch thì lữ đoàn này phải tấn công Tel el Aqqaqir lúc 5 giờ 45 phút chiều, sau cuộc pháo kích phủ đầu, nhưng vì chưa kịp chấn chỉnh hàng ngũ nên phải đình hoãn lại 30 phút.[56]. Lúc 6 giờ 15 chiều ngày 2 tháng 11, nửa tiếng trước khi mặt trời lặn, 3 trung đoàn xe tăng tiến vào tầm đạn của địch quân.[57]

Chuẩn tướng Currie trước đó đã có ý e ngại không muốn cho lữ đoàn của mình tấn công với trận tuyến quá rộng mà lại không có đủ tiếp vận và hậu thuẫn và có thể thiệt hại 50% lực lượng.[53] Freyberg trả lời rằng: "Bernard Montgomery sẵn biết sẽ có nguy hiểm và chấp nhận trường hợp mất hết 100% lực lượng của Lữ đoàn 9 Thiết giáp Anh để chọc thủng địch quân, nhưng với sức yểm trợ phía sau của Sư đoàn 1 Thiết giáp Anh, xét lại mức độ hiểm nghèo thì không đến nỗi quá cao như thế".[53]

Quân Đức và Ý đem súng chống tăng PaK 38Cannone da 47/32 M35 cùng 24 súng cừ khôi 88 ly Flak [53] ra bắn và đội xe tăng tiến đến từ phía đông khi mặt trời đang lên.[58] Xe tăng Đức chen vào giữa hai trung đoàn Warwickshire Yeomanry và Royal Wiltshire Yeomanry bắn phá gây nhiều tổn thất cho quân Anh. Quân Anh đến tấn công khu vực Folgore phải rút lui vì bị địch quân dùng bom Molotov, moọc-chê và loại súng cổ lỗ sĩ 47 ly của Ý bắn túi bụi.

Nếu quân Thiết giáp Anh từng mang nợ với Lục quân của Tập đoàn quân 8, mối nợ này đã được trả bằng máu và sự hy sinh anh dũng của Lữ đoàn 9 thiết giáp.

Bernard Montgomery[59]

Tuy bị súng và pháo của quân phe Trục gây nhiều thiệt hại, đoàn xe tăng của quân Đồng Minh cứ từ từ tiến tới. Trong khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, quân Anh hạ được 35 ụ súng và bắt hàng trăm tù binh. Lữ đoàn 9 Thiết giáp đem 94 xe tăng ra tấn công và sau cuộc công phá chỉ còn 24 chiếc còn chạy được (tuy một số lớn sau đó sửa chữa được[57]) và trong 400 lính xe tăng, 230 chết, bị thương hay bị bắt.[60]

Lữ đoàn 9 chịu hy sinh tổn thất nặng nề như thế nhưng vẫn không thực hiện được trọng trách đục thủng lỗ lớn trong phòng tuyến địch để Sư đoàn 1 Thiết giáp có thể chạy qua. Tối đó, Sư đoàn 1 kéo đến và tàn quân của Lữ đoàn 9 nhập đoàn hành quân. Lữ đoàn 2 Thiết giáp theo sau và đến sáng ngày 2 tháng 11 Lữ đoàn 8 kéo đến tăng cượng lực lượng - cả đoàn kéo về phía tây nam.[57]

Lúc 11 giờ sáng ngày 2 tháng 11 quân còn lại của hai Sư đoàn 15 và 21 Panzer cùng Sư đoàn Littorio Thiết giáp Ý mở cuộc phản công đánh Sư đoàn 1 và Lữ đoàn 9 của Anh. Quân Anh đào hào cầm cự, đem pháo và súng chống tăng ra bắn trả. Quân phe Trục thua chạy, thiệt mất 100 xe tăng.[60]

Quân đoàn X Anh không đạt được mục tiêu chọc thủng phòng tuyến địch nhưng tiêu diệt được khá nhiều xe tăng của phe Trục. Tuy số xe tăng bị phá hủy của hai bên gần như tương đương, nhưng so tỉ số thì quân Anh chỉ mất một phần, trong khi quân của Rommel hầu như mất gần hết. Afrika Korps mất 70 chiếc trong khi quân Anh thiệt mất khoảng 64 - chưa kể thiệt hại của Lữ đoàn 9.[57] Trận đánh này sau đó được mang biệt danh "Đập nát thiết giáp Đức" ("Hammering of the Panzers").

Chiều hôm đó, Lữ đoàn 133 Lorried và Lữ đoàn 151 Lục quân dưới chỉ huy của Sư đoàn 51 Lục quân Anh đánh vào Snipe và Skinflint để tạo căn cứ cho các cuộc tấn công tiếp theo sau. Quân ý thuộc Sư đoàn Trieste bị pháo phủ đầu dữ quá không đủ sức chống cự và quân Anh chiếm được hai cứ điểm khá dễ dàng và tổn thất không nhiều.[61]

Tối ngày 2 tháng 11, Montgomery lại thay đổi đội hình chiến lược - đem các lữ đoàn lục quân 151, 154, 5 (Ấn Độ) và 5 (New Zealand) vào hậu thuẫn cho Quân đoàn XXX chuẩn bị cho cuộc tấn công kế tiếp. Sư đoàn 7 Thiết giáp được cho tăng cường vào Quân đoàn X. Lữ đoàn 4 Thiết giáp Nhẹ của Quân đoàn XXX được đẩy về phía nam.[62]

Súng 88 ly Flak (Đức)

Bên kia, tướng Đức von Thoma báo cáo với Rommel rằng ông chỉ còn 30 chiếc xe tăng đủ sức chiến đấu, lực lượng súng pháo chỉ còn một phần ba.[63] Rommel quyết định lui quân về Fuka để bảo toàn lực lượng. Ông gọi Sư đoàn 132 Ariete Thiết giáp Ý từ phía nam lên tiếp ứng cho Quân đoàn XX Cơ động Ý tại Tel el Aqqaqir. Các đơn vị cơ động của Rommel (Quân đoàn XX, Afrika Korps, Sư đoàn Khinh binh 90 và Sư đoàn 19 Flak) phải bắt đầu chiến thuật vừa đánh vừa rút lui, các đơn vị khác thì tùy cơ ứng biến rút lui để không bị địch quân gây tổn thất.[63]

Ngày D + 11: Thứ Ba, 3 tháng 11 1942[sửa]

Lúc 1 giờ sáng ngày 3 tháng 11 Lữ đoàn 7 Cơ động Anh mở cuộc tấn công đường Rahman nhưng vì nghe lệnh quá trễ không kịp thăm dò tình trước lại gặp địch quân phản kích dữ dội nên phải bỏ cuộc. Chỉ huy Anh ra lệnh cho Lữ đoàn 2 Thiết giáp cùng Lữ đoàn 133 Vận tải và Lữ đoàn 8 Thiết giáp tiến ra đánh về phía tây nam. Hai bên đánh nhau suốt buổi. Lữ đoàn 2 Thiết giáp bị Afrika Korps và Sư đoàn Littorio cầm chân không tiến lên được. Lữ đoàn 8 Thiết giáp cũng gặp khó khăn khi đụng phải các ụ súng chống tăng và xe tăng của Sư đoàn Ariete Ý.[64]

Giai đoạn 5: Vượt thoát[sửa]

Ngày 2 tháng 11 Rommel báo cáo với Hitler: "Sau 10 ngày chiến đấu lực lượng đoàn quân đã kiệt quệ đến độ không còn khả năng chống cự hữu hiệu đợt tấn công sắp tới của quân địch. Vì xe cộ khan hiếm, cuộc di tản thứ tự của các đơn vị không cơ giới hầu như không thể thi hành được. Trong hoàn cành như thế này, chúng ta phải, ít nhất, nghĩ đến việc sa thải dần dần đoàn quân."[65] Lúc 1 giờc rưỡi chiếu ngày 3 thán g11 Rommel nhận được thư trả lời của Hitler:

"Gửi đến Thống chế Rommel. Với lòng tin yêu vào khả năng chỉ huy của ông và sự can đảm của quân đội Đức-Ý dưới chỉ huy của ông, nhân dân Đức và cá nhân tôi vẫn luôn theo dõi cuộc đấu tranh and dũng tại Ai Cập. Trong hoàn cảnh ông đang thấy mình lâm vào ở đó, chẳng còn suy nghĩ nào khác hơn là phải cố giữ, không nhường một tấc đất và ném hết tất cả súng ống và nhân lực vào cuộc chiến. Lực lượng không quân sẽ được Bộ Tư lệnh Miền Nam gửi đến tiếp ứng. Duce (Lãnh tụ Ý - Mussolini) và Tư lệnh Ý cũng đang cố gắng hết sức tiếp ứng để ông tiếp tục chiến đấu. Địch quân của ông chắc cũng gần cạn hết lực lượng. Đây không phải là lần đầu trong lịch sử lòng kiên quyết sẽ chiến thắng đại quân thù địch. Đối với lính của ông, hãy cho họ thấy chẳng còn con đường nào hơn chiến thắng hay chết. Adolf Hitler"[66]

Chúng tôi hoàn toàn chưng hửng, và lần đầu tiên trên chiến trường Bắc Phi chính tôi cũng không biết tôi phải làm cái gì. Một nỗi chán chường phủ lên khi chúng tôi truyền chỉ thị của chỉ huy tối cao đến các đơn vị phải cố sức giữ vững vị trí.

Thống chế Rommel[66]

Mussolini cũng gửi một thư tương tự cho chỉ huy quân lực Ý tại Bắc Phi. Rommel nhận biết cấp trên đòi hỏi chuyện không thể làm được. Nhưng sau đó ông liền nghĩ cách xoay xở tình hình. Quân đoàn X và XXI Ý và Sư đoàn 90 khinh binh Đức được trọng trách giữ vững vị trí trong khi Afrika Korps rút lui 6 dặm về phía tây trong đêm 3 tháng 11. Quân đoàn XX Ý và Sư đoàn Ariete kéo vào thay thế. Sau đó Rommel điện cho Hitler, hứa sẽ giữ vững chiến tuyến.[67]

Trong lúc này không quân Anh liên tục đánh phá quân phe Trục. Trong vòng 24 tiếng đồng hồ ngày 3 tháng 11, 1.208 phi vụ ném 396 tấn bom vào quân địch.[68] Tối ngày 3 tháng 11 Montgomery ra lệnh đánh tuyến đường Rahman. Lữ đoàn 152 và trung đoàn 8 RTR đánh vào địa điểm 2 dặm về phía nam Tel el Aqqaqir. Lữ đoàn 5 Ấn Độ đánh vào vùng đất 4 dặm về phía nam. Sáng hôm sau thì tới lượt Lữ đoàn 154 đánh thẳng vào Tel el Aqqaqir. Đợt tấn công của Lữ đoàn 152 gặp trở ngại vì thiếu thông tin, không rõ tình hình địch quân nên bị đánh lui, không đạt được mục tiêu chiến thuật. Hai lữ đoàn kia thành công dễ dàng vì phần lớn địch quân đã rút lui.[69]

Ngày D + 12, Thứ Tư 4 tháng 11 1942[sửa]

Rommel và tham mưu tại Bắc Phi năm 1942

Ngày 4 tháng 11 Tập đoàn quân 8 Anh bắt đầu đặt kế hoạch truy đuổi quân phe Trục. Sư đoàn 1 và 7 Thiết giáp được lệnh tiến về phía bắc trong khi Sư đoàn 2 New Zealand cùng 2 lữ đoàn lục quân vận tải, Lữ đoàn 9 Thiết giáp, Lữ đoàn 4 Thiết giáp Nhẹ tiến về phía tây, tạo thế gọng kìm đánh dồn quân địch đang chạy về hướng Fuka.[70] Quân New Zealand mệt mỏi không kịp chấn chỉnh hàng ngũ, lại gặp bãi mìn của quân Đức gài sẵn làm chậm bước hành quân. Đến chiều mới chỉ tiến được 15 dặm. Lữ đoàn 9 Thiết giáp thụt lại ra sau, và Lữ đoàn 6 còn đi sau xa hơn nữa.[71]

Sư đoàn 1 và 7 Thiết giáp Anh theo lệnh đánh Sư đoàn Khinh binh Đức nhưng gặp trở ngại. Sư đoàn 1 đụng phải Sư đoàn 21 Panzer Đức và phải chiến đấu suốt ngày mới đẩy lui thiết giáp Đức được 8 dặm. Sư đoàn 7 thì đụng phải Sư đoàn Thiết giáp Ariete Ý. Quân Ý cầm cự dũng cảm cho đến khi bị tiêu diệt.[72] Hai sư đoàn LittorioTrieste của Ý cố sức chiến đấu đến viện đạn cuối nhưng cũng bị tiêu diệt trong ngày 4 tháng 11.

Gần trưa, Rommel biết quân mình lâm nguy: "Tình hình xế trưa ngày 4 như sau: quân thiết giáp hùng hậu của địch ... chọc thủng một lỗ lớn rộng 12 dặm trên phòng tuyến của quân ta, những đơn vị thiết giáp tiếp tục tràn qua đó kéo về phía tây. Hậu quả là quân ta ở phía bắc bị quân địch tạo thế vòng cung bao vây với số xe tăng gấp 20 lần. Chúng ta không còn quân hậu thuẫn, tất cả nhân lực và súng đạn đã được ném hết ra trận tiền. Và giờ đây sự thật đã đến, sự việc chúng ta lâu nay cố gắng hết sức tránh né đã xảy ra, trận tuyến đã vỡ và lực lượng cơ giới của địch quân chạy thả cửa vào đánh hậu quân của ta. Lệnh trên ban xuống không còn hữu hiệu. Chúng ta phải cứu lấy những gì có thể cứu vãng được".[73]

Rommel đánh điện cho Hitler biết sự thể và trình bày kế hoạch tháo chạy về Fuka. Quân phe Trục thua tơi bời. Tướng von Thoma bị bắt làm tù binh, hai sư đoàn Ý Ariete và Trento bị vây khốn. Đến 5 giờ rưỡi chiếu, Rommel không còn thời giờ chờ hồi âm của Hitler, bèn ra lệnh rút lui.[72] Vì thiếu khả năng vận tải, các đơn vị Ý bị bỏ rơi, mặc cho số phận của họ.[74][75] Cơ hội cứu thoát các toán quân Ý đã mất vì Hitler không cho lui quân trước đó.[67]

Bên kia, Sư đoàn 1 Thiết giáp Anh đẩy một mũi dùi tấn công sâu vào lòng địch thẳng vào El Daba tiến quân được khoảng 15 dặm dọc bờ biển. Sư đoàn 7 tấn công Galal thêm 15 km xa hơn về phía tây của tuyến đường xe lửa. Trong lúc này quân New Zealand vẫn còn loay hoay qua các bãi mìn "giả" và tranh sức với Sư đoàn 15 Panzer Đức.[76]

Ngày D + 13, Thứ Năm 5 tháng 11 1942[sửa]

Tướng Anh Montgomery quan sát chiến trận từ xe tăng năm 1942

Montgomery lúc này muốn dứt điểm tàn quân của Rommel. Ông cho Sư đoàn 7 chạy băng qua vùng đất trống chận đánh đường chuyên chở ở cửa biển tại Sidi Haneish, khoảng 65 dặm (105 km) về phía tây đường Rahman. Sư đoàn 1 đang đóng ờ phía tây El Daba được lệnh quẹo lại, băng qua sa mạc đến chiếm Bir Khalda, cách đường Rahman 80 dặm (130 km) về phía tây, cắt đứt đường rút lui của địch quân tại Mersa Matruh.[77]. Nhưng cả hai công tác đều thất bại. Sư đoàn 7 chạy hết ga nhưng tối đến mà vẫn cách mục tiêu 20 dặm. Sư đoàn 1 ráng chạy nguyên đêm để đạt mục tiêu. Nhưng do trời tối quá, quân ngũ tách rẽ và hết xăng phải nằm ụ cách mục tiêu BirKhalda 16 dặm (26 km) vào sáng ngày 6 tháng 11.

Vì trận tuyến thay đổi lung tung, không quân Anh muốn tấn công lục quân Đức cũng không dễ vì luôn sợ oanh tạc nhầm vào quân của mình.[78]

Ngày D + 14, Thứ Sáu 6 tháng 11 1942[sửa]

Ngày 6 tháng 11 lúc 11 giờ sáng, loạt xe tiếp xăng "B" Echelon liên hệ kịp với Sư đoàn 1 Thiết giáp Anh nhưng chỉ thêm xăng được cho hai trung đoàn để tiếp tục truy đuổi đánh chặn đường lui của quân Đức. Chẳng may hai trung đoàn lại hết xăng dọc đường, cách Mersa Matruh 30 dặm (48 km) về phía tây nam.[79] Một đoàn xe tiếp dầu khởi hành từ El Alamein tối hôm trước nhưng bị trễ vì trở ngại đường xá. Đã thế trời lại đổ mưa ngày 6 tháng 11 làm đoàn xe bị lún sình 40 dặm cách chỗ hẹn và không tiếp tế được cho Sư đoàn 1.[80]

Trong buổi sáng ngày tháng 11, Sư đoàn 2 New Zealand tiến đến Sidi Haneish và Lữ đoàn 8 của Sư đoàn 10 Thiết giáp tiến từ Galal về phía tây chiếm phi trường của Fuka. Sư đoàn 7 lúc đó đang bọc hậu cách Sidi Haneish 15 dặm thì đụng phải Sư đoàn 21 Panzer và toán trinh sát Voss của Đức. Hai bên bắn phá qua lại đến tối. Quân Đức thiệt mất 16 xe tăng và một số súng lớn nhưng chạy thoát khỏi vòng vây và kéo về Mersa Matruh.[80]

Tuy vẫn gặp khó khăn nhận rõ mục tiêu, không quân Hoa Kỳ tham chiến bằng những cuộc oanh tạc vào Tobruk, bắn chìm tàu dầu Etopia (2.153 tấn), tấn công Benghazi, bắn chìm tàu Mars và bắn cháy tàu dầu Portofino (6.424 tấn).[80]

Ngày D + 15-18, Thứ Bảy-Thứ Tư 7-11 tháng 11 1942[sửa]

Mưa tiếp tục đổ vào ngày 7 tháng 11 làm lầy lội và Sư đoàn 7 không di chuyển gì được. Sư đoàn 10 Thiết giáp lợi dụng đường gần bờ biển còn tốt và nhiều xăng, kéo đến đánh Mersa Matruh trong khi lục quân dọn dẹp đường đi phía tây Galal.[81]

Rommel dự tính sẽ chống cự tại Sidi Barrani cách Matruh 80 dặm về phía tây, để tàn quân đủ thì giờ chạy qua con đèo hẹp xuyên qua giốc cao ở khu vực Halfya và Sollum.[82] Quân Đức chạy ra khỏi Matruh tối ngày 7 sáng ngày 8 tháng 11 [82] nhưng chỉ có thể cầm cự tại Sidi Barrani đến tối ngày 9 tháng 11 thì lại bỏ chạy.[83] Tối ngày 10 tháng 11 quân New Zealand tiến đến Sollum, đẩy Lữ đoàn 4 Thiết giáp Nhẹ vào chân đèo Halfya. Sư đoàn 7 trong khi đó quay lại phía nam tấn công Đồn Capuzzo và Sidi Azeiz.[83] Sáng ngày 11 quân New Zealand tràn lên con đèo, bắt được 600 tù binh Ý.[83]

Hết ngày 11 tháng 11, toàn thể biên giới Ai cập thuộc về Đồng Minh, nhưng Montgomery bị thiếu tiếp tế nên chỉ ra lệnh cho các đơn vị pháo binh, cơ giới và bọc thép tiếp tục truy đuổi trong khi các đơn vị còn lại phải nghỉ mệt chờ trang bị hạ tầng cơ sở và tiếp vận.[84]

Bản đồ diễn tiến của trận đánh[sửa]

Quân Anh trên đường đến Tobruk từ El-Alamein.

Hậu quả[sửa]

Có thể nói rằng "Trước Alamein chúng ta không có một chiến thắng nào. Sau Alamein, chúng ta không có một chiến bại nào."
– Winston Churchill.[85]

Sau trận El Alamein, quân Trục bỏ El Agheila chạy về phía tây. Quân Anh cũng đã từng đánh đến đây hai lần trước (đầu năm 1941 và đầu năm 1942) nhưng chưa tiến xa hơn được vì thiếu tiếp vận và phải chia quân cho các mặt trận khác. Lần này, trong khi quân Đức thì thiếu thốn kiệt quệ đủ mặt thì quân Anh có đầy đủ tiếp vận, lực lượng tăng cường liên tục.[86] Chiến thắng này của quân Anh được xem là có tầm vóc trọng đại như một trong những thắng lợi quyết định của cuộc chiến và lịch sử Anh Quốc, mở đường cho toàn thắng của khối Đồng Minh trong chiến tranh. Đây cũng được xem là thắng lợi quyết định nhất của khối Đồng Minh trên bộ cho đến thời điểm ấy.[5][87][88] Thất bại ở El Alamein cùng với thảm bại Stalingrad trong cuộc Chiến tranh Xô-Đức đã giết chết cái huyền thoại về Quân đội Đức "bất khả chiến bại".[89] Mặc dù quân Đức dưới quyền Rommel đã chiến đấu anh dũng và gây tổn hại nặng nề cho quân Anh, đại bại tại El Alamein khiến cho ông chỉ còn một sự lựa chọn duy nhất là rút quân, dù Adolf Hitler ban lệnh cho ông phải cố giữ. Sau chiến thắng ở El Alamein, người Anh không bao giờ bị người Đức đánh thua một trận nhục nhã, bi đát nữa.[87]

Lực lượng công binh Đồng Minh tham gia tu sửa lại các tuyến chuyên chở vận tải và lập dựng lại hạ tầng cơ sở từng bị quân Đức phá hủy trên đường rút lui. Tuyến xe lửa từ El Alamein đến Fort Capuzzo bị phá 200 chỗ nhưng đều được sửa chữa và có thể đem 133.000 tấn tiếp vận cho Tập đoàn quân 8 của Montgomery.[90] Hải cảng ở Benghasi có thể nhận 3000 tấn hàng sau khi được tu sửa. Trước đó, vì bị tàn phá, ước tính chỉ có thể nhận 800 tấn.[90] Montgomery từng biết Rommel có đòn chiến thuật đánh ngược nên dừng quân 3 tuần lễ tại El Agheila để chấn chỉnh hàng ngũ.[91]

Ngày 11 tháng 12 Sư đoàn 51 và Sư đoàn 7 tiến theo bờ biển. Ngày 12 tháng 12 Sư đoàn New Zealand mở cuộc tấn công hông sườn của quân đoàn địch với mục đích cắt đường chạy ra biển của địch quân.[92] Quân Trục tiếp tục phản công dữ dội và quân Đồng Minh chịu tổn thất khá nặng nề.

Quân Rommel chịu thiệt hại thê thảm trong trận El Alamein lần thứ hai :[88] ông mất 75.000 lính, nhiền nghìn súng lớn và 500 xe tăng. Ông phải đặt chiến thuật tinh vi rút lui để bảo toàn lực lượng tàn quân.[93] Ngày 15 tháng 12, quân New Zealand ra tới bờ biển. Rommel chia quân thành nhiều toán nhỏ và rút lui từng đợt qua các kẽ hở giữa các đơn vị của New Zealand.

Rommel mở cuộc rút lui cổ điển, dùng chiến thuật tiêu thổ phá hủy mọi dụng cụ và hạ tầng cơ sở trước khi lui quân[94] và gài mìn, bẫy nổ khắp nơi tạo khó khăn cho địch quân khi đuổi theo.[95] Tập đoàn quân 8 đến Sirte ngày 25 tháng 12 và lại phải nghỉ quân vì đội hình bị kéo giãn quá mỏng. Rommel lúc này đã cài đặt được dàn phòng thủ tại Wadi Zemzem gần Buerat cách Tripoli 230 dặm (370 km) về phía đông.[96] Rommel cùng chỉ huy quân Ý gửi thư xin tư lệnh tối cao cho phép lui quân về tận Tunisia để củng cố thêm lực lượng nhưng Mussolini từ chối, buộc đoàn Thiết giáp quân Trục phải đánh cho đến hơi thở cuối cùng tại Buerat.

Đài tưởng niệm quân Úc thuộc Sư đoàn 9 Thiết giáp tại nghĩa trang El Alamein.

Chiến thắng ở El Alamein này đã khiến cho Montgomery được xem là một trong những vĩ nhân trong nền quân sử nước Anh. Để đạt được thắng lợi ấy, Montgomery đã diễn tập, chuẩn bị chu đáo, lập kế hoạch và hợp đồng kỹ lưỡng. Đó được coi là dấu ấn sâu sắc của Montgomery trong mọi trận đánh của ông sau đó.[87]

Xem thêm thông tin: Mặt trận Bắc Phi

Chú thích[sửa]

  1. ^ a b Buffetaut, Yves(1995);Operation Supercharge-La seconde bataille d'El Alamein; Histoire Et Collections
  2. ^ a b Carver, Michael (1962). El Alamein. Wordsworth Editions. ISBN 1-84022-220-4. 
  3. ^ a b c d e f g h Major General I.S.O. Playfair. The Mediterranean and Middle East Volume IV The destruction of the Axis forces in Africa pg. 78
  4. ^ a b c d e Niall Barr. Pendulum of War: The three battle of El Alamein pg. 404
  5. ^ a b Spencer Tucker, Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict, trang 502
  6. ^ a b c d Playfair, p. 34
  7. ^ a b c Dear (2005), p.254
  8. ^ Modelski, Tadeusz (1986). The Polish Contribution to The Ultimate Allied Victory in The Second World War. Worthing. tr. 221. 
  9. ^ Time Magazine/Canadian Edition, March 8, 1999, page 18
  10. ^ Lucas (1983), p. 123
  11. ^ Playfair, p. 26.
  12. ^ Playfair pp. 27-28.
  13. ^ a b Bierman & Smith (2002), p.255
  14. ^ Playfair, pp. 28-29
  15. ^ Watson (2007), p.20
  16. ^ Latimer (2002), p.177
  17. ^ Mead, Richard, p.304
  18. ^ Barr, Niall, p.308
  19. ^ Clifford (1943), p. 307
  20. ^ Bierman & Smith (2002), Chapters 22-24
  21. ^ Bauer (2000), pp.366-368
  22. ^ Bauer (2000), p.368
  23. ^ Playfair, p. 42
  24. ^ a b Playfair, p. 50
  25. ^ a b Playfair, p. 44
  26. ^ a b c Playfair, p. 46.
  27. ^ Playfair, p. 47.
  28. ^ Playfair, p. 48.
  29. ^ Clifford (1943), p.308
  30. ^ a b Playfair, p. 49.
  31. ^ Watson (2007), p.23
  32. ^ Playfair, pp. 50-51.
  33. ^ Playfair, p. 51.
  34. ^ Vivian (2000), p.278
  35. ^ Playfair, p. 52.
  36. ^ Playfair, pp. 53-54.
  37. ^ a b c d Playfair p. 54.
  38. ^ a b c Playfair, p. 56.
  39. ^ Lucas Phillips (1962), p. 296
  40. ^ Cecil Ernest Lucas Phillips, Alamein, Little Brown & Co. Boston, 1962, p.285
  41. ^ Playfair, pp. 56-57.
  42. ^ a b Playfair, p. 57.
  43. ^ a b c Playfair, p. 58.
  44. ^ Johnston, Dr. Mark (23 tháng 10 năm 2002). “The Battle of El Alamein, 23 tháng 10 năm 1942”. Remembering 1942. Australian War Memorial, Canberra. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2008. 
  45. ^ “El Alamein 2” (bằng in Italian). Ardito2000 website. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2008. 
  46. ^ a b Playfair, p. 63.
  47. ^ Vivian (2000), p. 279
  48. ^ Playfair, p. 59.
  49. ^ Playfair, p. 61.
  50. ^ Playfair, pp. 61-62.
  51. ^ Watson (2007), p. 26
  52. ^ Playfair, Map 10.
  53. ^ a b c d Barr, Niall. p.386
  54. ^ a b Playfair, pp. 64-65.
  55. ^ a b c Playfair, p. 66.
  56. ^ Barr, Niall. p.387
  57. ^ a b c d Playfair, p.67
  58. ^ “Walker (1967), p. 395”. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2008. 
  59. ^ Barr, p. 388-389
  60. ^ a b Watson (2007), p.24
  61. ^ Playfair, p. 70.
  62. ^ Playfair, p. 68.
  63. ^ a b Playfair, p. 69.
  64. ^ Playfair, p. 71.
  65. ^ Rommel, p. 319
  66. ^ a b Rommel, p. 321
  67. ^ a b Playfair, p. 73.
  68. ^ Playfair, p. 74.
  69. ^ Playfair, p. 75.
  70. ^ Playfair, p. 81.
  71. ^ Playfair, p. 83.
  72. ^ a b Playfair, p. 84.
  73. ^ Rommel, p. 325
  74. ^ Bierman & Smith (2002), Chapter 27
  75. ^ Bauer (2000), p.372
  76. ^ Playfair, pp. 86-87.
  77. ^ Playfair, p. 87.
  78. ^ Playfair, p. 88.
  79. ^ Playfair, p. 89.
  80. ^ a b c Playfair, p. 90.
  81. ^ Playfair, p. 91.
  82. ^ a b Playfair, p. 93.
  83. ^ a b c Playfair, p. 94.
  84. ^ Playfair, p. 95.
  85. ^ The Hinge of Fate, Winston Churchill, Pg 603. The Yale Book of Quotations By Fred Shapiro, Page 154.
  86. ^ Clifford (1943), p.317
  87. ^ a b c Keith D. Dickson, World War II For Dummies.
  88. ^ a b John Frederick Charles Fuller, The Second World War, 1939-45: a strategical and tactical history, trang 238
  89. ^ Robert C. Grogin, Natural Enemies: The United States and the Soviet Union in the Cold War, 1917-1991, trang 37
  90. ^ a b Clifford (1943), p. 318
  91. ^ Watson (2007), p.39
  92. ^ Watson (2007), p.42
  93. ^ Clifford (1943), p. 319
  94. ^ Clifford (1943), p. 322
  95. ^ Clifford (1943), p. 320
  96. ^ Clifford (1943), pp. 325-327

Tọa độ: 30°50′B 28°57′Đ / 30,833°B 28,95°Đ / 30.833; 28.950

Tham khảo[sửa]

Liên kết ngoài[sửa]