Bernard Montgomery
| Tử tước Montgomery của Alamein 17 tháng 11 năm 1887 – 24 tháng 3 năm 1976 |
|
|---|---|
Montgomery đội chiếc mũ bê rê nổi tiếng của ông. |
|
|
Tiểu sử
|
|
| Biệt danh | Monty |
| Nơi sinh | Kennington, Luân Đôn |
| Nơi mất | Alton, Hampshire |
|
Binh nghiệp
|
|
| Phục vụ | |
| Thuộc | |
| Năm tại ngũ | 1908–1958 |
| Cấp bậc | Thống chế Quân đội Hoàng gia Anh Quốc |
| Chỉ huy | Tư lệnh tập đoàn quân số 8 1942–1943 Tư lệnh Cụm Tập đoàn quân số 21 quân Đồng minh 1943–1945 Tổng tham mưu trưởng Quân đội Hoàng gia Anh quốc 1946–1948 Phó chỉ huy tối cao châu Âu của NATO 1951–1958 |
| Tham chiến | Chiến tranh thế giới thứ nhất Chiến tranh Anh-Ireland Chiến tranh thế giới thứ hai |
| Khen thưởng | Hiệp sỹ Garter Knight Grand Cross of the Bath Huân chương nhiệm vụ xuất sắc Huân chương Chiến thắng (Liên Xô) 9 Mentions in Despatches giữa giai đoạn 1915 và 1944 |
Thống chế Anh Quốc Bernard Law Montgomery, Đệ nhất tử tước Montgomery của Alamein, còn được gọi là "Monty" (17 tháng 11 1887 - 24 tháng 3 1976) là một tướng lãnh quân đội Anh, nổi tiếng vì đã đánh bại lực lượng Quân đoàn Phi Châu (Afrikakorps) của tướng Đức Quốc xã Rommel tại trận El Alamein thứ hai, một bước ngoặc quan trọng trong chiến dịch Sa mạc Tây ở châu Phi năm 1942. Quân do ông chỉ huy cũng góp một phần đánh bật các lực lượng khối Trục ra khỏi Bắc Phi. Ông cũng là một người chỉ huy nổi bật của quân đội Đồng Minh ở Ý và Tây Bắc châu Âu, trong chiến dịch Overlord và sau trận Normandy.
Mục lục |
[sửa] Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất
Bernard Montgomery sinh tại Kennington, Luân Đôn năm 1887, con thứ 4 trong 9 người con của linh mục Anh giáo Henry Hutchinson Montgomery và bà Maud Montgomery (gia đình họ Farrar). Ông nội là Robert Montgomery, từng cai quản quân sự tại Ấn Độ, chết một tháng sau khi Bernard Montgomery ra đời,[1] để lại di sản của tổ tiên họ Montgomery tại New Park thuộc Moville, County Donegal.
Di sản này vẫn còn nợ £13.000 và Henry phải chật vật bán của cải trả nợ.[2] Năm 1889 Henry được phong làm giám mục tại Tasmania, Úc, bấy giờ còn là thuộc địa của Anh. Ông thường vắng nhà về quê giảng đạo. Bà vợ ở nhà chẳng những không chăm sóc mà còn thường xuyên đánh đập bỏ bê bầy con mình.[3] Anh chị em của Bernard có người chết trẻ, và có người phải bỏ về Anh.[4] Mẹ ông không dạy con, chỉ đôi lúc mướn người từ Anh sang dạy. Bernard do hoàn cảnh thơ ấu tệ hại này, trở thành một thiếu niên khá mất dậy. Ông tự thú nhận:
- Tôi là một đứa trẻ khá tệ. Ngày không có thể chẳng ai chịu đựng được những thái độ của tôi hồi ấy.[5]
Vì vậy, Montgomery sau đó từ chối không cho con mình liên hệ với bà nội, và khi bà chết năm 1949, ông không đến dự đám tang.[6]
Năm 1901 gia đình Montgomery về lại Luân Đôn, Bernard học tại trường St Paul's sau đó vào trường Quân sự Hoàng gia tại Sandhurst. Ông xuýt bị trục xuất vì cố tình đốt cháy một học sinh cùng khóa, khi gây gỗ vì cờ bạc. Năm 1908 Bernard nhập ngũ vào tiểu đoàn 1, Trung đoàn Warwickshire của quân đội Anh quốc, và hành quân lần đầu tại Ấn Độ.
[sửa] Chiến tranh thế giới thứ nhất
Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ vào tháng 8 năm 1914 và Bernard Montgomery cùng đồng đội sang Pháp ít lâu sau. Trong cuộc rút lui từ Mons, gần nửa tiểu đoàn của ông bị tử thương. Ngày 13 tháng 10 ông bị đạn bắn tẻ, làm lủng phổi bên phải gần chết. Đồng đội ông thấy vậy đã đào huyệt chờ chôn ông nhưng ông may mắn sống sót. Một y sĩ quân đội tiến đến cứu Montgomery nhưng bị bắn chết và ngã gục đè lên ông. Do đó những viên đạn sau chỉ bay vào xác chết và Montgomery chỉ bị thêm một phát ở đầu gối. Khi hồi phục, Montgomery được trao huân chương xuất sắc.
Đầu năm 1915 Montgomery được cử làm chỉ huy huấn luyện cho bộ binh Anh, còn gọi là Đạo quân của Kitchener. Năm 1916 ông theo hành quân tại Mặt trận phía Tây tham gia các cuộc chiến tại Somme, Arras, và Passchendaele. Do khả năng chỉ huy và điều động quân sự giỏi, Montgomery giúp chì huy mình là tướng Herbert Plumer đạt nhiều mục đích chiến lược với thiệt hại thấp.
Montgomery tham gia cuộc chiến tại Lys và Chemin-des-Dames. Đến cuối chiến tranh ông được cử làm sĩ quan tư lệnh và sau đó lên chức tổng chỉ huy sư đoàn 47, với quân hàm trung tá.
[sửa] Chú thích
[sửa] Tài liệu tham khảo
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Bernard Montgomery. |
- Alanbrooke, Field Marshal Lord (edited by Alex Danchev and Daniel Todman) (2001). War Diaries 1939–1945. London: Phoenix Press. ISBN 1-84212-526-5.
- Brereton, Lewis. The Brereton Diaries: The War in the Air in the Pacific, Middle East and Europe, 3 tháng 10 năm 1941 – 8 tháng 5 năm 1945.. Morrow.
- Bierman, John & Smith, Colin. Alamien: War without hate. Penguin Group. 2002 ISBN 0-670-91109-7
- Brett-James, Anthony, Conversations with Montgomery, Irwin Pub., 1984. ISBN 978-0718305314
- Bungay, Stephen, Alamein, Auram, 2002. ISBN 978-1854109293
- Chalfont, Arthur Gwynne Jones, Montgomery of Alamein, Atheneum, 1976. ISBN 978-0689107443
- D'Este, Carlo. Decision in Normandy: The Unwritten Story of Montgomery and the Allied Campaign. London: William Collins Sons, 1983. ISBN 0002170566.
- Barnett, Corelli, The Desert Generals, Cassell, 1960. ISBN 978-0304352807
- Dixon, Norman, On the Psychology of Military Incompetence, Pimlico, 1976. ISBN 978-0712658898
- Eisenhower, Dwight D. (1948). Crusade in Europe. London: William Heinemann. OCLC 219971286.
- Fraser, David, And We Shall Shock Them: The British Army in World War II, Sceptre, 1988. ISBN 978-0340426371
- Hamilton, Nigel (2001). The Full Monty: Montgomery of Alamein 1887–1942. London: Allen Lane. ISBN 0-7139-9334-0.
- Hamilton, Nigel (1981). Monty: The Making of a General. London: Hamish Hamilton Ltd.
- Hamilton, Nigel (1984). Monty: Master of the Battlefield. London: Hamish Hamilton Ltd. ISBN 978-0241111048.
- Hamilton, Nigel (1986). Monty: The Field-Marshal 1944–1976. London: Hamish Hamilton Ltd. ISBN 0-241-11838-7.
- Harrison, Mark (2004). Medicine and Victory: British Military Medicine in the Second World War. Oxford University Press. ISBN 0199268592.
- Hart, Stephen (2000). Montgomery and "Colossal Cracks": The 21st Army Group in Northwest Europe, 1944–45. Praeger.
- Heathcote, Tony, The British Field Marshals 1736–1997, Pen & Sword Books Ltd, 1999. ISBN 0-85052-696-5
- Hastings, Max, Armageddon: The Battle for Germany, 1944–1945, Knopf, 2004. ISBN 0375414339
- Lattimer, Jon, Alamein, John Murray, 2002. ISBN 978-0674013766
- McKee, Alexander, Caen: Anvil of Victory, 1984. ISBN 978-0333383131
- Mead, Richard (2007). Churchill's Lions: A biographical guide to the key British generals of World War II. Stroud (UK): Spellmount. ISBN 978-1-86227-431-0.
- Montgomery, Bernard Law,A Concise History of Warfare, 1968. ISBN 978-1840222234
- Montgomery, Bernard Law, The Path to Leadership, 1957.
- Montgomery, Maud (1933). Bishop Montgomery: A Memoir. London: Society for the Propagation of the Gospel.
- Neillands, Robin, The Battle for the Rhine 1944, 2005. ISBN 978-1590200285
- Playfair, Major-General I.S.O.; with Flynn, Captain F.C. (R.N.); Molony, Brigadier C.J.C. & Gleave, Group Captain T.P. (2004) [1st. pub. HMSO:1960]. Butler, Sir James. ed. The Mediterranean and Middle East, Volume III: British Fortunes reach their Lowest Ebb (September 1941 to September 1942). History of the Second World War, United Kingdom Military Series. Uckfield, UK: Naval & Military Press. ISBN 1-845740-67-X.
- Playfair, Major-General I.S.O.; Molony, Brigadier C.J.C.; with Flynn, Captain F.C. (R.N.) & Gleave, Group Captain T.P. (2004) [1st. pub. HMSO:1966]. Butler, Sir James. ed. The Mediterranean and Middle East, Volume IV: The Destruction of the Axis Forces in Africa. History of the Second World War, United Kingdom Military Series. Uckfield, UK: Naval & Military Press. ISBN 1-845740-68-8.
- Ryan, Cornelius (1974). A Bridge Too Far. Hodder.
- Sheehan, William, British Voices from the Irish War of Independence, 2005. ISBN 978-1905172375
- Schultz, James. A framework for military decision making under risks. Thesis, Air University, Maxwell Airforce Base, Alabama, 1998.
- Weigley, Russel F., Eisenhower's Lieutenants, Bloomington, IN: Indiana University Press, 1981. ISBN 0-253-13333-5
| Đây là một bài viết sơ khai về Chiến tranh thế giới thứ hai. Chúng ta rất cần những nỗ lực thay đổi để bài viết hoàn thiện hơn. Xin mời bạn giúp đỡ bằng cách viết bổ sung (trợ giúp). |
|
