Trận Bir Hakeim

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Bir Hakeim
Một phần của Trận Gazala
Free French Foreign Legionnairs.jpg
Lính Lê dương Pháp tự do tấn công một căn cứ của đối phương tại Bir Hakeim
.
Thời gian 26 tháng 511 tháng 6 năm 1942
Địa điểm Bir Hakeim, Libya
Kết quả Quân phe Trục chiến thắng [1][2]
Tham chiến
 Quân đội Pháp Tự do  Đức Quốc Xã
 Vương quốc Ý
Chỉ huy
Cờ của Lực lượng Pháp tự do Marie Pierre Koenig Cờ của Đức Quốc Xã Erwin Rommel
Lực lượng
3.703 quân[1] Không rõ[nb 1]
Tổn thất
~900 bị bắt làm tù binh[4][5]
Không rõ số lượng thương binh rời bỏ trận địa
Không rõ
.

Bir Hakeim (thỉnh thoảng cũng viết là Bir Hacheim) là một bán đảo hẻo lánh trên sa mạc Libya, ngày xưa có một đồn lũy của người Thổ Nhĩ Kỳ. Trong trận Gazala, Sư đoàn Pháp tự do số 1 dưới quyền Chuẩn tướng (Général de brigade) Marie Pierre Kœnig đã phòng vệ khu vực ngày từ ngày 26 tháng 5 cho đến ngày 11 tháng 6 năm 1942 trước cuộc tấn công của liên quân phát xít Đức - Ý do Thượng tướng (Generaloberst) Erwin Rommel chỉ huy, kết thúc với thắng lợi của quân khối Trục[6]. Chiến đấu với quân đội phát xít đông hơn hẳn trong suốt 16 ngày trời, Kœnig và các binh sĩ của ông đã lập nên một chiến tích lớn. Sau này, trận đánh được mọi phe tham chiến tích cực đưa vào những mục đích tuyên truyền, khiến cho sự thực trận này trở nên mập mờ. Cuộc chiến đấu ngoan cường của quân Pháp tự do đã khiến cho quân Anh rút lui có trật tự.[7] 10 ngày sau khi đánh bại quân Pháp tự do ở trận Bir Hakeim, quân của Rommel đã chiếm được Tobruk - đánh dấu đại thắng đầu tiên của nền Đệ tam Đế chế Đức trong năm 1942.[2][8][9][10] Rommel tiếp tục vượt qua những hoạt động cầm chân của quân Anh cho tới khi bị chặn đứng trong trận El Alamein lần thứ nhất vào tháng 7.

Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 10 năm 1991, Tướng Bernard Saint-Hillier cho biết: "Một hạt cát đã kìm hãm bước tiến của quân khối Trục, họ chỉ tới được Al-Alamein sau khi các Sư đoàn Anh còn lại kéo đến : hạt cát ấy là Bir Hakeim."[11]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú
  1. ^ Exact number unknown. The box was under attack by the Ariete Division in the first phase of the Gazala battle, and later under attack by a combined force of the Trieste and 90th Light Infantry Division[3]
Chú giải
  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Bimberg
  2. ^ a ă â Der Mythos des Gaullismus: Heldenkult, Geschichtspolitik und Ideologie 1940 bis 1958, Matthias Waechter, Wallstein Verlag, 2006
  3. ^ Ford, pp. 53-54; 42.
  4. ^ The Second World War: Europe and the Mediterranean, Thomas B. Buell, John N. Bradley, Thomas E. Griess, Jack W. Dice, John H. Bradley, Square One Publishers, Inc., 2002, p. 169
  5. ^ Ford, p. 64.
  6. ^ S. L. Mayer, World War II, trang 64
  7. ^ Pierre Goubert, The Course of French History Rommel, trang 299
  8. ^ Schlachtenmythen: Ereignis, Erzählung, Erinnerung, Susanne Brandt, p. 170
  9. ^ David Stone, Hitler's Army: The Men, Machines, and Organization: 1939-1945, trang 238
  10. ^ Patrick Jennings, Pictorial history of World War II , trang 61
  11. ^ (French) Histoire de la France militaire et résistante, Volume 1, Dominique Lormier, Rocher, 2000

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Playfair, Major-General I.S.O.; with Flynn, Captain F.C. (R.N.); Molony, Brigadier C.J.C. & Gleave, Group Captain T.P. (2004) [1st. pub. HMSO:1960]. Trong Butler, Sir James. The Mediterranean and Middle East, Volume III: British Fortunes reach their Lowest Ebb (September 1941 to September 1942). History of the Second World War, United Kingdom Military Series. Uckfield, UK: Naval & Military Press. ISBN 1-84574-067-X. 
  • Field Marshal Rommel, Archives Rommel, Herrlingen-Blaustein.
  • Daniel Rondeau and Roger Stephane, Des hommes libres: La France Libre par ceux qui l'ont faite (Testimonies: Chapter 16, p. 243 and s.), Ed. Bernard Grasset, Paris, 1997.

Tọa độ: 31°35′37,93″B 23°28′47,16″Đ / 31,58333°B 23,46667°Đ / 31.58333; 23.46667

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]