Trận Leningrad
Trận Leningrad là cuộc phong tỏa quân sự của quân đội Đức Quốc xã đối với thành phố Leningrad (hiện nay là Sankt-Peterburg), đồng thời là cuộc phòng thủ dài ngày nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai của Quân đội Liên Xô. Đây là một trong các trận đánh có tỉ lệ tử vong cao trong lịch sử thế giới và là trận đánh có số dân thường thiệt mạng cao nhất trong toàn bộ Chiến tranh Xô-Đức. Từ khi bị quân đội Đức Quốc xã bao vây cho đến khi được quân đội Liên Xô giải phóng, cuộc phong tỏa Leningrad kéo dài 871 ngày; bắt đầu từ tháng 9 năm 1941 và kết thúc vào ngày 27 tháng 1 năm 1944. Trận Leningrad là một trong các biểu tượng lớn nhất của cuộc đọ sức cả về quân sự cũng như về sức chịu đựng của con người giữa chế độ Xô Viết và chế độ Quốc Xã. Như dự kiến của Kế hoạch Barbarossa thì Leningrad là một mục tiêu chiến lược mà nếu chiếm được nó, nước Đức Quốc xã sẽ làm giảm sút đáng kể khả năng phòng thủ của Liên Xô, mở đường tiến tới Arkhangelsk. Việc chiếm Leningrad không chỉ là chiếm đóng một thành phố bình thường mà còn là việc chiếm đóng nơi đã nổ ra cuộc Cách mạng tháng 10 Nga, một biểu tượng chính trị quan trọng của Liên Xô. Đồng thời, chiếm Leningrad cũng là chiếm được một căn cứ hải quân quan trọng để phục vụ cuộc đối đầu trên biển giữa hải quân Đức Quốc xã và Hải quân Anh trên biển Baltic.[4]
Mục lục |
Bối cảnh mặt trận [sửa]
Theo kế hoạch Barbarossa, mặt trận Tây Bắc Liên Xô bao gồm lãnh thổ của ba nước cộng hòa vùng Đông Baltic: Litva, Latvia và Estonia, vùng Tây Bắc nước Nga từ eo đất Karelia đến tuyến Tikhvin - Novgorod với thành phố Leningrad là mục tiêu cực kỳ quan trọng. Không gian chiến dịch còn bao gồm cả vùng phía Đông biển Baltic, phía nam vịnh Bosni và Vịnh Phần Lan. Trên đất liền, chiến sự còn diễn ra tại eo đất Karelia, nơi đã từng là mặt trận chính của cuộc chiến tranh Liên Xô - Phần Lan từ mùa đông đến mùa hè năm 1940. Khác với các vùng trung tâm và phía Nam Liên Xô, đây là vùng đất nằm sát vòng Bắc cực, có khí hậu giá lạnh, mùa hè ngắn ngủi với những đêm trắng. Các hoạt động quân sự tại đây đòi hỏi phải có những trang thiết bị phù hợp cho con người và phương tiện.
Với địa hình vùng đồng bằng ven biển Baltic tương đối bằng phẳng. Các con sông Neman, Tây Dvina, Velikaiya, Luga chủ yếu chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc không phải là các con sông lớn. Do đó, đây là vùng đất có thể phát huy được ưu thế của xe tăng, pháo binh và không quân. Ngoài ra, vùng địa bàn ven biển tuy gần vòng Bắc cực nhưng biển Baltic không đóng băng nên đây cũng là nơi dễ dàng sử dụng hải quân để phối hợp với lực lượng trên bộ.
Tham gia chiến dịch tấn công Leningrad còn có quân đội Phần Lan do tướng Carl Gustaf Emil Mannerheim chỉ huy. Tuy nhiên, mục tiêu của Phần Lan chỉ là để giành lại eo đất Karelia đã phải cắt nhượng cho Liên Xô sau cuộc chiến tranh Liên Xô-Phần Lan năm 1940 nên sự phối hợp giữa quân đội Đức và quân đội Phần Lan là hạn chế do mục đích không gặp nhau. Ngoài ra, còn có hơn 3.000 quân Tây Ban Nha của chế độ độc tài Franco do viên tướng Agustín Muñoz Grandes chỉ huy. Nhưng trên mặt trận Xô-Đức khổng lồ với tổng quân số hai bên hàng chục triệu người thì đội quân của Tây Ban Nha mang tính chất tượng trưng hơn là có hiệu lực chiến đấu trên thực tế.
Binh lực và ý đồ tác chiến của hai bên [sửa]
Quân đội Đức Quốc xã và đồng minh Phần Lan [sửa]
Quân đội Đức Quốc xã [sửa]
Cụm tập đoàn quân Bắc của Quân đội Đức Quốc xã tại mặt trận Xô-Đức được giao nhiệm vụ tấn công về hướng Leningrad và vùng Tây Bắc Liên Xô có tổng quân số trên một triệu người với 20 sư đoàn bộ binh Đức, 4 sư đoàn xe tăng Đức, 2 sư đoàn cơ giới Đức, 7 sư đoàn quân Phần Lan và một trung đoàn quân của Franco.[5][6] Số quân này được biên chế như sau:
- Tập đoàn quân xe tăng 4 gồm quân đoàn xe tăng 38, 46, 47 và quân đoàn cơ giới 41 do tướng Erich Hoepner chỉ huy
- Tập đoàn quân dã chiến 16 gồm các quân đoàn bộ binh 1, 2, 10, 28 và quân đoàn 50 thuộc tập đoàn quân 9 do tướng Ernst Busch chỉ huy
- Tập đoàn quân dã chiến 18 gồm quân đoàn bộ binh 26 và quân đoàn cơ giới 42 do tướng Georg von Küchler chỉ huy
- Quân đoàn xe tăng 56.
- Tập đoàn quân không quân 1.
Quân đội Phần Lan [sửa]
- Quân đoàn bộ binh 1 (2 sư đoàn bộ binh).
- Quân đoàn bộ binh 2 (2 sư đoàn bộ binh).
- Quân đoàn bộ binh 4 (3 sư đoàn bộ binh).
Do địa bàn vùng Pribaltic tương đối quen thuộc với người Đức nên Thống chế Wilhelm Ritter von Leeb, tư lệnh Cụm tập đoàn quân Bắc có thể đưa ra những giải pháp quân sự mà nước Đức Quốc xã đã áp dụng năm 1940 tại các nước Hà Lan, Bỉ, Luxemburg và Pháp. Đó là việc sử dụng những mũi đột kích mạnh của ba quân đoàn xe tăng để chia cắt và đẩy lùi ba tập đoàn quân Liên Xô phòng ngự tại vùng biên giới. Sau đó, khép chặt sườn phải với Cụm tập đoàn quân Trung tâm hợp vây các tập đoàn quân phía sau của Liên Xô trên vùng cửa ngõ phía Nam Leningrad, cắt đứt các tuyến giao thông từ Moskva đi Leningrad, hội quân với quân Phần Lan tại vùng hồ Ladoga, cô lập Leningrad trên bộ. Tại hướng ven biển, sử dụng quân đoàn cơ giới 57 phối hợp với tập đoàn quân 18 dồn quân đội Liên Xô ra biển ở hướng Riga - Tallinn, bao vây và tiêu diệt các binh đoàn này. Hướng phát triển tấn công của Cụm quân được hoạch định đến Arkhangelsk.[7]
Quân đội Liên Xô [sửa]
Sát trước chiến tranh, tại vùng Leningrad, Bộ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô bố trí tại đây Quân khu Leningrad chỉ với 21 sư đoàn được biên chế trong các tập đoàn quân 7, 23, 42 và 54. Ngoài ra còn có tập đoàn quân 14 phòng thủ khu vực Murmansk trong vòng Bắc Cực. Tại các nước cộng hòa Litva, Latvia và Estonia, Quân khu Pribaltic có trong biên chế 25 sư đoàn bộ binh, 4 sư đoàn xe tăng, 2 sư đoàn cơ giới, được biên chế trong các tập đoàn quân 8, 11 và 27; các quân đoàn cơ giới 7 và 10.[8]
Chỉ 10 ngày sau khi nước Đức Quốc xã tấn công Liên Xô, Phương diện quân Pribaltic đã để mất toàn bộ phần đất tại các nước cộng hòa ven biển Baltic; bị tổn thất 2/3 tập đoàn quân, bị mất phần lớn xe tăng, xe thiết giáp của các quân đoàn cơ giới và phải lui sâu vào nội địa đến tuyến Tikhvin, Staraiya - Russa và chuyển thành Phương diện quân Volkhov[8]. Quân khu Leningrad phải chuyển nhiệm vụ chiến lược và chủ lực của mình từ hướng Bắc (để đối phó với Phần Lan), sang hướng Đông, Nam và Tây Nam (để đối phó với quân Đức). Khi Leningrad bị bao vây và phải tách một phần binh lực cho Phương diện quân Karelia, biên chế của nó chỉ còn các tập đoàn quân 23, 42 và 54 cùng một quân đoàn cơ giới với vẻn vẹn một sư đoàn xe tăng 46. Tập đoàn quân 27 do bị tách rời khỏi chủ lực Phương diện quân nên được chuyển giao cho Phương diện quân Volkhov.[9]
Ý đồ phòng thủ ban đầu của Phương diện quân Leningrad là dựa vào tuyến sông Luga để lập một tuyến phòng ngự dài 250 km từ vịnh Phần Lan đến hồ Inmen. Phía sau tuyến này là các khu phòng thủ kiên cố tại tuyến Oranienbaum, Petrodvoresh, Ropsha, Krasnaia Selo, Krasnaia Vardeisk, Tosno. Phương thức phòng thủ theo tuyến ban đầu đã không ngăn được sức tấn công của tập đoàn quân 18 và tập đoàn quân xe tăng 4 của Đức. Đến tháng 9 và tháng 10 năm 1941, Bộ Tư lệnh Phương diện quân phải từ bỏ phương thức này và tập trung binh lực giữ các con đường chính đi vào Leningrad từ các hướng Tây, Tây Nam và Nam.[10]
Diễn biến chiến dịch [sửa]
Chiến sự vùng Pribaltic và khu vực Leningrad cuối năm 1941 [sửa]
Đến ngày thứ ba của cuộc Chiến tranh Xô-Đức, Cụm tập đoàn quân Bắc (Đức) do Thống chế Wilhelm von Leeb chỉ huy đã đẩy lùi các tập đoàn quân 8, 11 và quân đoàn cơ giới 3 của Phương diện quân Pribaltic vào sâu nội địa Liên Xô có nơi từ 80 đến 100 km. Ngày 24 tháng 6, Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô điều động quân đoàn cơ giới 21 do tướng D. D. Leliushenko chỉ huy từ Quân khu Moskva kéo ra phản kích vào tập đoàn quân xe tăng 4 đang tiến công vào hai bên sườn tập đoàn quân 27 do tướng N. E. Berdarin chỉ huy tại khu vực Daugapinsk (Daugava). Tuy nhiên, tướng Erich Höpner đã đi trước một bước. Quân đoàn cơ giới 56 do tướng Erich von Manstein chỉ huy thuộc tập đoàn quân này đã chiếm các bến vượt quan trọng trên sông Tây Dvina và đánh chiếm Daugapinsk. Quân đoàn cơ giới 21 chỉ chặn được tập đoàn quân xe tăng Đức đến ngày 2 tháng 7. Ngày 11 tháng 7, tập đoàn quân xe tăng 4 của tướng Erich Höpner chỉ huy tiếp tục đẩy lùi các cuộc phản kích quân đội Liên Xô và tiến đến vùng Đông Nam Leningrad. Tại cánh Nam của mặt trận, tập đoàn quân 16 (Đức) đã đánh chiếm thành phố Pskov. Tại cánh Bắc mặt trận, tập đoàn quân 18 (Đức) đã bao vây số quân còn lại của tập đoàn quân 8 (Liên Xô) và Bộ tư lệnh tiền phương Phương diện quân Tây Bắc tại Tallinn. Đến ngày 11 tháng 7, Cụm tập đoàn quân Bắc (Đức) đã chiếm được Litva, Latvia, Estonia (trừ khu vực xung quanh Tallinn), một phần lãnh thổ Nga. Leningrad bắt đầu bị uy hiếp với nguy cơ quân Đức vượt sông Luga trên địa đoạn phòng ngự mỏng nhất của quân đội Liên Xô.[11] Cũng như ở Kiev, ngay trong những ngày mùa hè năm 1941, người dân Leningrad cũng tự coi như mình đã được động viên.[12]
Ngày 27 tháng 6 năm 1941, Cùng với việc động viên 96.000 tân binh, Hội đồng thành phố Leningrad quyết định huy động hơn nửa triệu người cho việc thiết lập các công sự phòng thủ quanh thành phố. Một trong các công sự kéo dài từ cửa sông Luga đến Chudovo, Gatchina, Uritsk, Pulkovo và cuối cùng là sông Neva. Các công sự khác kéo dài từ Petergof đến Gatchina, Pulkovo, Kolpino và Koltushy. Trên thực tế, một hệ thống công sự phòng thủ khác chống lại quân Phần Lan đã được xây dựng trong suốt thập niên 1930 nhưng chủ yếu là ở phía Bắc. Hệ thống phòng thủ mới kéo dài từ phần ngoại ô phía bắc của thành phố, và đến thời điểm này được trưng dụng và xây mới thêm. Công sự phòng thủ sau khi hoàn thành bao gồm 190 km bằng gỗ, 630 km hàng rào thép, 700 km hào chống tăng, 5000 công sự bằng gỗ và bê tông, hơn 25.000 km hào đã được công nhân thành phố xây dựng. Các loại súng trang bị cho chiến hạm Rạng Đông (Aurora) được dời lên cụm điểm cao Pulkovskiye ở phía Nam của Leningrad.[13]
Đầu tháng 7 năm 1941, quân Đức đã khóa chặt con đường đến thành phố Ostrov và Pskov. Ngày 11 tháng 7, Cụm tập đoàn quân Bắc (Đức) tiếp tục tấn công. Cánh phải của tập đoàn quân xe tăng 4 của tướng Erich Höpner phối hợp với cánh trái của tập đoàn quân 16 tấn công và đánh chiếm thành phố Pskov. Mặc dù không quân Liên Xô đã ném bom vào các bến vượt tại sông Tây Dvina nhưng quân đội Đức Quốc xã vẫn chiếm được một số đầu cầu quan trọng. Ngày 12 tháng 7, quân Đức tiếp tục tiến đến Kunda và Kingishep. Tuy nhiên, những nỗ lực của quân Đức tấn công Leningrad bằng đường biển đều bị Hạm đội Baltic của Liên Xô chặn đứng trước tuyến thủy lôi chặn ngang vịnh Phần Lan từ phía Đông Helsinky đến khu Oranielburg. Ngày 20 tháng 7, Cụm tập đoàn quân Bắc lại một lần nữa phải tạm dừng cuộc tấn công để đối phó với cuộc phản công của tập đoàn quân 42 (Liên Xô) vào Narva. Đến cuối tháng 8 năm 1941, tập đoàn quân 16 cắt đứt con đường sắt Moskva - Lenigrad tại tuyến Tosno, Liuban, Chudovo và tiến đến phía Nam hồ Ilmen, đe doạ cô lập Leningrad từ phía Tây Nam và dự kiến hội quân với quân đội Phần Lan tại bờ Đông hồ Ladoga. Tuyến đường sắt cuối cùng đến Leningrad chấm dứt hoạt động đến ngày 30 tháng 8. Ngày 23 tháng 8, Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô quyết định chia Phương diện quân Bắc thành Phương diện quân Leningrad và Phương diện quân Karelia.[14]
Đến ngày 8 tháng 9, con đường cuối cùng liên lạc với thành phố bị cắt đứt khi quân Đức tiến tới hồ Lagoda ở Orekhovets và Shlishenburg. Các trận pháo kích bắt đầu từ ngày 8 tháng 9 vói sự tham gia của 178 khẩu pháo. Ngày 7 tháng 9, do phải điều tập đoàn quân xe tăng 4 về hướng Moskva, theo chỉ thị của Hitler, quân Đức đã chuyển từ tấn công sang bao vây cô lập thành phố và không chấp nhận bất cứ một sự đầu hàng nào. Ý đồ của quân đội Đức là: "Sau khi tính đến những nhu cầu của con người tại mặt trận Leningrad, nơi đối phương tập trung một khối lượng lớn người và phương tiện vật chất thì tình hình ở đây căng thẳng cho tới lúc mà người đồng minh của chúng ta là nạn đói sẽ đến". Bên cạnh việc cô lập thành phố, Bộ chỉ huy Cụm tập đoàn quân Bắc (Đức) còn vạch một kế hoạch phá hủy thành phố một cách có hệ thống bằng không quân oanh tạc và pháo tầm xa cỡ lớn.[15]
Phong tỏa và chống phong tỏa [sửa]
Kế hoạch phòng thủ mới [sửa]
Ngay sau khi đến Leningrad ngày 9 tháng 9 nhận chức vụ tư lệnh Phương diện quân thay cho nguyên soái K. E. Voroshilov được điều động đi xây dựng các đơn vị dự bị chiến lược, đại tướng G. K. Zhukov đã yêu cầu thực hiện ngay các biện pháp phòng thủ mới:
- Rút ra một bộ phận pháo phòng không làm pháo bắn thẳng để tăng cường vũ khí cho các tuyến chống tăng;
- Tập trung hỏa lực của tất cả các pháo hạm để yểm hộ cho tập đoàn quân 42 đang phòng ngự trên dãy cao điểm Urisk - Punkovsky, hướng hiểm yếu nhất trên tuyến phòng thủ phía Tây Nam thành phố;
- Xây dựng hệ thống phòng ngự có chiều sâu gồm súng chống tăng, cao xạ, mìn chống tăng, các chướng ngại vật và hào chống tăng.
- Do quân Phần Lan chưa có hành động tấn công, điều chuyển một phần lực lượng của tập đoàn quân 23 tăng cường cho tập đoàn quân 42;
- Thành lập từ 5 đến 6 lữ đoàn bộ binh độc lập lấy từ lính hải quân của Hạm đội Baltic và học viên các trường quân sự. Động viên 9 sư đoàn dân quân với quân số khoảng 96.000 người.[13][16]
Ngày 10 tháng 9, tập đoàn quân 18 (Đức) được sự yểm hộ của máy bay ném bom và pháo binh hạng nặng tiếp tục công kích khu phòng ngự Urisk - Punkovsky. Việc Bộ Tư lệnh Phương diện quân điều động tập đoàn quân 23 tăng cường cho tập đoàn quân 42 đã kịp thời đẩy lùi các đợt công kích của quân Đức. Ngày 17 tháng 9, trước nguy cơ thành phố bị đánh chiếm, Bộ tư lệnh Phương diện quân Leningrad đã phải tung sư đoàn bộ binh 10 là lực lượng dự bị cuối cùng mà họ có trong tay vào cuộc phản kích. Hầu hết pháo cao xạ được rút ra khỏi nội thành và được điều đến các tuyến phòng thủ để chống lại bộ binh và xe tăng Đức. Tại địa đoạn Punkovsky, hơn 500 khẩu pháo các cỡ đã được đưa vào trận và chủ yếu sử dụng phương pháp bắn thẳng vào đội hình tấn công của quân Đức. Ngày 18 tháng 9, tập đoàn quân 54 (Liên Xô) tổ chức phản kích tại khu vực Kolpin - Puskin, buộc quân Đức phải ngừng cuộc tấn công vào khu phòng thủ Urisk - Punkovsky.[17] Ngày 6 tháng 10 năm 1941, Thống chế Wilhelm von Leeb chuyển quân đoàn xe tăng 56 và chủ lực của Cụm tập đoàn quân Bắc về hướng Tikhvin và tiến công vào khu vực "cổ chai" Shlishenburg, phía Nam hồ Ladoga. Tập đoàn quân 54 bị tách khỏi chủ lực Phương diện quân. Mặc dù Tập đoàn quân 4 (tái lập) đã mở ngay các cuộc công kích vào sườn cánh quân chủ lực của tập đoàn quân 16 (Đức) để thủ tiêu nguy cơ bao vây Leningrad nhưng do không đủ binh lực và phương tiện nên đến ngày 18 tháng 10, tập đoàn quân 16 (Đức) đã chiếm Tikhvin, tiến đến cửa ngõ thành phố Volkhov, cắt đứt tuyến đường sắt chính từ Volkhov đi Leningrad. Chỉ có hành động kiên quyết của các tập đoàn quân 4 và độc lập 7 (Liên Xô) dưới sự chỉ huy của đại tướng Kiril Mereskov mới chặn đứng được tập đoàn quân 16 (Đức) trên tuyến Mga, Volkhov, Tikhvin, Novgorod.[18]
Trong khi đó thì tập đoàn quân 54 dưới quyền chỉ huy của nguyên soái G. I. Kulik (do bị tách rời nên chuyển thuộc Phương diện quân Volkhov) đã hoàn toàn thụ động ngồi chờ quân Đức mặc dù họ có thể tấn công vào sườn phải quân đoàn cơ giới 41 (Đức). Động thái này của chỉ huy tập đoàn quân 54 đã dẫn đến hậu quả tai hại cho Phương diện quân Leningrad. Không bị đe dọa từ bên sườn, quân đoàn cơ giới 41 (Đức) tấn công thẳng vào Shlisselburg và siết chặt "chiếc thòng lọng" bao vây Leningrad. Ngày 19 tháng 9, không quân Đức Quốc xã mở một cuộc không kích lớn trong suốt 18 giờ liền vào Leningrad. Có đến 275 máy bay Đức tiến hành 6 đợt ném bom rải thảm liên tục từ 1 giờ 05 phút sáng đến 19 giờ tối, mở đầu cho chiến dịch bao vây, phá hoại và bóp chết Leningrad trong nạn đói và rét.[19]
"Tồn tại hay không tồn tại" [sửa]
Bảo vệ các công trình của thành phố
Ngày 8 tháng 9 năm 1941, bằng đòn tấn công chia cắt đoạn tiếp giáp giữa tập đoàn quân xung kích 4 và tập đoàn quân 54 của Liên Xô tại phía Nam hồ Ladoga, tập đoàn quân 16 (Đức) đánh chiếm đầu mối đường sắt Mga và khu vực "cổ chai" Shlisselburg. Ở phía Bắc, quân đội Phần Lan vẫn giữ phòng tuyến từ Lembolovo, vòng qua phía Bắc hồ Ladoga đến sông Svir ở phía Đông. Cụm chiến dịch ven biển của quân đội Liên Xô tại "mỏm Oranielbaum" cũng phải lùi về tuyến Petergov, Ust, Rudina. Leningrad hoàn toàn bị cắt đứt liên lạc trên bộ với đất nước Liên Xô. Tuyến đường thủy qua hồ Ladoga thường xuyên bị máy bay và pháo binh Đức quốc xã uy hiếp.[20] Ngày 2 tháng 9 năm 1941, Adolf Hitler ra chỉ thị cho Bộ tư lệnh hải quân Đức: "Cần phải tiến đến gần thành phố này và phá hủy nó bằng một dàn pháo binh của tất cả các cỡ đại bác và máy bay ném bom tầm xa". Do bị hạm đội Baltic ngăn chặn bằng tuyến thuỷ lôi trên vịnh Phần Lan, Hải quân Đức phải dùng đường sắt vận chuyển các loại pháo hạm, trong đó, nhiều khẩu có cỡ nòng từ 180 mm đến 420 mm đến vùng phụ cận Tây Nam và Nam Leningrad để bắn phá thành phố. Từ các trận địa pháo hạng nặng đặt tại Krasnoiye Selo, Krasnoiye Vardeisk, Sluck, quân đội Đức Quốc xã tiếp tục gia tăng các cuộc pháo kích vào Leningrad. Máy bay ném bom của Đức hầu như làm chủ không phận Leningrad. Trong thời gian vây hãm Leningrad, quân đội Đức Quốc xã đã sử dụng khoảng 150.000 quả đạn đại bác, hơn 100.000 quả bom cháy, khoảng 4.600 quả bom phá để hủy hoại thành phố. Nhiều công trình quan trọng trong thành phố sập đổ. Người dân Leningrad đã dựng những locot (Блокада) để bảo vệ các công trình kiến trúc và nghệ thuật quan trọng của thành phố.[21][22]
Vấn đề lương thực thực phẩm
Đến ngày 2 tháng 9, khẩu phần ăn của người dân Leningrad bắt đầu bị cắt giảm: một công nhân được cung cấp 600 g bánh mì một ngày, lao động bình thường được 400 g, trẻ em và các thành phần khác được 300 g một ngày. Một lượng lớn ngũ cốc, bột và đường bị phá hủy vào ngày 8 tháng 9. Một vài sau khi cuộc bao vây bắt đầu, người ta vẫn có thể ăn trong một vài nhà hàng nên chỉ trong một thời gian ngắn như vậy, các nhà hàng này đã tiêu thụ hết 12% mỡ và 10% thịt dự trữ của thành phố. Đầu mùa đông năm 1941, những khó khăn lớn về lương thực thực phẩm đã xuất hiện. Do mặt hồ Ladoga bắt đầu đóng băng, các trận bão tuyết hoành hành khiến cho tuyến tiếp tế đường thủy phải ngừng hoạt động. Nạn đói bắt đầu đe doạ. Từ ngày 20 tháng 11, khẩu phần thực phẩm của quân đội và dân thường đã phải rút xuống vài lần: Mỗi công nhân chỉ được 250 g bánh mỳ/ngày; người sống nương nhờ và trẻ em được 125 g bánh mỳ/ngày; những người lính trên tuyến 1 và trên các tàu chiến được nhận mỗi ngày 300 g bánh mỳ và 100 g bánh bicote. Tại nhiều điểm phân phát lương thực trong thành phố, người ta đã phải dùng đến cân tiểu ly để cân chính xác từ gam cho một khẩu phần bánh mỳ mà giờ đây đã trở nên quý hơn vàng.[23]
Một đội tàu nhỏ của hồ Lagoda được trang bị thô sơ và dễ dàng bị máy bay Đức ném bom phá hủy, mấy chiếc xà lan chở ngũ cốc bị chìm vào tháng 9. Một số được trục vớt lên bằng các đội thợ lặn và ngũ cốc bị ẩm này được sử dụng để làm bánh mì nướng. Khi tất cả các nguồn dự trữ bột mì đã hết một số nguồn khác như cellulose và bán khô dầu cho súc vật được tận dụng. Yến mạch cho ngựa cũng được trưng dụng làm thực phẩm, còn ngựa thì được nuôi bằng lá cây. Khi 2000 tấn lòng cừu được tìm thấy ở bến cảng, một món giò đã được làm từ số lòng cừu này. Sau đó, thịt cũng được thay thế bằng giò và da bê thối. Trong suốt cuộc bao vây, có tổng cộng năm đợt giảm khẩu phần: ngày 2 tháng 9, 10 tháng 9, 1 tháng 10, 13 tháng 11 và lần cuối cùng vào ngày 20 tháng 11 năm 1941. Mức độ thiếu ăn được khắc phục phần nào nhờ những vườn cây tự trồng trong các vùng đất của thành phố vào năm 1943.[24]
Vấn đề năng lượng
Cuối tháng 9, nguồn cung cấp dầu và than đá bắt đầu cạn kiệt. Nguồn năng lượng duy nhất vào lúc này là các loại củi. Ngày 8 tháng 10, Ban chỉ huy quân quản và hội đồng thành phố Leningrad (Ленгорисполком) quyết định chặt toàn bộ cây tại các quận Pargolovo và Vsevolzhskiy ở phía Bắc thành phố. Đến ngày 24 tháng 10, hầu như tất cả các loại cây đã bị đốn bỏ để lấy củi. Đến đầu tháng 11, Leningrad đã sử dụng hết những dự trữ nhiên liệu cuối cùng. Do sự thiếu thốn năng lượng, nhiều nhà máy phải đóng cửa vào tháng 11 và tất cả các dịch vụ vận chuyển công cộng đều không thực hiện được. Hệ thống cấp nước của thành phố bị bom và đạn pháo phá hủy. Nguồn nước sử dụng chủ yếu lấy từ sông Neva dưới làn đạn đại liên của quân Đức ở bên kia bờ sông quét sang. Vào mùa hè năm 1942, một số đường ray trong nội bộ thành phố được khôi phục, nhưng các loại xe điện, xe buýt chạy trên đường ray và xe goòng đẩy tay vẫn không thể tới thành phố cho đến khi vòng phong tỏa bị phá vỡ. Việc sử dụng năng lượng bị hạn chế ở nhiều nơi, ngoại trừ căn cứ trung tâm chỉ huy đặt tại điện Smolny, hội đồng thành phố, các căn cứ phòng thủ và một số trung tâm khác.[25][26]
Việc thiếu chất đốt cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến thường dân còn mắc kẹt tại thành phố không kém gì sự thiếu thốn lương thực, thực phẩm. Họ đã phải chịu đựng hai mùa đông khắc nghiệt nhất của vùng Vòng Bắc cực lạnh giá từ năm 1941 đến năm 1943. Nhiều người đã chết trong hoàn cảnh vừa đói, vừa rét. Tại Nhà lưu niệm của nghĩa trang Piskarevskoye, nơi chôn cất hơn 600.000 người dân Leningrad chết vì đói và rét trong gần 900 ngày bị phong tỏa còn lưu trữ những trang nhật ký của Tanya Shavicheva, một thiếu nhi 11 tuổi với những dòng chữ to ghi lại thời điểm những người thân của em qua đời:
- "Zhenia chết lúc 12 giờ 30 phút chiều ngày 28 tháng 12 năm 1941
- Granny chết lúc 3 giờ chiều ngày 25 tháng 1 năm 1942
- Lyoka chết lúc 5 giờ sáng ngày 17 tháng 3 năm 1942
- Bác Vasia chết lúc 2 giờ sáng ngày 13 tháng 4 năm 1942
- Bác Liosa chết lúc 5 giờ chiều ngày 10 tháng 5 năm 1942
- Mẹ chết lúc 7 giờ 30 phút ngày 13 tháng 5 năm 1942
- Shavichev đã chết.
- Tất cả mọi người đã chết"
- Bỏ lại mình cô đơn"
Cuối cùng, chính Tanya Shavicheva cũng không tránh khỏi cái chết. Mặc dù được đưa đến nơi sơ tán nhưng em đã chết năm 1943 vì kiệt sức.[27]
Hậu phương tại chỗ của mặt trận [sửa]
Cuộc tấn công và phong tỏa kéo dài của quân đội Đức Quốc xã đã không thể bóp chết được Leningrad. Trong những ngày chiến đấu để bảo vệ Leningrad, hơn nửa triệu thường dân đã tham gia xây dựng hàng trăm km chiến hào, hàng trăm km hào chống tăng, hàng rào dây thép gai, vật cản chống tăng, hàng nghìn hỏa điểm kiên cố bằng bê tông và ụ súng bằng gỗ đắp đất. Các nhà máy được lệnh sản xuất hàng nghìn chướng ngại vật bằng thép và bê tông cốt thép, có trọng lượng từ 0,5 đế 3 tấn dùng để ngăn cản xe tăng. Nhiều ngôi nhà bằng đá được kết cấu lại thành những pháo đài nhỏ. Mặc dù bị thu hẹp sản xuất do phải sơ tán về hậu phương và thiếu hụt nghiêm trọng về nguyên liệu, nhiên liệu nhưng các nhà máy tại Leningrad vẫn cố gắng duy trì hoạt động, vẫn sản xuất được xe tăng, đại bác, súng cối, súng máy, tiểu liên, súng trường, các loại đạn dược. Việc sửa chữa lại vũ khí, phương tiện quân sự bị hư hỏng cũng được tiến hành song song với sản xuất. Các nhà máy quân sự ở Leningrad là một trong những cơ sở đầu tiên sản xuất loại pháo phản lực Katyusha BM-13.[28]
Kể từ khi bị cắt đứt giao thông trên bộ với bên ngoài, Phương diện quân Leningrad chỉ còn có thể nhận được súng bộ binh, đạn và pháo hạng nhẹ từ nội địa Liên Xô. Việc bù đắp hiệt hại về vũ khí nặng, nhất là xe tăng phải trông cậy vào các nhà máy tại thành phố, trong đó có nhà máy Kirov chuyên sản xuất xe tăng hạng nặng KV. Các nhà máy cơ khí khác cũng được huy động vào việc bảo đảm vũ khí, đạn dược và các loại quân trang, quân dụng cho mặt trận. Chỉ trong 6 tháng cuối năm 1941, các nhà máy này đã sản xuất được 713 xe tăng, 480 xe bọc thép, 58 tàu hỏa bọc thép, hơn 3.000 súng chống tăng, gần 10.000 pháo, súng cối các cỡ và hơn 3 triệu viên đạn pháo. Số vũ khí khí tài này đã góp phần bù đắp những thiệt hại về vật chất cho Phương diện quân trong tình trạng bị bao vây.[29]
"Con đường sống" [sửa]
Trong những ngày bị phong toả, hồ Ladoga trở thành "con đường sống" (Дорога жизни) của thành phố Leningrad. Đầu năm 1942, khi mặt băng trên hồ Ladoga đã rắn chắc, Liên Xô đã tổ chức vận chuyển cho mặt trận Leningrad súng đạn, lương thực, thực phẩm, thuốc men và nhiên liệu. Tuy với số lượng hạn chế do các đoàn xe ô tô có trọng tải không lớn chạy theo các tuyến đường đã được xe dọn tuyết mở ra trên mặt băng nhưng đã giảm bớt nhiều khó khăn cho thành phố. Mặc dù hoạt động dưới những trận không kích thường xuyên của không quân Đức Quốc xã, đoàn xe vẫn đến được Leningrad và khi quay về, họ chở theo thương binh, những người ốm, phụ nữ, người già và trẻ em.[30] Từ tháng 6 năm 1941 đến tháng 3 năm 1943, đã có 1,7 triệu/3,1 triệu người dân Leningdad đã được sơ tán về phía đông, trong đó có 414.000 trẻ em. Tuy nhiên, đã có 632.253 người chết vì đói và rét, trong đó ngay mùa đông năm đầu tiên bị phong tỏa (1941-1942) đã có hơn 263.000 người chết.[27]
Trong mùa hè năm 1942, mặc dù phải bận đối phó với cuộc tổng tấn công dữ dội của quân đội Đức Quốc xã tại cánh Nam mặt trận Xô-Đức; Nhà nước và Bổ tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô vẫn không từ bỏ ý định bảo vệ bằng được thành phố Leningrad. Đầu tháng 6 năm 1942, thành phố đã nhận được những tấn dầu hỏa đầu tiên qua một đường ống dài 25 km đặt ngầm dưới đáy hồ Ladoga. cuối tháng 7 năm 1942, nguồn điện của nhà máy thủy điện Volkhov vừa được khôi phục đã đến được với Leningrad qua một đường cáp điện cũng được đặt ngầm dưới hồ. Hai nguồn năng lượng quan trọng được tiếp tế đã giúp khôi phục hoạt động của một số nhà mày, xí nghiệp, trong đó có các nhà máy sản xuất vũ khí, đạn dược và các thiết bị quân sự. Các tuyến đường thủy đã được khôi phục ngay khi mặt hồ Ladoga tan băng và vận chuyển đến thành phố những nhu yếu phẩm cần thiết; trong đó, ưu tiên số một vẫn là lương thực, thực phẩm và than đá.[31]
"Con đường chiến thắng" [sửa]
Sau khi hợp vây tập đoàn quân đoàn quân 6 và một phần tập đoàn quân xe tăng 4 tại Stalingrad và chắc chắn sẽ đánh tan đạo quân Đức này, Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô vạch kế hoạch chiến dịch "Tia lửa" ("Искра") nhằm chọc thủng vòng phong tỏa của quân đội Đức để tiếp tế cho Leningrad. Đêm 11 rạng ngày 12 tháng 1 năm 1943, Quân đội Liên Xô thuộc hai phương diện quân Volkhov và Leningrad đã đẩy lùi quân Đức ra khỏi khu vực "cổ chai" Shlisselburg, chiếm được một đoạn hành lang rộng từ 15 đến 30 km phía Nam hồ Ladoga. Đêm 18 rạng ngày 19 tháng 1 năm 1943, sau khi hai cánh quân tiên phong của hai phương diện quân gặp nhau, Đài phát thanh Liên Xô loan tin: "vòng phong tỏa Leningrad đã bị phá vỡ".[32] Ngay sau khi chiếm được khu vực Shlisselburg, Hội đồng quốc phòng Nhà nước Liên xô đã quyết định xây dựng cấp bách một tuyến đường sắt dài 36 km từ ga Zhikharevo đến Shlisselburg. Mặc dù trong khu vực mới chiếm lại được vẫn còn đầy mìn, bom và đạn pháo chưa nổ; mặc dù dưới thời tiết giá buốt dưới 0 độ với những trận tuyết rơi liên tiếp, chỉ sau 15 ngày, tuyến đường sắt này đã đi vào hoạt động. Cùng với con đường sắt dã chiến, người dân Leningrad còn xây dựng một chiếc cầu tạm qua sông Neva. Ngày 11 tháng 2 năm 1943, những chuyến tàu chở bột mỳ, than đá, dầu, quặng kim loại, vũ khí đầu tiên đã đến được Leningrad. Người dân Leningrad gọi đây là "con đường chiến thắng" (Дорога победы). Cùng với "con đường sống", "con đường chiến thắng" cũng đã đi vào lịch sử như một biểu tượng của thành phố. Nó góp phần đẩy lùi những ngày sống trong đói rét của người dân Liên Xô tại thành phố này mặc dù bom đạn vẫn chưa ngưng nổ trên các đường phố. "Con đường chiến thắng" đánh dấu bước tiếp theo sự phá sản đối với các kế hoạch của quân đội Đức Quốc xã định bóp chết thành phố trong lửa đạn, giá rét và nạn đói.[12]
Phá vỡ vòng phong toả [sửa]
Để tăng cường chỉ huy quân đội Liên Xô tại khu vực Tây Bắc lãnh thổ trong điều kiện Phương diện quân Leningrad bị bao vây hoàn toàn, ngày 17 tháng 12 năm 1941, Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô thành lập Phương diện quân Volkhov gồm các tập đoàn quân xung kích 2, 52 và 54 do đại tướng K. A. Mereskov làm tư lệnh với nhiệm vụ ngăn chặn quân Đức tiến về hướng biển Barents và hỗ trợ cho cuộc phòng thủ của Phương diện quân Leningrad. Nếu điều kiện thuận lợi, Phương diện quân này sẽ phối hợp với Phương diện quân Leningrad tổ chức phá vây.
Chiến dịch Lyuban [sửa]
Đầu tháng 1 năm 1942, Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô dự kiến tổ chức một chiến dịch cục bộ tại khu vực Lyuban; sử dụng đòn tấn công phối hợp của các phương diện quân Volkhov đánh từ bên ngoài vào và phương diện quân Leningrad đánh từ phía trong ra nhằm tiêu diệt các quân Đức đã tiến đến hồ Ladoga ở khu vực Shlisselburg để giải tỏa cho Leningrad. Trọng điểm của chiến dịch là chiếm lại khu vực Lyuban, nơi có các nhà ga đầu mối Lyuban và Chudovo trên con đường sắt Moskva - Leningrad đã bị quân đội Đức Quốc xã chiếm đóng từ tháng 8 năm 1941. Theo kế hoạch, Phương diện quân Volkhov sử dụng tập đoàn quân xung kích 2 (nguyên là tập đoàn quân 20) có trong biên chế 8 sư đoàn bộ binh và một sư đoàn xe tăng tấn công từ tuyến Spaskaia Polist - Mosiky - Myasnoi Bory về hướng Lyuban và sông Oredesh, đánh chiếm Chudovo và tiến đến Lyuban. Phương diện quân Leningrad chỉ còn tập đoàn quân 54 có trong biên chế 5 sư đoàn bộ binh đang bị cắt rời khỏi chủ lực Phương diện quân đóng tại Tây Nam hồ Ladoga là có thể tham chiến. Theo kế hoạch, tập đoàn quân này phải tiến công trên chính diện từ Lodva đến sông Volkhov về Lyuban và Chudovo. Chiều sâu nhiệm vụ của tập đoàn quân xung kích 2 dài gần gấp đôi chiều sâu nhiệm vụ của tập đoàn quân 54. Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô cho rằng với binh lực mạnh hơn, tập đoàn quân này sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Phó Tổng tư lệnh G. K. Zhukov cho rằng hệ thống phòng thủ của quân Đức tại đây khá nghiêm mật, cứng rắn, địa hình lại bao gồm nhiều vùng hồ và đầm lầy, rất khó phát triển tấn công nếu không có các binh đoàn cơ giới đủ mạnh.[33]
Quyết định tấn công vẫn được I. V. Stalin thông qua do tư lệnh Phương diện quân Leningrad, tướng M. S. Khozin bảo đảm sẽ huy động đầy đủ tập đoàn quân 54 vào hướng thứ yếu. Ngày 22 tháng 3 năm 1942, tập đoàn quân xung kích 2 do thiếu tướng A. A. Vlasov tấn công trên hướng chủ yếu đã chọc thủng trận tuyến Spaskaia Polist - Mosiky - Myasnoi Bory của quân Đức, vừa tiến nhanh về phía sông Oredesh vừa phát triển đến Lyuban. Do hành động không dứt khoát, tập đoàn quân 54 của nguyên soái G. I. Kulik tiến rất chậm, không những không đến được Lyuban mà còn không hỗ trợ được tập đoàn quân xung kích 2 chiếm Chudovo. Do không bị đe dọa từ sau lưng, quân đoàn 1 phối hợp với quân đoàn 28 (Đức) tấn công vào hai bên sườn, bịt được cửa mở và bao vây Tập đoàn quân xung kích 2 trong vùng đầm lầy. Trong khi phải hành động tích cực hơn để cứu tập đoàn quân xung kích 2 thì trung tướng M. S. Khozin lại cho rằng cần sáp nhập hai phương diện quân lại để dễ chỉ huy. Tuy bị Tổng tham mưu trưởng B. M. Shaposnikov phản đối nhưng I. V. Stalin vẫn đồng ý với đề nghị này. Mặc dù biết rằng tập đoàn quân xung kích 2 không còn sức tấn công nhưng M. S. Khozin vẫn không chịu rút tập đoàn quân này ra và hậu quả nghiêm trọng đã đến. Cuối tháng 5 năm 1942, tướng A. A. Vlasov, tư lệnh tập đoàn quân xung kích 2 chạy sang đầu hàng và nhận làm việc cho quân Đức. Ngày 8 tháng 6 năm 1942, Phương diện quân Volkhov được tái lập, vẫn do đại tướng Mereskov chỉ huy đã sử dụng các tập đoàn quân 4, 52 và 59 liên tục công kích vào phía sau các quân đoàn bộ binh 1 và 28 của quân Đức và giải cứu được phần lớn tập đoàn quân xung kích 2. Chiến dịch Lyuban nhằm phá vây cho Leningrad thất bại. Vì những sai lầm nghiêm trọng này, nguyên soái G. I. Kulic bị giáng cấp xuống đại tướng và được điều về phụ trách Tổng cục pháo binh, trung tướng M. S. Khozin bị cách chức tư lệnh phương diện quân Leningrad, bị giáng cấp quân hàm xuống thiếu tướng và điều về Bộ Tổng tham mưu làm trợ lý. Trung tướng L. A. Govorov được chỉ định làm tư lệnh Phương diện quân Leningrad.[34] Năm 1945, tướng A. A. Vlasov và quân đoàn giải phóng nước Nga của ông ta chiến đấu trong đội hình Cụm tập đoàn quân Trung tâm của quân đội Đức Quốc xã bị quân đội Liên Xô bắt sống gần Plezel (Tiệp Khắc). Năm 1946, Vlasov và các tướng X. N. Krasnov, Skuro, Suntal Ghirey trong các đội quân Nga chiến đấu cho Đức Quốc xã bị Toà án Liên Xô kết án tử hình vì tội phản bội Tổ quốc.[35]
Chiến dịch Tia Lửa [sửa]
Ngày 28 tháng 12 năm 1942, phát hiện các tập đoàn quân 16 và 18 của Đức chuyển sang phòng thủ mùa đông, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô phê duyệt kế hoạch chiến dịch "Iskra" ("Tia lửa") nhằm giải vây cơ bản cho Leningrad, thủ tiêu sự uy hiếp của tập đoàn quân 16 (Đức) trên tuyến Shernaia Reska, Shlissenburg, Livka, Siniavino phía nam hồ Ladoga, khôi phục hoàn toàn và chắc chắn tuyến giao thông giữa Leningrad với nội địa Liên Xô.[36] Về chiến thuật, quân đội Liên Xô vẫn sử dụng cánh trái của Phương diện quân Leningrad và cánh phải của Phương diện quân Volkhov. Tại cánh trái Phương diện quân Leningrad, tập đoàn quân 67 do tướng M. P. Dukhanov chỉ huy vượt sông Neva đánh vào tuyến phòng thủ của cánh trái tập đoàn quân 18 (Đức) trên tuyến Moskovskaia - Dubrovka - Shlissenburrg và hợp điểm với cánh phải của Phương diện quân Volkhov. Yểm hộ sườn phải cho tập đoàn quân 67 có tập đoàn quân 55 do tướng V. P. Sviridov chỉ huy. Chủ lực cánh phải của Phương diện quân Volkhov vẫn là tập đoàn quân xung kích 2 do tướng B. Z. Romanovssky chỉ huy, yểm hộ sườn trái cho tập đoàn quân này có tập đoàn quân 8 do tướng F. N. Starikov chỉ huy. Quân đội Đức phòng thủ tại mặt trận có các quân đoàn bộ binh 170 và 227, các sư đoàn bộ binh 21, 61, 96 và sư đoàn cơ giới SS "Polisha".[37]
Đêm 11 rạng ngày 12 tháng 1 năm 1943, sau cuộc tập kích đường không với hàng trăm máy bay ném bom thuộc không đoàn 14, hơn 4.500 khẩu pháo từ phía sau trận tuyến của quân đội Liên Xô pháo kích trong 2 giờ 20 phút dọn đường cho cuộc tấn công. Tham gia phối hợp còn có các chiến hạm và máy bay của Hạm đội Baltic. Ngày 18 tháng 1 năm 1943, tập đoàn quân 67 của Phương diện quân Leningrad và tập đoàn quân xung kích 2 đã gặp nhau tại các khu công nhân số 1 và số 5, phía Nam Shlisselburg, chọc thủng vòng phong tỏa của quân Đức.[38] Hitler la lối, khiển trách tướng Georg Lindemann (tư lệnh tập đoàn quân 18) về thất bại này. Ông ta yêu cầu: "Tập đoàn quân 18 không được lùi một bước, phải giữ Leningrad trong vòng phong toả". Tuy nhiên, do đã điều động quá nhiều xe tăng, thiết giáp cho phía Nam mặt trận Xô- Đức, quân đội Đức Quốc xã không còn các binh đoàn cơ giới đủ mạnh để phản kích lấy lại khu vực "cổ chai" Shlisselburg.[39] Mặc dù vẫn còn sử dụng được pháo binh từ cứ điểm Siniavinsk để bắn phá thành phố nhưng về cơ bản, kế hoạch bóp chết Leningrad trong vòng phong tỏa của quân đội Đức Quốc xã đã hoàn toàn thất bại. Vòng phong tỏa Leningrad đã bị phá vỡ sau 871 ngày đêm tồn tại.[40]
Nhằm ngăn chặn quân đội Đức Quốc xã rút thêm các binh đoàn cơ giới còn lại để ném vào trận Kursk, từ ngày 21 tháng 7 đến ngày 22 tháng 8 năm 1943, các Phương diện quân Leningrad và Volkhov tiếp tục mở các trận đánh tại khu vực Siniavino - Mga. Tham gia trận đánh có các tập đoàn quân 8, 67 và quân đoàn cơ giới 30. Chống lại cuộc tấn công này có quân đoàn bộ binh 24 (Đức) gồm 5 sư đoàn bộ binh 1, 11, 23, 132, 290 và sư đoàn cơ giới 5. Mặc dù không thực hiện được ý định hội quân tại Mga để hợp vây quân đoàn 24 tại khu phòng thủ kiên cố Siniavino nhưng tập đoàn quân 8 và quân đoàn cơ giới 30 đã chiếm được hai bàn đạp quan trọng tại Anenskoie và Porecy, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cuộc tổng phản công của quân đội Liên Xô tại mặt trận Leningrad trong chiến dịch Narva.[41]
Chiến dịch Krasnoye Selo-Ropshinkaia [sửa]
Ngày 12 tháng 10 năm 1943, Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô phê chuẩn kế hoạch chiến dịch Krasnoye Selo-Ropshinkaia nhằm đẩy lùi tập đoàn quân 18 ra khỏi tỉnh Leningrad, chiếm lĩnh một số bàn đạp để phát triển tấn công, chia cắt Cụm tập đoàn quân Bắc của quân đội Đức Quốc xã với Cụm tập đoàn quân Trung tâm và cô lập cụm quân này tại vùng Pribaltic.[42] Nhận thấy không đủ lực lựợng để phòng ngự trên một trận tuyến dài hơn 200 km bao quanh Leningrad từ Phía Tây và phía Nam, Thống chế Wilhelm Ritter von Leeb đề nghị rút quân về giữ tuyến biên giới của các nước cộng hòa vùng Baltic và Belorussia để thu hẹp chính diện mặt và rút ngắn tuyến vận tải hậu cần đã quá dài. Tuy nhiên, ngày 9 tháng 1 năm 1943, Hitler cách chức ông ta và đưa viên tướng Walter Model kế nhiệm với mệnh lệnh cấm rút quân. Với 44 sư đoàn và 4 lữ đoàn, trấn giữ tuyến phòng thủ từ Leningrad đến Velikie Luky có chiều sâu phòng ngự từ 250 đến 300 km được cấu trúc kiên cố, Führer cho rằng quân Đức có thể trụ lại được.[43]
Để chuẩn bị cho chiến dịch, từ ngày 9 tháng 1 năm 1944, tập đoàn quân xung kích 2 (Liên Xô) đã sử dụng tàu chiến và tàu vận tải của Hạm đội Baltic đổ bộ lên "mỏm Oranielbaum", hình thành một bàn đạp tấn công ngay sau lưng quân đoàn bộ binh 50 và quân đoàn cơ giới 3 SS (Đức). Ngày 14 tháng 1 năm 1944, tập đoàn quân xung kích 2 và tập đoàn quân 42 (Liên Xô) tấn công hợp điểm vào Krasnoye Selo-Ropshinkaia, hợp vây và tiêu diệt quân đoàn bộ binh 50 (Đức). Quân đoàn cơ giới 3 SS (Đức) rút được một bộ phận ra khỏi "cái túi" Ropshinkaia nhưng phải bỏ lại hầu hết vũ khí nặng. Thất bại trên cánh trái tập đoàn quân 18 đã đặt quân đoàn bộ binh 54 và quân đoàn bộ binh 28 của tập đoàn quân này đang hoạt động tại khu vực Mga vào thế bị hở sườn. Ngày 16 tháng 1, tập đoàn quân 67 (Phương diện quân Leningrad) và tập đoàn quân 8 (Phương diện quân Volkhov) đã đánh bật các quân đoàn bộ binh 28 và 54 (Đức) khỏi khu vực Mga, Toxno. Ngày 22 tháng 1, tập đoàn quân 42 chiếm lại các thị trấn Puskino, Krasno Gvardeisk và phát triển tấn công đến Kiginsev và Bolshoi Sabsk trên bờ Đông sông Luga. Sau hai ngày, tập đoàn quân xung kích 2 cũng chiến được các thị trấn Sista Palkino và Kotly trên bờ đông sông Narva. Ở cánh trái của mặt trận, ngày 24 tháng 1, tập đoàn quân 67 vượt sông Orodezh tiêu diệt cụm phòng thủ Siversky của quân Đức và tiến đến sát cửa ngõ Novinka[44]. Ngày 26 tháng 1, Phương diện quân Volkhov cũng chiếm được thành phố cổ Novgorod, khép chặt sườn phải của họ với sườn trái của Phương diện quân Leningrad. Ngày 27 tháng 1, Moskva bắn pháo hoa chào mừng thành phố Leningrad đã được giải thoát hoàn toàn khỏi vòng phong toả.[45] Vì thất bại này, ngày 31 tháng 3 năm 1944, Hitler lại cách chức tướng Georg Lindemann và cử tướng Johannes Frießner kế nhiệm chức vụ tư lệnh Cụm tập đoàn quân Bắc.
Kết quả của trận đánh [sửa]
Thiệt hại về nhân mạng [sửa]
Cuộc bao vây phong tỏa Leningrad đã đưa lại thiệt hại lớn về quân sự cho cả hai bên. Phía Liên Xô có 332.059 quân nhân tử trận, 24.324 người bị quân Đức bắt làm tù binh, 111.142 quân nhân bị thương tật. Phía quân đội Đức Quốc xã cũng có hơn 500.000 người chết và bị thương[3]. Mặc dù Liên Xô đã sơ tán khoảng 1.700.000 người nhưng vẫn còn hơn 1.400.000 dân bị kẹt lại tại Leningrad. Sau 871 ngày bị bao vây hoàn toàn, (nếu tính cả những ngày bị phong tỏa đến 27 tháng 1 năm 1944 là hơn 900 ngày), số dân thường bị thiệt mạng vì đói rét lên đến 632.253 người, trong đó có khoảng 234.000 người chết đói và chết rét ngay trong mùa đông đầu tiên của cuộc phong tỏa (1941-1942). Nếu tính cả số người chết vì bom đạn thì con số này lên trên 1 triệu người. Nhiều gia đình bị thiệt mạng từ 6 đến 7 người[27]. Hầu hết các nạn nhân được chôn tại nghĩa trang Piskarevskoye.
Thiệt hại vật chất [sửa]
Ngoài máy bay, xe tăng, đại bác, tàu thủy và các chiến cụ của hai bên bị phá hủy trong các trận đánh, Leningrad còn bị thiệt hại đáng kể về vật chất. Các thống kê sau chiến tranh cho thấy có đến 16.747 công trình xây dựng đã bị phá hủy hoặc hư hại nặng nề. Trong số đó có khu trang trại của gia đình Pushkin, bảo tàng tu viện gia đình Pushkin, tu viện Sviatogorsky, trang viên Mikhailovskoie nằm trong vùng bị quân Đức chiếm đóng.[46] Vì không chiếm được thành phố nên quân đội Đức Quốc xã đã phá hủy các công trình xây dựng một cách có hệ thống bằng máy bay ném bom và các khẩu siêu đại bác. Tất cả các mục tiêu đều được lập danh sách, được đánh số mục tiêu trên bản đồ và thực hiện ngắm bắn, ném bom theo tọa độ. Trong số đó có các mục tiêu quan trọng như: Viện bảo tàng Hermitage (có tầm cỡ sánh ngang với Bảo tàng Anh Quốc, Bảo tàng Louvrre, Bảo tàng mỹ thuật quốc gia Washington, Bảo tàng Germangalery Dresdel) được đánh số 9; số 192 là Cung Văn hóa thanh thiêu niên; số 708 là bệnh viện chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh, số 736 là Trường Đại học Leningrad (nay là Đại học Sankt Peterburg)...[47]
Ngay từ những ngày đầu chiến tranh, người dân Leningrad đã kịp sơ tán các hiện vật quý khỏi thành phố nhưng Viện bảo tàng Hermitage vẫn bị thiệt hại nặng nề trong các trận ném bom. Trong số những hiện vật có giá trị cao được cứu ra khỏi bảo tàng có bức tranh Đức Mẹ của Leonar de Vinci, bức tranh Đức Mẹ của Rafael. Đến tháng 7 năm 1941, ngay trước khi vòng phong tỏa bị khép chặt, một chuyến xe lửa gồm 20 toa chở 1.422 thùng hàng trong đó chứa đựng hơn 700.000 hiện vật đã khởi hành từ Leningrad chạy thẳng đến Siberi. Những tác phẩm nghệ thuật quý giá nhất được chứa trong các toa bọc thép. Tuy nhiên, cũng vẫn còn nhiều tác phẩm chưa kịp sơ tán và vẫn "sống sót" qua gần 900 ngày bị phong tỏa.[48]
Cuộc phong tỏa Leningrad trong văn hóa nghệ thuật [sửa]
Năm 1945, ngay sau khi chiến tranh kết thúc, cùng với Moskva, Stalingrad, Kiev, Odessa, Rostov on Don, Sevastopol, thành phố Leningrad được phong tặng danh hiệu thành phố anh hùng. Tính chất bi hùng của cuộc chống phong tỏa và phá vỡ vòng phong tỏa đã được các thế hệ người Xô Viết trước đây và người Nga hiện nay phản ánh trong nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật. Những tác phẩm này thậm chí ra đời ngay khi thành phố vẫn đang bị bao vây và tàn phá nặng nề.
Tác động về văn hóa và kiến trúc [sửa]
Trên hình là biểu tượng kỷ niệm "con đường sống" của Leningrad. Cuộc bao vây này đã để lại những ấn tượng khó phai trong lòng các cư dân của thành phố, ít nhất là một thế hệ sau cuộc chiến. Thành phố Leningrad luôn tự hào về văn hóa của thành phố, cho dù một thư viện hai trăm năm tuổi hoặc những cái chết vì băng giá. Những điều kiện sống trong thành phố bị bao vây và nạn đói luôn là nỗi ám ảnh qua nhiều thế hệ. Mặt khác, thành phố đã kháng cự lại cuộc bao vây trong gần 3 năm, vì thế sự tự hào của người dân thành phố là vô cùng hiển nhiên: "Troia và Roma có thể sụp đổ, nhưng Leningrad vĩnh viễn không bao giờ thất bại." Vào năm 2000, một tòa nhà nằm ở ngoại ô của Sankt-Peterburg được xây trước cuộc bao vây vẫn còn được giữ lại.
Cuộc bao vây thành phố được tưởng niệm vào cuối những năm 1950 bởi Green belt of Glory, một vòng bằng cây và đài tưởng niệm đã được xây dựng trên chiến tuyến lịch sử. Một bảng cảnh báo của thành phố thôn báo cho người dân tránh các cuộc oanh kích của quân Đức vẫn còn được giữ lại. Các hướng dẫn viên du lịch thông báo cho du khách biết rằng không nên đi bộ trong vườn khi có sấm sét, vì các mảnh đạn còn sót trong các thân cây có thể thu hút sét dễ dàng.
Tác động đối với nghệ thuật âm nhạc [sửa]
Dmitri Dmitrievich Shostakovich đã viết bản giao hưởng số 7, một số được viết trong điều kiện bị bao vây. Theo Solomon Volkov, Shostakovich nói rằng "bản nhạc này không phải viết về cuộc bao vây Leningrad mà viết về sự phá hủy thành phố do Stalin gây ra và Hitler là người kết thúc nó"[cần dẫn nguồn]
Ca sỹ Mỹ Billy Joel đã viết một bài hát có tên gọi "Leningrad" như là một minh chứng cho cuộc bao vây này. Bài hát nói về một chàng trai trẻ người Nga, Viktor, người đã mất cha trong cuộc bao vây.
Tác động đối với nghệ thuật văn chương [sửa]
- Nhà văn Mỹ Elise Blackwell đã xuất bản cuốn sách "Hunger" vào năm 2003, nói về những sự kiện lịch sử trong suốt cuộc bao vây.
- Nhà văn Anh Helen Dummore viết một tác phẩm văn chương đạt giải thưởng cho tiểu thuyết. Cuốn sách kể về những sự kiện chính trong cuộc bao vây và cho thấy những ảnh hưởng của nó lên những người không trực tiếp tham gia cuộc chiến.
- Vào năm 1982, Daniil Granil và Ales Adamovich xuất bản cuốn "The Blockede Book", cuốn sách này tập hợp các lời kể và hồi kí của các nhân chứng trong cuộc chiến. Cuốn sách đã chịu sự kiểm duyệt gắt gao của nhà cầm quyền Xô Viết do sự miêu tả chân thực tâm trạng con người một điều ảnh hưởng đến "chủ nghĩa anh hùng" mà chính quyền Xô Viết đã xây dựng.
- Một tác giả người Israel gốc Ả Rập Emil Habibi đã đề cập đến cuộc bao vây trong truyện ngắn "The Love in my Heart". Nhân vật chính trong truyện của tác giả đã viếng thăm nghĩa địa của các nạn nhân trong cuộc chiến và bị kẹt lại trong một khung cảnh mà anh ta nhìn thấy trong tâm tưởng của nhân vật này.
Tác động đối với nghệ thuật điện ảnh [sửa]
- Đạo diễn phim, Andrei Arsenyevich Tarkovsky, đã thực hiện một bộ phim bao gồm nhiều cảnh quay trong bộ phim bán tự truyện của anh ta - The Mirror.
- Năm 1989, Sergio Leone đã dự định quay một bộ phim có tựa đề "900 ngày", tuy nhiên vị đạo diễn này mất 1 tuần trước khi phim được sản xuất vì bệnh tim.
Các diễn biến quốc tế trước, trong và sau cuộc phong tỏa [sửa]
Thái độ của quân đội Phần Lan [sửa]
Vào tháng 8, quân Phần Lan chiếm lại được eo đất Karelia, đe dọa Leningrad từ phía Bắc và nhanh chóng phát triển sang phía Đông Karelia của hồ Lagoda, tiến tới đe dọa Leningrad từ phía Đông. Thực tế, quân đội Phần Lan đã dừng tấn công tại biên giới cũ năm 1939. Trung tâm chỉ huy quân đội Phần Lan đã từ chối yêu cầu của quân Đức tấn công bằng không quân vào Leningrad và không có thêm bất cứ một sự đe dọa nào xuống phía Nam sông Svir trong việc chiếm lấy khu vực phía đông Karelia. Đến ngày 7 tháng 9, quân Phần Lan tiến tới cách Leningrad 160 km về phía Đông Bắc. Ở phía Nam, quân Đức đã chiếm được Tikhvin vào ngày 8 tháng 11, nhưng những nỗ lực của quân Đức trong tiến xa hơn về phía Bắc để hội quân với quân đội Phần Lan tại sông Svir đều thất bại.
Đến ngày 4 tháng 9, Thống chế Đức Quốc xã Alfred Jodl cố gắng thuyết phục tướng Carl Gustaf Emil Mannerheim tiếp tục cuộc chiến, nhưng nỗ lực này đã bị tướng Mannerheim từ chối. Sau chiến tranh cựu tổng thống của Phần Lan, Risto Ryti, đã phát biểu: "Vào ngày 24 tháng 8 năm 1941, tôi đã đến trung tâm chỉ huy của Thống chế Mannerheim. Người Đức đã yêu cầu chúng tôi băng qua biên giới cũ và tiếp tục tiến đến bao vây Leningrad. Tôi nói rằng Leningrad không phải là mục tiêu của chúng tôi và chúng tôi sẽ không tham gia vào cuộc chiến này. Mannerheim và bộ trưởng quốc phòng Waden đồng ý với tôi và từ chối yêu cầu của người Đức. Kết quả của sự từ chối này là quân Đức không thể tiến đến Leningrad từ phía Bắc..."
Tuy nhiên, quân đội Xô Viết không biết việc từ chối tham chiến mà Ryti và Mannerheim đã thông báo cho Đức Quốc Xã. Vì thế, trong bất kỳ trường hợp nào, sự đe dọa về một cuộc tấn công của Phần Lan luôn làm khả năng phòng thủ của quân Xô Viết tại Leningrad bị phân tán. Chẳng hạn như vào thời đầu của cuộc phong toả, tư lệnh Phương diện quân M. M. Popov đã không thể chuyển lực lượng dự bị chống lại quân Đức vì phải duy trì Tập đoàn quân 23 tại vùng đệm phòng thủ eo đất Karelia. Mannerheim đã ra lệnh cho quân đội Phần Lan dừng tấn công vào ngày 31 tháng 8 khi họ tiến tới vùng đất ngang bằng với biên giới năm 1939 ở vị trí bờ biển của vịnh Phần Lan và hồ Lagoda. Khi quân Phần Lan tiến tới vị trí này trong những ngày đầu tháng 9, tướng Popov nhận thấy rằng áp lực của quân Phần Lan đã giảm bớt nhanh chóng và đến ngày 5 tháng 9 thì 2 quân đoàn thuộc tập đoàn quân 23 được điều tới vùng giao chiến của quân Đức. Vào mùa hè năm 1942, một đơn vị hải quân của Phần Lan được thành lập và có nhiệm vụ tấn công vào các đơn vị tiếp viện hậu cần ở phía Nam hồ Lagoda với sự trợ giúp của quân Đức và Ý. Sau sự kiện này, quân đội Phần Lan gần như không tham gia vào cuộc chiến Leningrad. Đến cuối năm 1944, Phần Lan đơn phương tuyên bố chấm dứt chiến tranh với Liên Xô.
Thái độ của các đồng minh chống phát xít [sửa]
Dư luận các đồng minh của Liên Xô, đặc biệt là Anh và Mỹ đã tỏ ra lo lắng cho số phận của Leningrad khi nó bị bao vây cũng giống như khi Moskva bị quân đội Đức Quốc xã uy hiếp. Ngày 20 tháng 1 năm 1943, khi được tin phòng phong tỏa đã bị phá vỡ, báo chí Canada bình luận: "Bằng việc phá vỡ vòng phong toả, Hồng quân Xô viết lại ghi thêm một trang vinh quang mới cho lịch sử quân đội Nga. Những người bảo vệ Leningrad trải qua mọi khó khăn và thử thách đã đứng vững với ý chí sắt đá. Đó là nét đặc trưng cho toàn bộ cuộc phòng thủ của Nga ngay từ khi bắt đầu chiến tranh".[49]
Ngày 28 tháng 1 năm 1944, khi cuộc phong tỏa gần 900 ngày của quân đội Đức tại Leningrad hoàn toàn bị thất bại, các báo chí Anh đã đăng những bài bình luận nhân sự kiên này trên trang nhất. Đây là một trong những đoạn bình luận đó: "Tất cả các dân tộc tự do và tất cả các dân tộc bị chế độ Hitler nô dịch đều hiểu rõ rằng việc tiêu diệt quân đội Đức ở vùng Leningrad có vai trò quan trọng như thế nào đối với việc làm suy yếu sức mạnh của nước Đức Quốc xã. Leningrad đã tỏ ra là một thành phố anh hùng trong cuộc chiến tranh hiện nay. Trận đánh ở Leningrad gây nhiều nỗi lo âu trong người Đức. Nó làm cho họ cảm thấy rằng họ chỉ là người chủ tạm thời ở Paris, Bruxel, Amsterdam, Warsava, Oslo".[50]
Chú thích [sửa]
- ^ Siege of Leningrad. Encyclopedia Britannica.
- ^ Baryshnikov 2003; Juutilainen 2005, p. 670; Ekman, P-O: Tysk-italiensk gästspel på Ladoga 1942, Tidskrift i Sjöväsendet 1973 Jan.–Feb., pp. 5–46.
- ^ a b c Сведения городской комиссии по установлению и расследованию злодеяний немецко-фашистских захватчиков и их сообщников о числе погибшего в Ленинграде населения ЦГА СПб, Ф.8357. Оп.6. Д. 1108 Л. 46-47
- ^ A. M. Vasilievski. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 92.
- ^ David Glantz. The Siege of Leningrad 1941–1944: 900 Days of Terror, Zenith Press, Osceola. 2001. page 367.
- ^ Kurte Tippenskirk. Lịch sử chiến tranh thế giới thứ hai. NXB Ngoại văn. Moskva. 1956. trang 97.
- ^ Kurte Tippenskirk. Lịch sử chiến tranh thế giới thứ hai. NXB Ngoại văn. Moskva. 1956. Trang 98.
- ^ a b G.K. Zhukov. Nhớ lại và suy nghĩ. trang 97.
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 97.
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 97-98
- ^ G. K. Zhukov. Nhớ lại và suy nghĩ. Tập 2. trang 96, 114-116
- ^ a b A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 110.
- ^ a b A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 93.
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 96-97.
- ^ Franz Hander. Nhật ký chiến sự. trang 281.
- ^ G. K. Zhukov. Nhớ lại và suy nghĩ. tập 2. trang 199.
- ^ G. K. Zhukov. Nhớ lại và suy nghĩ. tập 2. trang 202.
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 99-100.
- ^ Albert Axell. Nguyên soái Zhukov, người chiến thắng Hitler. trang 156-158.
- ^ G. K. Zhukov. Nhớ lại và suy nghĩ. Tập 2. trang 197.
- ^ Albert Axell. Nguyên soái Zhukov, người chiến thắng Hitler.trang 150.
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 102
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiêp cả cuộc đời. trang 101.
- ^ Tạp chí Sputnik. Số tháng 5 năm 1990. trang 42.
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 100.
- ^ G. K. Zhukov. Nhớ lại và suy nghĩ. tập 2. trang 200.
- ^ a b c Albert Axell. Nguyên soái Zhukov, người chiến thắng Hitler. trang 162.
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 93-94.
- ^ Albert Axell. Nguyên soái Zhukov, người chiến thắng Hitler. trang 153, 161.
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 101.
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 103.
- ^ Albert Axell. Nguyên soái Zhukov, người chiến thắng Hitler. trang 163
- ^ G. K. Zhukov. Nhớ lại và suy nghĩ. Tập 2. trang 258.
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 102-106.
- ^ S. M. Stemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh. Tập 2. trang 528.
- ^ Albert Axell. Nguyên soái Zhukov, người chiến thắng Hitler. trang 162-163.
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 108.
- ^ G. K. Zhukov. Nhớ lại và suy nghĩ. tập 3. trang 50.
- ^ Franz Halder. Nhật ký chiến sự. trang 328
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 111.
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 112.
- ^ G. K. Zhukov. Nhớ lại và suy nghĩ. Tập 3. trang 157.
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 113.
- ^ A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. trang 116-118.
- ^ S. M. Stemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh. Tập 2. trang 407.
- ^ S. M. Stemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chién tranh. Tập 2. trang 429.
- ^ Albert Axell. Nguyên soái Zhukov, người chiến thắng Hitler. trang 152
- ^ Yuri Aliansky. Boris Piotrovsky, giám đốc bảo tàng Hermitage. NXB Cầu Vồng. Moskva. 1988. trang 86-102.
- ^ Báo "Star" của Canada ngày 20 tháng 1 năm 1943. Dẫn theo Daniel Puerto. Chiến tranh tại Châu Âu 1939-1945. NXB Tiến Bộ. Moskva. 1963. trang 285.
- ^ Báo Morning Star ngày 28 tháng 1 năm 1944. Dẫn theo Alexandr Weirth. Nước Nga trong cuộc chiến. London. 1964. trang 282.
Thư mục [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Trận Leningrad. |
- Сведения городской комиссии по установлению и расследованию злодеяний немецко-фашистских захватчиков и их сообщников о числе погибшего в Ленинграде населения ЦГА СПб, Ф.8357. Оп.6. Д. 1108 Л. 46-47
- A. M. Vasilevsky. Sự nghiệp cả cuộc đời. NXB Tiến bộ. Moskva. 1984
- David Glantz. The Siege of Leningrad 1941–1944: 900 Days of Terror, Zenith Press, Osceola. 2001
- Kurte Tippenskirk. Lịch sử chiến tranh thế giới thứ hai. NXB Ngoại văn. Moskva. 1956.
- G. K. Zhukov. Nhớ lại và suy nghĩ. Tập 2, tập 3. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1987.
- Semion Petrovsky. Nhật ký chiến sự của Franz Halder. Warsava. 1957.
- Albert Axell. Nguyên soái Zhukov, người chiến thắng Hitler. NXb Công an nhân dân. Hà Nội. 2006.
- Yuri Aliansky. Boris Piotrovsky, giám đốc bảo tàng Hermitage. NXB Cầu Vồng. Moskva. 1988
- Daniel Puerto. Chiến tranh tại Châu Âu 1939-1945. NXB Tiến Bộ. Moskva. 1963
- Alexandr Weirth. Nước Nga trong cuộc chiến. London. 1964.
Tham khảo [sửa]
- Barber, John; Dzeniskevich, Andrei (2005), Life and Death in Besieged Leningrad, 1941–44, Palgrave Macmillan, New York, ISBN 1-4039-0142-2
- Baryshnikov, N.I. (2003), Блокада Ленинграда и Финляндия 1941–44 (Finland and the Siege of Leningrad), Институт Йохана Бекмана
- Glantz, David (2001), The Siege of Leningrad 1941–44: 900 Days of Terror, Zenith Press, Osceola, WI, ISBN 0-7603-0941-8
- Goure, Leon (1981), The Siege of Leningrad, Stanford University Press, Palo Alto, CA, ISBN 0-8047-0115-6
- Granin, Daniil Alexandrovich (2007), Leningrad Under Siege, Pen and Sword Books Ltd, ISBN 9781844154586
- Kirschenbaum, Lisa (2006), The Legacy of the Siege of Leningrad, 1941–1995: Myth, Memories, and Monuments, Cambridge University Press, New York, ISBN 0-521-86326-0
- Klaas, Eva (2010), A Deportee Published His Memories in Book, Virumaa Teataja
- Lubbeck, William; Hurt, David B. (2006), At Leningrad's Gates: The Story of a Soldier with Army Group North, Pen and Sword Books Ltd, ISBN 9781844156177
- Platonov, S.P. ed. (1964), Bitva za Leningrad, Voenizdat Ministerstva oborony SSSR, Moscow
- Salisbury, Harrison Evans (1969), The 900 Days: The Siege of Leningrad, Da Capo Press, ISBN 0-306-81298-3
- Simmons, Cynthia; Perlina, Nina (2005), Writing the Siege of Leningrad. Women's diaries, Memories, and Documentary Prose, University of Pittsburgh Press, ISBN 9780822958697
- Willmott, H.P.; Cross, Robin; Messenger, Charles (2004), The Siege of Leningrad in World War II, Dorling Kindersley, ISBN 978-0-7566-2968-7
- Wykes, Alan (1972), The Siege of Leningrad, Ballantines Illustrated History of WWII
- Backlund, L.S. (1983), Nazi Germany and Finland, University of Pennsylvania. University Microfilms International A. Bell & Howell Information Company, Ann Arbor, Michigan
- Baryshnikov, N.I.; Baryshnikov, V.N. (1997), Terijoen hallitus, TPH
- Baryshnikov, N.I.; Baryshnikov, V.N.; Fedorov, V.G. (1989), Finlandia vo vtoroi mirivoi voine (Finland in the Second World War), Lenizdat, Leningrad
- Baryshnikov, N.I.; Manninen, Ohto (1997), Sodan aattona, TPH
- Baryshnikov, V.N. (1997), Neuvostoliiton Suomen suhteiden kehitys sotaa edeltaneella kaudella, TPH
- Bethel, Nicholas; Alexandria, Virginia (1981), Russia Besieged, Time-Life Books, 4th Printing, Revised
- Brinkley, Douglas; Haskey, Mickael E. (2004), The World War II. Desk Reference, Grand Central Press
- Carell, Paul (1963), Unternehmen Barbarossa — Der Marsch nach Russland
- Carell, Paul (1966), Verbrannte Erde: Schlacht zwischen Wolga und Weichsel (Scorched Earth: The Russian-German War 1943-1944), Verlag Ullstein GmbH, (Schiffer Publishing), ISBN 0-88740-598-3
- Cartier, Raymond (1977), Der Zweite Weltkrieg (The Second World War), R. Piper & CO. Verlag, München, Zürich
- Churchill, Winston S., Memoires of the Second World War. An abridgment of the six volumes of The Second World War, Houghton Mifflin Company, Boston, ISBN 0-395-59968-7
- Clark, Alan (1965), Barbarossa. The Russian-German Conflict 1941-1945, Perennial, ISBN 0-688-04268-6
- Fugate, Bryan I. (1984), Operation Barbarossa. Strategy and Tactics on the Eastern Front, 1941, Presidio Press, ISBN 0891411976, ISBN 978-0-89141-197-0 Kiểm tra giá trị
|isbn=(trợ giúp) - Ganzenmüller, Jörg (2005), Das belagerte Leningrad 1941-1944, Ferdinand Schöningh Verlag, Paderborn, ISBN 350672889X
- Гречанюк, Н. М.; Дмитриев, В. И.; Корниенко, А. И. (1990), Дважды, Краснознаменный Балтийский Флот (Baltic Fleet), Воениздат
- Higgins, Trumbull (1966), Hitler and Russia, The Macmillan Company
- Jokipii, Mauno (1987), Jatkosodan synty (Birth of the Continuation War), ISBN 951-1-08799-1
- Juutilainen, Antti; Leskinen, Jari (2005), Jatkosodan pikkujättiläinen, Helsinki
- Kay, Alex J. (2006), Exploitation, Resettlement, Mass Murder. Political and Economic Planning for German Occupation Policy in the Soviet Union, 1940 - 1941, Berghahn Books, New York, Oxford
- Miller, Donald L. (2006), The story of World War II, Simon $ Schuster, ISBN 0-74322718-2
Liên kết ngoài [sửa]
| Cuộc phong tỏa Leningrad | |
| Russian map of the operations around Leningrad in 1943 Blue are the German and co-belligerent Finnish troops. The Soviets are red.[1] | |
| map of the advance on Leningrad and relief Blue are the German and co-belligerent Finnish troops. The Soviets are red.[2] | |
- Trận chiến tại Leningrad
- Phong toả Leningrad (tiếng Ukraina)
- Государственные архивы РФ, хранящие фотодокументы о Великой Отечественной войне: Ленинградская блокада
- Phim tài liệu về trận Leningrad
- Bản đồ chiến sự tại Leningrad từ ngày 10 tháng 7 đến 10 tháng 9 năm 1941
- Bản đồ chiến sự tại Leningrad trong chiến cục mùa Đông 1941-1942
- Bản đồ diễn biến cuộc tổng phản công mùa Đông 1941-1942 của quân đội Liên Xô tại Moskva và Leningrad
- Bản đồ diễn biến chiến sự tại các mặt trận Leningrad và Tây Bắc từ tháng 9 năm 1941 đến tháng 11 năm 1942
- Bản đồ diến biến chiến sự tại mặt trận Leningrad từ tháng 11 năm 1942 đến tháng 12 năm 1943 và cuộc phá vây của quân đội Liên Xô tại khu vực Slitsenburg tháng 1 năm 1943
- Ghi chú
- ^ “ОТЕЧЕСТВЕННАЯ ИСТОРИЯ. Тема 8”. Ido.edu.ru. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
- ^ “ИТАР-ТАСС :: 60 ЛЕТ ВЕЛИКОЙ ПОБЕДЕ ::” (bằng (tiếng Nga)). Victory.tass-online.ru. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2008.
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||