Đại thanh trừng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một phần tấm bảng với những bức ảnh các nạn nhân của cuộc Đại thanh trừng đã bị bắn chết tại trường bắn Butovo gần Moskva. Các bức ảnh được chụp sau khi mỗi nạn nhân bị bắt.

Đại thanh trừng là một loạt các biện pháp đàn áp tại Liên xô hồi cuối những năm 1930. Sự kiện này liên quan tới một cuộc thanh trừng trên diện rộng với Đảng Cộng sản Liên xô và các quan chức chính phủ, đàn áp các nông dân, các chỉ huy Hồng quân, và những người không liên kết trong một không khí giám sát và nghi ngờ lan rộng với "những kẻ phá hoại."[1] Tính theo tỷ lệ, đa số nạn nhân cuộc Đại thanh trừng là những người Bolshevik cũ.[cần dẫn nguồn]

phương Tây, cuốn sách của Robert Conquest năm 1968 The Great Terror (Nỗi khiếp sợ lớn) đã khiến thuật ngữ này trở nên quen thuộc. Cái tên này lại có nguồn gốc từ giai đoạn khủng bố (tiếng Pháp: la Terreur) trong thời gian Cách mạng Pháp.

Giới thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ "đàn áp" được chính thức sử dụng để loại bỏ việc truy tố những người bị coi là những kẻ phản cách mạngkẻ thù của nhân dân. Cuộc thanh trừng có động cơ từ ham muốn từ giới lãnh đạo muốn loại bỏ những người muốn thoát ly ra khỏi Đảng và cái thường được coi là một mong muốn để củng cố quyền lực của Joseph Stalin. Ngoài các chiến dịch đàn áp được thực hiện chống lại các nhóm sắc tộc thiểu số và các nhóm xã hội bị buộc tội hoạt động chống lại nhà nước Xô viết và quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản.

Hầu hết sự chú ý của công chúng tập trung vào cuộc thanh trừng giới lãnh đạo Đảng Cộng sản, cũng như các quan chức chính phủ và các chỉ huy các lực lượng vũ trang, hầu hết đều là các đảng viên. Các chiến dịch cũng ảnh hưởng tới nhóm khác của xã hội: giới trí thức, nông dân, và đặc biệt là những người bị coi là "quá giàu với một nông dân" (kulak), và thợ chuyên nghiệp.[2] Một loạt các chiến dịch của NKVD (cảnh sát mật Liên xô) đã ảnh hưởng tới một số sắc tộc thiểu số, bị buộc tội là các cộng đồng "fifth column". Một số cuộc thanh trừng đã được giải thích chính thức là để loại bỏ những khả năng phá hoại và gián điệp, hầu hết bởi một "Tổ chức Quân đội Ba Lan" tưởng tượng và, sau đó, nhiều nạn nhân của cuộc thanh trừng là những công dân Liên xô gốc Ba Lan bình thường.

Theo bài phát biểu năm 1956 của Nikita Khrushchev, "Về tệ sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó," và những phát hiện gần đây, một số lượng lớn những lời buộc tội, đáng chú ý nhất là những lời buộc tội tại Các phiên tòa trình diễn ở Moskva, đều dựa trên những lời khai cưỡng ép, thường có được nhờ tra tấn[3], và việc diễn giải không chính xác Điều 58 (Luật hình sự Liên xô), về những hình phạt dành cho các tội phản cách mạng. Quy trình pháp luật đúng đắn, theo như luật pháp Liên xô có hiệu lực ở thời điểm đó, thường bị thay thế phần lớn bằng những biên bản vắn tắt của các NKVD troika.[4]

Hàng trăm nghìn nạn nhân đã bị buộc nhiều loại tội chính trị khác nhau (tình báo, phá phương tiện, phá hoại, có tình cảm chống Xô viết, âm mưu chuẩn bị nổi dậy và đảo chính); họ thường bị nhanh chóng hành quyết bằng xử bắn, hay bị gửi tới các trại lao động Gulag. Nhiều người chết trong các trại lao động khổ sai vì đói, bệnh tật, làm việc quá sức. Các biện pháp giết hại nạn nhân cũng được thử nghiệm. Ví dụ, một cảnh sát mật, phun hơi độc tới chết một số người bị nhốt phía sau một chiếc xe tải van đã được chuyển đổi cho mục đích này.[5][6]

Cuộc Đại thanh trừng đã bắt đầu dưới thời lãnh đạo NKVD là Genrikh Yagoda, nhưng đỉnh điểm của những chiến dịch đó diễn ra thời NKVD nằm dưới sự lãnh đạo của Nikolai Yezhov, từ tháng 9 năm 1936 tới tháng 8 năm 1938, vì thế nó có tên Yezhovshchina. Các chiến dịch được tiến hành theo chỉ thị, và thường là những mệnh lệnh trực tiếp, của Bộ chính trị dưới sự lãnh đạo của Stalin.

Cuộc Đại thanh trừng đã gây ra nhiều cuộc tranh cãi về mục đích, phạm vi và cơ cấu của nó. Trong thập niên 50 các học giả Mỹ đã đề xuất một sự giải thích cấu trúc của Đại khủng bố: như motọ hệ thống chuyên chính, chính quyền của Stalin phải duy trì các công dân của mình trong trạng thái sợ hãi và không chắc chắn, và sự thanh trừng bất thần định kỳ sẽ tạo ra cơ cấu này (Brzezinski, 1958). Robert Conquest nhấn mạnh đến tính đa nghi của Stalin, tập trung vào phiên xử trình diễn tại Moskva với “những người Bolshevik cũ”, và phân tích việc tiêu diệt có kế hoạch và hệ thống kỹ lưỡng với giới lãnh đạo Đảng Cộng sản như bước đầu tiến tới khủng bố toàn bộ dân số. Hồi giữa thập niên 1980, John Arch Getty, một nhà sử học Mỹ thuộc phái xét lại phản đối ý tưởng của Conquest. Ông ta cho rằng phạm vi quá rộng của những cuộc thanh trừng là kết quả của những căng thẳng to lớn giữa Stalin và các lãnh đạo Đảng Cộng sản tại các vùng, những người, để thoát khỏi sự khủng bố đang hướng tới, phải tìm ra thật nhiều kẻ giơ đầu chịu báng để thực hiện đàn áp. Theo cách này, họ thể hiện sự cảnh giác và không khoan nhượng với kẻ thù của dân chúng. Vì thế, cuộc Đại khủng bố đã phát triển thành một “chuyến bay vào tình trạng hỗn loạn” (Getty, 1985).

Các nhà sử học ở cả hai trường phái tập trung vào sự thanh trừng với giới tinh hoa chính trị, trí thức, kinh tế hay kinh tế, và cuộc đấu tranh giữa các nhánh trung tâm và vùng của đảng. Chủ yếu bởi sự thiếu hụt thông tin về chủ đề, không phái nào nghiên cứu cơ cấu, tổ chức, việc thực hiện những cuộc bắt giữ và giết hại hàng loạt, hay tình trạng xã hội học của các nạn nhân, những người chiếm một phần lớn so với giới tinh hoa đảng hay trí thức.

Các giả thuyết trước đây đã bị phản bác nhiều bởi những thông tin mới từ khi thư khố Liên xô được mở cửa sau khi Liên bang Xô viết chấm dứt tồn tại năm 1991, cho phép nhiều cuộc nghiên cứu sâu hơn với những tài liệu mới. Các học giả đã đi tới quan điểm rằng cuộc Đại thanh trừng là một thời điểm quyết định – hay đúng hơn là một sự phát triển đỉnh điểm – của một chiến dịch tác động xã hội bắt đầu từ đầu những năm 1930 (Hagenloh, 2000; Shearer, 2003; Werth, 2003). Họ cho rằng khoảng 1% dân số thành niên của Liên bang Xô viết là nạn nhân của sự kiện này, và nhiều trẻ em cũng bị ảnh hưởng lây từ nó.[7]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khi quá trình này được thực hiện, Stalin đã củng cố quyền lực của mình ở gần mức tuyệt đối vào năm 1934 với sự sát hại Bí thư Thành ủy Leningrad Sergei Mironovich Kirov (việc mà nhiều người ngờ rằng Stalin đã sắp đặt kế hoạch) như một hoàn cảnh để tung ra cuộc thanh trừng vĩ đại chống lại những kẻ bị cho là đối thủ chính trị và tư tưởng của ông ta, nổi tiếng nhất là những cán bộ cao tuổi và những thành viên từ chức vụ thấp đến cao trong Đảng Bolshevik. Lev Davidovich Trotsky đã bị khai trừ khỏi đảng năm 1927, bị đầy tới Kazakhstan năm 1928 và sau đó bị trục xuất hoàn toàn khỏi Liên Xô năm 1929. Stalin đã sử dụng các vụ thanh trừng để hủy hoại về mặt tinh thần và thể chất những đối thủ chính thức khác của ông ta (và cựu đồng minh) buộc tội Grigory Yevseevich ZinovievLev Borisovich Kamenev đứng đằng sau vụ sát hại Kirov và có kế hoạch lật đổ chế độ Stalin. Cuối cùng, những người bị cho là liên quan đến việc này và các âm mưu khác với số lượng hàng chục nghìn người gồm nhiều cựu Bolshevik và thành viên cao cấp của đảng bị buộc tội âm mưu và phá hoại để giải thích cho những vụ tai nạn công nghiệp, sự thâm hụt sản xuất và các tai nạn khác của chế độ Stalin. Các biện pháp để chống lại những người đối lập và bị nghi ngờ gồm việc giam giữ trong các trại lao động (Gulag) tới hành quyết (con trai Trotsky, Lev Sedov và giống như Sergei Kirov - bản thân Trotsky khi lưu vong nước ngoài cũng chết dưới bàn tay những kẻ giết người của Stalin năm 1940). Thời kỳ từ 1936 đến 1937 thường được gọi là "Nỗi khiếp sợ vĩ đại", với hàng nghìn người (thậm chí chỉ đơn giản bị nghi ngờ chống đối chế độ Stalin) bị giết hoặc bị bỏ tù. Stalin nổi tiếng với việc đã đích thân ký 40.000 giấy phép giết hại người tình nghi đối thủ chính trị.

Trong thời kỳ đó, việc thực hiện các cuộc bắt giữ hàng loạt, tra tấn và phạt tù hay hành quyết không cần tòa án, đối với bất kỳ kẻ tình nghi nào là chống đối chính quyền Stalin của cảnh sát mật trở thành chuyện thường tình. Chỉ riêng ước tính của NKVD, 681.692 người đã bị bắn chỉ riêng trong khoảng 1937-1938 (mặc dù nhiều nhà sử học nghĩ rằng con số này vẫn còn dưới mức sự thực), và hàng triệu người đã bị chuyển tới các trại lao động Gulag.

Nhiều tòa án trình diễn đã được tổ chức ở Moskva để phục vụ như ví dụ cho những phiên tòa mà tòa án địa phương sẽ tiến hành ở những nơi khác trong đất nước. Có bốn vụ xử quan trọng từ 1936 đến 1938, Phiên tòa Mười sáu tên là vụ đầu tiên (tháng 12 năm 1936); sau đó là Phiên tòa Mười bảy tên (tháng 1 năm 1937); rồi Phiên tòa các vị tướng Hồng Quân, gồm cả Mikhail Nikolayevich Tukhachevsky (tháng 6 năm 1937); và cuối cùng là Phiên tòa Hai mốt tên, gồm cả Nikolai Ivanovich Bukharin (tháng 3 năm 1938). Xem thêm: Các vụ xử án Moskva.

Mặc những hiến pháp có vẻ được ra liên tục dưới chế độ Stalin năm 1936, quyền lực của Đảng trên thực tế đã lệ thuộc vào cảnh sát mật, bộ máy mà nhờ đó Stalin nắm vững quyền lãnh tụ thông qua "Nỗi sợ hãi quốc gia".

Số nạn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các tài liệu Liên Xô được giải mật, trong khoảng thời gian từ năm 1937 tới năm 1938, tổ chức NKVD bắt giữ 1.548.367 nạn nhân, trong đó 681.692 bị xử bắn, trung bình 1.000 vụ hành quyết một ngày.[8] Sử gia Michael Ellman cho rằng ước đoán chính xác nhất về số người chết do cuộc thanh trừng dưới chế độ Xô Viết trong khoảng hai năm đó là chừng 950.000 tới 1,2 triệu người, bao gồm cả những người chết trong trại giam và những người chết ít lâu sau khi được thả từ các trại giam Gulag. Ông cũng cho rằng đó là ước tính mà các sử gia và giáo viên sử học Nga nên sử dụng.[9] Theo "Tổ chức Tưởng niệm"

  • Trong các cuộc điều tra do Bộ An Ninh NKVD (GUGB NKVD) có:
    • Ít nhất 1.710.000 người bị bắt
    • Ít nhất 1.440.000 người bị kết án
    • Ít nhất 724.000 bị hành quyết, trong số đó:
      • Ít nhất 436.000 người bị kết án tử hình bởi lực lượng troika thuộc NKVD, như một phần chiến dịch Kulak
      • Ít nhất 247.000 người bị kết án tử hình bởi lực lượng Dvoikas thuộc NKVD và Lực lượng đặc nhiệm Troykas như một phần của chiến dịch sắc tộc
      • Ít nhất 41.000 người bị kết án tử hình bởi Tòa án binh
  • Trong số các vụ xử tháng 10 năm 1936 tới tháng 11 năm 1938:
    • Ít nhất 400.000 người bị kết án khổ sai bởi lực lượng cảnh sát Troikas như những Thành phần tệ nạn xã hội (социально-вредный элемент, СВЭ)
    • Ít nhất 200.000 người bị đi đày hoặc bị trục xuất theo Thủ tục hành chính
    • Ít nhất 2 triệu người bị kết án bởi các tòa án do phạm các tội dân sự, trong số đó khoảng 800 ngàn người bị kết án vào các trại Gulag.

Một số chuyên gia cho rằng các bằng chứng từ tư liệu của Liên Xô đã được làm giảm nhẹ đi, không hoàn chỉnh, hoặc là không đáng tin.[8][10][11][12] Ví dụ, Robert Conquest cho rằng số vụ hành quyết trong những năm xảy ra cuộc Đại thanh trừng có lẽ không phải là 681.692 người, mà phải nhiều gấp hai lần rưỡi. Ông cho rằng KGB che đậy bớt dấu vết bằng cách giả mạo ngày tháng và nguyên nhân cái chết của những nạn nhân được minh oan sau đó.[13]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]