Đại thanh trừng
Đại thanh trừng (tiếng Nga: Большая чистка, chuyển tự latin: Bol'shaya chistka) là chiến dịch thanh trừng chính trị diễn ra tại Liên Xô dưới sự chỉ đạo của Iosif Vissarionovich Stalin thập niên 1930.
Khi quá trình này được thực hiện, Stalin đã củng cố quyền lực của mình ở gần mức tuyệt đối vào năm 1934 với sự sát hại Bí thư Thành ủy Leningrad Sergei Mironovich Kirov (việc mà nhiều người ngờ rằng Stalin đã sắp đặt kế hoạch) như một hoàn cảnh để tung ra cuộc thanh trừng vĩ đại chống lại những kẻ bị cho là đối thủ chính trị và tư tưởng của ông ta, nổi tiếng nhất là những cán bộ cao tuổi và những thành viên từ chức vụ thấp đến cao trong Đảng Bolshevik. Lev Davidovich Trotsky đã bị khai trừ khỏi đảng năm 1927, bị đầy tới Kazakhstan năm 1928 và sau đó bị trục xuất hoàn toàn khỏi Liên Xô năm 1929. Stalin đã sử dụng các vụ thanh trừng để hủy hoại về mặt tinh thần và thể chất những đối thủ chính thức khác của ông ta (và cựu đồng minh) buộc tội Grigory Yevseevich Zinoviev và Lev Borisovich Kamenev đứng đằng sau vụ sát hại Kirov và có kế hoạch lật đổ chế độ Stalin. Cuối cùng, những người bị cho là liên quan đến việc này và các âm mưu khác với số lượng hàng chục nghìn người gồm nhiều cựu Bolshevik và thành viên cao cấp của đảng bị buộc tội âm mưu và phá hoại để giải thích cho những vụ tai nạn công nghiệp, sự thâm hụt sản xuất và các tai nạn khác của chế độ Stalin. Các biện pháp để chống lại những người đối lập và bị nghi ngờ gồm việc giam giữ trong các trại lao động (Gulag) tới hành quyết (con trai Trotsky, Lev Sedov và giống như Sergei Kirov - bản thân Trotsky khi lưu vong nước ngoài cũng chết dưới bàn tay những kẻ giết người của Stalin năm 1940). Thời kỳ từ 1936 đến 1937 thường được gọi là "Nỗi khiếp sợ vĩ đại", với hàng nghìn người (thậm chí chỉ đơn giản bị nghi ngờ chống đối chế độ Stalin) bị giết hoặc bị bỏ tù. Stalin nổi tiếng đã đích thân ký 40.000 giấy phép giết hại người tình nghi đối thủ chính trị.
Trong thời kỳ đó, việc thực hiện các cuộc bắt giữ hàng loạt, tra tấn và phạt tù hay hành quyết không cần tòa án, đối với bất kỳ kẻ tình nghi nào là chống đối chính quyền Stalin của cảnh sát mật trở thành chuyện thường tình. Chỉ riêng ước tính của NKVD, 681.692 người đã bị bắn chỉ riêng trong khoảng 1937-1938 (mặc dù nhiều nhà sử học nghĩ rằng con số này vẫn còn dưới mức sự thực), và hàng triệu người đã bị chuyển tới các trại lao động Gulag.
Nhiều tòa án trình diễn đã được tổ chức ở Moskva để phục vụ như ví dụ cho những phiên tòa mà tòa án địa phương sẽ tiến hành ở những nơi khác trong đất nước. Có bốn vụ xử quan trọng từ 1936 đến 1938, Phiên tòa Mười sáu tên là vụ đầu tiên (tháng 12 năm 1936); sau đó là Phiên tòa Mười bảy tên (tháng 1 năm 1937); rồi Phiên tòa các vị tướng Hồng Quân, gồm cả Mikhail Nikolayevich Tukhachevsky (tháng 6 năm 1937); và cuối cùng là Phiên tòa Hai mốt tên, gồm cả Nikolai Ivanovich Bukharin (tháng 3 năm 1938). Xem thêm: Các vụ xử án Moskva.
Mặc những hiến pháp có vẻ được ra liên tục dưới chế độ Stalin năm 1936, quyền lực của Đảng trên thực tế đã lệ thuộc vào cảnh sát mật, bộ máy mà nhờ đó Stalin nắm vững quyền lãnh tụ thông qua "Nỗi sợ hãi quốc gia".
[sửa] Số nạn nhân
Theo các tài liệu Liên Xô được giải mật, trong khoảng thời gian từ năm 1937 tới năm 1938, tổ chức NKVD bắt giữ 1.548.367 nạn nhân, trong đó 681.692 bị xử bắn, trung bình 1.000 vụ hành quyết một ngày.[1] Sử gia Michael Ellman cho rằng ước đoán chính xác nhất về số người chết do cuộc thanh trừng dưới chế độ Xô Viết trong khoảng hai năm đó là chừng 950.000 tới 1,2 triệu người, bao gồm cả những người chết trong trại giam và những người chết ít lâu sau khi được thả từ các trại giam Gulag. Ông cũng cho rằng đó là ước tính mà các sử gia và giáo viên sử học Nga nên sử dụng.[2] Theo "Tổ chức Tưởng niệm"
- Trong các cuộc điều tra do Bộ An Ninh NKVD (GUGB NKVD) có:
- Ít nhất 1.710.000 người bị bắt
- Ít nhất 1.440.000 người bị kết án
- Ít nhất 724.000 bị hành quyết, trong số đó:
- Ít nhất 436.000 người bị kết án tử hình bởi lực lượng troika thuộc NKVD, như một phần chiến dịch Kulak
- Ít nhất 247.000 người bị kết án tử hình bởi lực lượng Dvoikas thuộc NKVD và Lực lượng đặc nhiệm Troykas như một phần của chiến dịch sắc tộc
- Ít nhất 41.000 người bị kết án tử hình bởi Tòa án binh
- Trong số các vụ xử tháng 10 năm 1936 tới tháng 11 năm 1938:
- Ít nhất 400.000 người bị kết án khổ sai bởi lực lượng cảnh sát Troikas như những Thành phần tệ nạn xã hội (социально-вредный элемент, СВЭ)
- Ít nhất 200.000 người bị đi đày hoặc bị trục xuất theo Thủ tục hành chính
- Ít nhất 2 triệu người bị kết án bởi các tòa án do phạm các tội dân sự, trong số đó khoảng 800 ngàn người bị kết án vào các trại Gulag.
Một số chuyên gia cho rằng các bằng chứng từ tư liệu của Liên Xô đã được làm giảm nhẹ đi, không hoàn chỉnh, hoặc là không đáng tin.[3][4][1][5] Ví dụ, Robert Conquest cho rằng số vụ hành quyết trong những năm xảy ra cuộc Đại thanh trừng có lẽ không phải là 681.692 người, mà phải nhiều gấp hai lần rưỡi. Ông cho rằng KGB che đậy bớt dấu vết bằng cách giả mạo ngày tháng và nguyên nhân cái chết của những nạn nhân được minh oan sau đó.[6]
[sửa] Chú thích
- ^ a b Communism: A History (Modern Library Chronicles) by Richard Pipes, pg 67
- ^ Soviet Repression Statistics: Some Comments by Michael Ellman, 2002
- ^ Stalinism in Post-Communist Perspective: New Evidence on Killings, Forced Labour and Economic Growth in the 1930s by Steven Rosefielde, 1996
- ^ Comment on Wheatcroft by Robert Conquest, 1999
- ^ Gulag: A History by Anne Applebaum, pg 584
- ^ Life and Terror in Stalin's Russia: 1934-1941. - book reviews by Robert Conquest, 1996, National Review
[sửa] Tài liệu tham khảo
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Đại thanh trừng. |
- Rehabilitation: As It Happened. Documents of the CPSU CC Presidium and Other Materials. Vol. 2, February 1956–Early 1980s. Moscow, 2003. Compiled by A. Artizov, Yu. Sigachev, I. Shevchuk, V. Khlopov under editorship of acad. A. N. Yakovlev.
- Eternal Memory: Voices From the Great Terror. 1997. 16 mm feature film directed by Pultz, David. Narrated by Meryl Streep. USA.
- Robert Conquest: The Great Terror: Stalin's Purge of the Thirties. 1968.
- Robert Conquest, The Great Terror: A Reassessment, Oxford University Press, May 1990, hardcover, ISBN 0-19-505580-2; trade paperback, Oxford, September, 1991, ISBN 0-19-507132-8
- Robert Gellately, Lenin, Stalin, and Hitler: The Age of Social Catastrophe. Knopf, August 2007, 720 pages, ISBN 1400040051
- J. Arch Getty and Oleg V. Naumov, The Road to Terror: Stalin and the Self-Destruction of the Bolsheviks, Yale University Press, 1999.
- J. Arch Getty and Roberta T. Manning, Stalinist Terror: New Perspectives, New York, Cambridge University Press, 1993.
- Nicolas Werth, Karel Bartosek, Jean-Louis Panne, Jean-Louis Margolin, Andrzej Paczkowski, Stephane Courtois, The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression, Harvard University Press, 1999, hardcover, 858 pages, ISBN 0-674-07608-7. Chapter 10: The Great Terror, 1936-1938.
- John Earl Haynes and Harvey Klehr, In Denial: Historians, Communism, and Espionage, Encounter Books, September, 2003, hardcover, 312 pages, ISBN 1-893554-72-4
- Barry McLoughlin and Kevin McDermott, Stalin's Terror: High Politics and Mass Repression in the Soviet Union, Palgrave Macmillan, December 2002, hardcover, 280 pages, ISBN 1403901198
- Hiroaki Kuromiya, The Voices of the Dead: Stalin's Great Terror in the 1930s. Yale University Press, December 24, 2007. ISBN 0300123892
- Arthur Koestler, Darkness at Noon, 1940, ISBN 0-553-26595-4
- Rehabilitation: Political Processes of 30-50th years, in Russian (Реабилитация. Политические процессы 30-50-х годов), editor: Academician A.N.Yakovlev, 1991 ISBN 5-250-01429-1
- Aleksandr I. Solzhenitsyn, The Gulag Archipelago 1918-1956, HarperCollins, February, 2002, paperback, 512 pages, ISBN 0-06-000776-1
- Eugene Lyons, Assignment in Utopia, Harcourt Brace and Company, 1937.
- Vadim Rogovin, "Two lectures: Stalin's Great Terror: Origins and Consequences Leon Trotsky and "The Fate of Marxism in the USSR" Mehring books, ISBN 0-929087-83-6 1996
- Vadim Rogovin, "1937: Stalin's Year of Terror." Mehring books, ISBN 0-929087-77-1 1996.
| Bài này còn sơ khai. Mời bạn góp sức viết thêm để bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp về cách sửa bài. |