Lavrentiy Pavlovich Beriya

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lavrentiy Pavlovich Beria
Lavrenty Beria.jpg
Chức vụ
Phó Chủ tịch thứ nhất của Hội đồng Bộ trưởng Liên xô
Nhiệm kỳ 5 tháng 3 năm 1953 – 26 tháng 6 năm 1953
Tiền nhiệm Vyacheslav Molotov
Kế nhiệm Lazar Kaganovich
Nhiệm kỳ 5 tháng 3 năm 1953 – 26 tháng 6 năm 1953
Tiền nhiệm Sergei Kruglov
Kế nhiệm Sergei Kruglov
Tiền nhiệm Nikolai Yezhov
Kế nhiệm Sergei Kruglov
Thư ký thứ nhất Đảng Cộng sản Gruzia
Nhiệm kỳ 15 tháng 1 năm 1934 – 31 tháng 8 năm 1938
Tiền nhiệm Petre Agniashvili
Kế nhiệm Candide Charkviani
Tiền nhiệm Lavrenty Kartvelishvili
Kế nhiệm Petre Agniashvili
Tiền nhiệm Lavrenty Kartvelishvili
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Liên xô
Danh hiệu Bản mẫu:Anh hùng Liên xô Medal Stalin Prize.png Medal Stalin Prize.png Badge Supreme Soviet of the Soviet Union.jpg
Order of Lenin ribbon bar.png Order of Lenin ribbon bar.png Order of Lenin ribbon bar.png Order of Lenin ribbon bar.png
Order of Lenin ribbon bar.png Order of Red Banner ribbon bar.png Order of Red Banner ribbon bar.png Order of Red Banner ribbon bar.png
Order suvorov1 rib.png OrdenSuheBator.png
Sinh 29 tháng 3, 1899(1899-03-29)
Merkheuli, Tỉnh Kutaisi, Đế chế Nga
Mất 23 tháng 12, 1953 (54 tuổi)
Moscow, Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Nga, Liên xô
Chữ ký Lavrentiy Beria Signature.svg
Binh nghiệp
Cấp bậc Nguyên soái Liên xô
Tham chiến Thế chiến II

Lavrentiy Pavlovich Beria (tiếng Gruzia: ლავრენტი პავლეს ძე ბერია, Lavrenti Pavles dze Beria; tiếng Nga: Лавре́нтий Па́влович Бе́рия; 29 tháng 3 năm 1899 – 23 tháng 12 năm 1953) là một chính trị gia Liên xô, Nguyên soái Liên Xô và là người phụ trách an ninh quốc gia, lãnh đạo bộ máy an ninh và cảnh sát mật Liên xô (NKVD) thời Joseph Stalin trong Thế chiến II, và là Phó Thủ tướng trong những năm thời hậu chiến (1946–1953).

Trong cuộc đảo chính của Nikita Khrushchev với sự hỗ trợ của các lực lượng quân đội của Nguyên soái Georgy Zhukov, ông bị bắt giữ với tội phản quốc trong một cuộc họp của ủy ban trung ương Đảng ngày 26 tháng 6 1953, mà toàn thể Bộ chính trị kết án ông. Quân đội của Zhukov đã buộc NKVD phải tuân theo, và sau khi bị xét xử, Beria bị đưa ngay tới tầng hầm tòa nhà Lubyanka và bị tướng Pavel Batitsky xử bắn tại chỗ.[1]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lavrenty Beria sinh năm 1899 tại Merkheuli gần Sukhumi, ở Abkhazia, là con của một gia đình nông dân nghèo. Ông theo học trường kỹ thuật ở Baku, gia nhập Bolshevik vào năm 1917 và hoạt động tại Gruzia trong thời gian Cách mạng Tháng Mười. Năm 1921 Beria gia nhập ChekaBaku, Azerbaijan dưới sự lãnh đạo của ông Felix Dzerzhinsky. Cheka là cơ quan có nhiệm vụ thanh trừng các thành phần chống lại chính quyền Liên Xô. Sau đó Beria được chuyển tới làm việc cho Cheka ở Gruzia.

Những người Gruzia trong Cuộc nổi dậy tháng Tám chống chính quyền Xô viết năm 1924

Năm 1922, Beria trở thành người giữ cương vị thứ hai trong Văn phòng phối hợp chính trị Nhà nước Gruzia (OGPU), tên mới của Cheka. Trong thời kỳ này, Beria đã hết sức nỗ lực trong việc dập tắt các phong trào Dân tộc Chủ nghĩa nổi dậy chống chính quyền Liên Xô tại Tbilisi năm 1924.

Năm 1926, với sự ủng hộ của Stalin, Beria được cử làm Chủ tịch của OPGU và sau đó, năm 1931 trở thành Tổng bí thư đảng Bolshevik tại Gruzia còn và được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1934.

Năm 1938, ông được Joseph Stalin chuyển đến Moskva làm trợ tá cho Nikolai Yezhov lúc này là chủ tịch NKVD Liên Xô. Không lâu sau đó Yezhov bị bắt giữ do đã cùng với Nikolai Bukharin, Alexei Rykov, Nikolai Krestinsky, Christian RakovskyLev Davidovich Trotsky có ý phản đối lãnh tụ Stalin, do đó mà Beria được lên thay thế ông Nikolai Yezhov giữ chức chủ tịch NKVD.

Phù hiệu của Bộ Dân ủy Nội vụ NKVD

Vào ngày 5 tháng 3 1940, sau hội nghị Gestapo–NKVD thứ 3 được tổ chức ở Zakopane, Beria gởi một lá thư cho Stalin, trong đó ông cho biết tù nhân chiến tranh Ba Lan mà bị giữ tại các trại cũng như nhà tù ở Tây Belarus và Ukraina là kẻ thù của Liên Xô, và đề nghị xử tử họ. Hầu hết những người này là sĩ quan quân đội, nhưng cũng có nhiều nhà trí thức, bác sĩ, và linh mục cùng những người khác, tổng cộng lên tới trên 22.000. Với sự đồng ý của Stalin, NKVD của Beria đã hành quyết họ mà được biết tới là thảm sát Katyn.

Do vụ Lev Trotsky bị Ramon Mercader ám sát tại Mexico City ngày 20/8/1940 theo lệnh Stalin, tất cả các nhân vật lãnh đạo có ảnh hưởng đến cuộc Cách mạng Nga đều bị chết ngoại trừ lãnh tụ tối cao Joseph Stalin. 15 thành viên của chính quyền Bolshevik đầu tiên thì hết 10 người đã bị xử tử và 4 người đã chết không giải thích được.

Beria là lãnh đạo cầm quyền lâu nhất và có ảnh hưởng nhất của lực lượng cảnh sát mật thời Stalin, đã có được ảnh hưởng lớn nhất trong và sau thời Thế chiến II. Ông đồng thời quản lý những lĩnh vực to lớn của nhà nước Xô viết và trên thực tếNguyên soái Liên xô chỉ huy các đơn vị mặt trận của NKVD chịu trách nhiệm các chiến dịch chống du kích tại Mặt trận phía Đông trong Thế chiến II, cũng như là đội quân ngăn chặn và bắt giữ hàng nghìn "kẻ phản bội, bỏ trốn, nhát gan và bị nghi ngờ giả ốm để đào ngũ". Beria quản lý việc mở rộng các trại lao động Gulag và chịu trách nhiệm chính trong việc giám sát các định chế bảo vệ an ninh mật được gọi là sharashka, rất quan trọng trong chiến tranh. Ông cũng đóng vai trò quyết định trong việc phối hợp du kích quân Liên xô, phát triển một mạng lưới tình báo và phá hoại hiệu quả phía sau các chiến tuyến của Đức. Ông đã tham gia Hội nghị Yalta cùng Stalin, và được Stalin giới thiệu với Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt là "Himmler của chúng tôi".[2]

Sau chiến tranh, ông tổ chức một cuộc tiếp quản cộng sản với các nước TrungĐông Âu. Tính tình tàn nhẫn không thỏa hiệp của Beria khi thi hành trách nhiệm và khả năng của ông được chứng minh khi ông giám sát thành công dự án bom nguyên tử của Liên xô. Stalin dành cho chương trình này sự ưu tiên tuyệt đối và nó đã được hoàn thành trong chưa tới 5 năm với một phần công lao không nhỏ của chương trình gián điệp chống phương Tây của Liên xô được tổ chức NKVD của Beria thực hiện.

Beria được thăng chức Phó thủ tướng thứ nhất, khi ông thực hiện một chiến dịch tự do hóa ngắn. Trong một thời gian ông đã tham gia lãnh đạo "troika" cùng Georgy MalenkovVyacheslav Molotov. Sự tự tin thái quá của Beria vào vị trí của mình sau khi Stalin chết khiến ông đã phán đoán sai những tình cảm của những đồng minh, nhiều người trong số đó vẫn có họ hàng nằm trong nhà tù của Beria. Ngoài ra, những đề xuất của ông để tự do cho Đông Đức và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ đã khiến các thành viên khác trong Bộ chính trị cảnh giác, đặc biệt trong bối cảnh cuộc khởi nghĩa Đông Đức năm 1953 và chỉ bị dẹp yên sau khi quân đội Liên xô tiến vào.

Beria cũng tiến hành thanh trừng lực lượng quân đội. 3 trong 5 nguyên soái Liên Xô và 14 trong 16 chỉ huy Hồng quân bị hành quyết. Nhờ các thành tích đó mà sự nghiệp chính trị của Beria thăng tiến nhanh và tới tháng 2/1941, ông được bổ nhiệm làm phó Thủ tướng Chính phủ và tới năm 1946 là Ủy viên Bộ chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô.

Theo Markus Wolf, Giám đốc Phản gián của Đông Đức thì trong thời Stalin, Beria, giám đốc KGB và phụ tá Viktor Abakumov có thể bắt giết bất cứ ai theo lệnh của Stalin, và thường lạm dụng bắt gái đẹp ngoài phố về văn phòng hãm hiếp.[3]

Bị hạ bệ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Stalin chết năm 1953, Beria được phong làm phó thủ tướng và tiếp tục đứng đầu MVD, mà ông ta đã nhập chung với MGB. Người đồng minh thân cận nhất của ông, Malenkov được chọn làm thủ tướng, người có quyền lực nhất sau thời đại của Stalin. Beria là người có nhiều quyền lực nhất thứ hai, và với sự yếu kém về cá nhân của Malenkov, ông mới thực sự là người nắm quyền lực. Khrushchev trở thành chủ tịch đảng. Voroshilov được bầu làm chủ tịch nhà nước.

Qua những thành tích trong quá khứ của Beria, những lãnh tụ khác của đảng nghi ngờ những động cơ của ông. Khrushchev chống lại liên minh giữa Beria và Malenkov, nhưng lúc đó ông ta không thể đối đầu được. Cơ hội của ông ta tới vào tháng 6 1953, lúc có cuộc nổi dậy đột phát của dân chúng ở Đông Đức chống lại chính quyền bộc phát ra ở Đông Berlin.

Dựa trên những phát biểu riêng của Beria, các lãnh tụ khác nghi ngờ là qua cuộc nổi dậy này, ông ta có thể đồng ý đánh đổi sự thống nhất của Đức và chấm dứt chiến tranh lạnh để được sự trợ giúp lớn lao của Hoa Kỳ, như đã từng nhận được trong thế chiến thứ Hai. Cái giá của chiến tranh vẫn còn đè nặng lên nền kinh tế của Liên Xô. Beria ao ước một nguồn tài chính to lớn mà một quan hệ với Hoa Kỳ có thể cung cấp. Chẳng hạn, Beria đã hứa hẹn cho Estonia, LatviaLithuania một nền tự trị quốc gia, tương tự như các nước chư hầu khác của Liên Xô ở Đông Âu.[4][5][6]

Cuộc nổi dậy 1953 ở Đông Đức thuyết phục Molotov, Malenkov, và Nikolai Bulganin, chính sách của Beria thì nguy hiểm và làm mất ổn định thế lực của Liên Xô. Chỉ trong vài ngày của sự việc xảy ra ở Đức, Khrushchev đã thuyết phục được các lãnh tụ khác làm một cuộc đảo chính chống lại Beria; đồng minh thân cận nhất của Beria, Malenkov đã bỏ rơi ông.

Cùng với Beria còn có Merkulov, Bogdan Kobulov, Sergey Golgidze, Vladimir Dekanozov, Pavel Meshik, và Lev Vlodzimirskiy là những thành viên cùng nhóm với Beria đã bị bắt giữ và tiến hành điều tra trong sáu tháng và xét xử tại trụ sở của Quân khu Moskva.

Nguyên soái Ivan Koniev được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng xét xử đặc biệt của phiên tòa. Toà án đặc biệt của Toà án Tối cao Liên Xô xét xử bí mật Beria từ ngày 16 đến 23 tháng 12 năm 1953. Khi phán quyết được đưa ra, Beria đã bị xử bắn ngay tại phòng giam ông trong hầm phòng không.

Chủ tịch Đoàn Xô Viết Tối cao Liên Xô đã thông qua quyết định tước mọi danh hiệu và tặng thưởng mà nhà nước Liên Xô đã tặng cho ông, bao gồm cả danh hiệu nguyên soái Liên Xô.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Лаврентия Берию в 1953 году расстрелял лично советский маршал
  2. ^ Montefiore, Simon Sebag (2005). Stalin: Court of the Red Tsar. Random House. tr. 483. 
  3. ^ Man Without a Face: The Autobiography of Communism's Greatest, chapter IV, Random House, 1997, isbn=9781891620126
  4. ^ Wydra, Harald (2007). Communism and the Emergence of Democracy. Cambridge University Press. tr. 165. ISBN 0521851696. 
  5. ^ Gaddis, John Lewis (2005). The Cold War: a new history. Penguin Press. ISBN 1-59420-062-9. 
  6. ^ Knight, Amy (1995). Beria: Stalin's First Lieutenant. Princeton University Press. tr. 189. ISBN 978-0-691-01093-9. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]