Heinrich Himmler

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thống chế SS Heinrich Luitpold Himmler(1900-1945)

Heinrich Luitpold Himmler (1900-1945) là một trong những nhân vật có thế lực nhất của Đức Quốc xã,, Chỉ huy trưởng Lực lượng SS (từ 1929), Thống chế SS (Reichsführer-SS, từ năm 1933), Chỉ huy trưởng Cảnh sát Đức (từ 1936), Bộ trưởng Nội vụ (từ 1943), Bộ trưởng Đặc mệnh Toàn quyền Hành chính (từ 1943), Tư lệnh Lực lượng Dân phòng (từ 1944). Sau chiến tranh ông tìm cách liên hệ với Đồng Minh để đàm phán hòa bình nhưng bị từ chối, chạy trốn nhưng vẫn bị quân Anh bắt, tự tử trước khi bị xét xử.

Bước khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Himmler năm 1907.

Heinrich Luitpold Himmler sinh ngày 7 tháng 10 năm 1900 tại Munich, Đức trong một gia đình trung lưu Barvarian. Cha là Joseph Gebhard Himmler, là giáo viên và hiệu trưởng một trường trung học. Mẹ ông là Anna Maria Himmler (nhũ danh Heyder), là một người mộ đạo và là một người mẹ chu đáo. Himmler có một người anh trai Gebhard Ludwig Himmler và một người em trai Ernst Hermann Himmler.

Heinrich Himmler nguyên là chủ một trại gà cư ngụ gần München, có tư thái dịu dàng với đôi kính không gọng dễ làm cho người mới gặp ông lần đầu lầm tưởng ông là một thầy giáo làng dốt nát và hiền từ. Thật ra, ông có bằng đại học về nông nghiệp.

Vào thập kỷ 1930, ông bắt đầu ở cấp thấp trong đảng Quốc xã, nhưng sau đó trở nên đáng sợ trong Đế chế Thứ Ba. Ông gây dựng nên lực lượng áo đen SS khét tiếng từ đội quân áo nâu SA. Nhưng khởi đầu ông làm việc dưới quyền Ernst Julius Röhm lúc ấy đang điều khiển cả hai lực lượng SA và SS, nên trong số đảng viên bên ngoài Bang Bayern ít ai biết đến ông.

Lực lượng SS của Himmler[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5/10/1921 Đảng Quốc xã thành lập lực lượng bán quân sự SA (Sturmabteilung – Lực lượng Bão tố), vì mặc đồng phục màu nâu nên còn được gọi là "Quân áo nâu." Lãnh tụ của Đảng Quốc xã, Hitler, kiêm nhiệm là Lãnh tụ Tối cao của SA. Nhiệm vụ chính của SA ban đầu là bảo vệ buổi họp của Quốc xã, giải tán buổi họp của đối thủ và nói chung khủng bố người chống lại Hitler. Lực lượng SA khởi đầu được đặt dưới sự chỉ huy của Đại úy Ehrhardt, kế tiếp là Hermann Göring năm 1923 và Hitler năm 1930. Việc chỉ đạo trực tiếp là do Tham mưu trưởng chỉ huy hàng ngày; Tham mưu trưởng SA nổi tiếng nhất là Röhm.

Sau khi lực lượng SA trở thành kiêu binh, vô kỷ luật, để được sự hỗ trợ đáng tin cậy hơn Hitler chính thức thành lập lực lượng SSSchutzstaffel, điều những người thân tín từ SA qua và bổ sung bằng những người đã được đào tạo chính quy về học thuyết Quốc xã. Binh sĩ SS mặc đồng phục màu đen tương tự như đội quân của Phát-xít Ý, nên được gọi là "Quân áo đen." SS có hệ thống quân hàm tương tự như trong quân đội Đức nhưng với tên gọi khác, mang quân phù đặc biệt. Tất cả binh sĩ khi gia nhập SS đều phải đọc lời tuyên thệ trung thành với chính cá nhân Hitler.

Lúc đầu, lực lượng SS chỉ là những cận vệ cho Hitler. Mãi đến năm 1929, Hitler mới tìm ra được người lãnh đạo lý tưởng của SS: Heinrich Himmler. Khi Himmler nhận chức vụ chỉ huy trưởng, lực lượng SS có khoảng 200 người. Lực lượng SS phát triển mạnh theo thời gian, cuối cùng ngự trị nước Đức và là một cái tên gây kinh hoàng cho mọi vùng bị Đức chiếm đóng ở Châu Âu.

Vào năm 1930, các đội quân SA và SS gộp lại lên đến hơn 100.000 người – còn đông đảo hơn cả Quân đội Đức lúc này còn bị Hòa ước Versailles hạn chế. Hai năm sau, lực lượng SA đã lớn mạnh với quân số 400.000.

Ngày 26/7/1934, để tưởng thưởng công sức của họ trong vụ thanh trừng đẫm máu ngày 30/6/1934, lực lượng SS được tách ra độc lập với SA, vẫn dưới quyền chỉ huy của Himmler. Chẳng bao lâu, với kỷ luật và lòng trung thành hơn SA, lực lượng SS trở nên hùng mạnh hơn hẳn SA. Được như vậy một phần là do Himmler có quyền lực mạnh trên Đế chế thứ Ba, chỉ báo cáo với Hitler mà không phải thông qua bộ trưởng hoặc tướng lĩnh nào.

Lực lượng quân sự có tính chuyên nghiệp, được trang bị hỏa lực và cơ giới hùng mạnh là Waffen-SS. Được phát triển như đội quân thứ hai bên cạnh quân chính quy, tụ họp những người cuồng tín đã được rèn luyện kỹ học thuyết Quốc xã, cuối cùng lực lượng này có 38 sư đoàn tác chiến gồm 800-950 nghìn người (các nguồn khác nhau cho con số khác nhau, có lẽ vì thời điểm khác nhau).

Những lực lượng phụ thuộc dưới quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng Cảnh sát Đế chế: Ngày 16/6/1936, lần đầu tiên trong lịch sử nước Đức, lực lượng cảnh sát được hợp nhất trên toàn Đế chế – trước đó cảnh sát nằm trong chính quyền mỗi bang. Himmler được cử kiêm Chỉ huy trưởng Cảnh sát Đức. Việc này gần giống như đặt cảnh sát vào tay của SS vốn tăng thanh thế mạnh mẽ sau vụ thanh trừng đẫm máu năm 1934. Lực lượng SS không còn là nhóm cận vệ, hoặc đội vũ trang của đảng Quốc xã, mà bây giờ có quyền hạn của cảnh sát quốc gia. Vì thế, Đế chế Thứ Ba đã trở thành một chế độ cảnh sát trị.

Như TS. Werner Best, cánh tay phải của Himmler ở Gestapo, giải thích: Khi cảnh sát thi hành ý muốn của giới lãnh đạo, tức là họ hành động theo luật.

Gestapo (tức Mật vụ) khởi đầu được Göring thành lập cho Bang Phổ, là công cụ mà ông sử dụng để giam cầm và sát hại những đối thủ của chế độ. Ngày 1/4/1934, với tư cách là Thống đốc Bang Phổ, Göring bổ nhiệm Himmler làm chỉ huy Mật vụ của Bang Phổ. Himmler lập tức gây dựng một lực lượng cảnh sát bí mật, tiền thân của Mật vụ Sicherheitsdienst. Dần dà, Gestapo mở rộng thành một nhánh của SS rồi nắm quyền sinh sát trên toàn nước Đức, thậm chí bao trùm số phận của các tướng lĩnh.

Đồng minh với Mật vụ là Sở An ninh (Sicherheitsdienst hoặc SD), tạo thêm một cái tên gọi tắt gây kinh hoàng cho mọi người Đức – và sau đấy là cho dân cư các vùng bị chiếm đóng. Khởi đầu do Himmler thành lập năm 1932 như là bộ phận tình báo của SS, và do Reinhard Heydrich được Himmler bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng, chức năng của SD là rình rập đảng viên và báo cáo hành động khả nghi. Năm 1938, một luật mới giao nhiệm vụ cho SD bao trùm cả Đế chế.

Các Đội Đặc nhiệm (Einsatzgruppen): Ban đầu, Himmler và Heydrich tổ chức các Đội Đặc nhiệm để đi theo Quân đội Đức tiến vào Ba Lan năm 1939, và ở đây họ bắt giữ người Do Thái và đưa vào những khu biệt lập. Đến chiến dịch đánh Liên Xô, theo sự thỏa thuận với Quân đội Đức, các Đội Đặc nhiệm đi theo để thực hiện bước đầu của "giải pháp cuối cùng." Bốn Đội Đặc nhiệm được thành lập cho mục đích này: A, B, C và D. Theo chính tài liệu của Quốc xã, bốn Đội Đặc nhiệm gây nên cái chết cho khoảng 750.000 người.

Đến năm 1939, Cơ quan RSHA (Reichssicherheitshauptamt – Cơ quan Trung ương An ninh Đế chế) được thành lập bằng cách sáp nhập các bộ phận: SD, Gestapo và Cảnh sát Hình sự. Chức năng chính thức là chiến đấu chống "các kẻ thù của Đế chế" kể cả cộng sản, người Do Thái và những "thành phần chủng tộc bất hảo." Giám đốc đầu tiên của RSHA là Reinhard Heydrich, kế tiếp là Ernst Kaltenbrunner cho đến khi kết thúc Thế chiến II. RSHA được chia ra thành 7 ban (Ämter hoặc Amt) như sau:

Amt I: Ban Nhân viên và Tổ chức, dưới quyền SS Trung tướng Bruno Streckenbach.

Amt II: Ban Hành chính, Luật và Tài chính, dưới quyền SS Đại tá TS. Hans Nockemann.

Amt III: Ban Tình báo nội bộ, cũng phụ trách người gốc Đức ở vùng biên giới và các vấn đề văn hóa, dưới quyền Otto Ohlendorf.

Amt IV: Gestapo, dưới quyền Heinrich Müller. Nổi tiếng trong Ban này là Adolf Eichmann đứng đầu Phòng Người Do Thái của Amt IV, bị tình báo Do Thái bắt năm 1960 ở Argentina rồi đem về Do Thái đưa ra xét xử và thi hành án tử hình bằng cách treo cổ.

Amt V: Ban Cảnh sát Hình sự, phụ trách tội trạng không thuộc lĩnh vực chính trị, dưới quyền Arthur Nebe.

Amt VI: Ban Tình báo hải ngoại, dưới quyền Heinz Jost, kế tiếp là Walter Schellenberg.

Amt VII: Ban Thư khố, phụ trách công tác "ý thức hệ" và tuyên truyền, dưới quyền GS. Franz Six. Chính ông này đã lên kế hoạch khủng bố chính trị bắt giam những nhân vật nổi tiếng nếu quân Đức tiến công lên được nước Anh.

Ghi chú về chức năng. Trong nhiều trường hợp, sự phân chia chức năng giữa các lực lượng SS, SD, Gestapo... dưới quyền tổng chỉ huy của Himmler là không rõ ràng. Một phần dó là vì nhân sự giữa các lực lượng này có thể được điều qua lại, một phần vì Himmler hay can dự vào những việc chỉ huy nhỏ nhặt nên có thể ra lệnh cho bất kỳ đơn vị nào thực hiện một nhiệm vụ theo cách thuận lợi cho ông ta. Ví dụ, SS và Gestapo thường hợp lực nhau trong việc đàn áp những người chống đối chế độ, còn SS và SD thường thực hiện việc thủ tiêu tù binh và người Do Thái.

Vì lý do này, khó mà định rõ việc nào do Himmler nhúng tay vào, việc nào Himmler hoàn toàn vô can. Tham khảo Đọc thêm ghi ở cuối bài này.

Quyền lực của Himmler[sửa | sửa mã nguồn]

Himmler có quyền lực bao trùm lên hầu như mọi mặt trong đời sống của Đức quốc xã. Vài ví dụ được ghi dưới đây.

Kiểm soát tư pháp: Quyền xét xử tội phản quốc được giao cho Tòa án Nhân dân, là loại tòa án gây kinh hoàng nhất trên đất nước. Hội đồng xét xử của Tòa án Nhân dân gồm có 2 thẩm phán chuyên nghiệp và 5 người khác được chọn từ đảng viên Quốc xã, lực lượng SS và Quân đội, vì thế thẩm phán chuyên nghiệp thuộc phía thiểu số. Phán quyết của tòa án này không được quyền kháng cáo, và các phiên xử thường là kín.

Kiểm soát lao động: Cái gọi là Mặt trận Lao động Đức, trên lý thuyết thay thế những nghiệp đoàn cũ đã bị Quốc xã giải tán, không phải là đại diện cho công nhân. Luật quy định là nhà lãnh đạo của Mặt trận Lao động Đức phải là người của Đảng Quốc xã, nghiệp đoàn cũ của Quốc xã, lực lượng SA hoặc SS.

Quyền lực trên vùng chiếm đóng: Theo sau đà tiến của quân Đức vào các vùng lãnh thổ Đông Âu, Himmler được cử thi hành những "nhiệm vụ đặc biệt". Các tướng lĩnh đều hiểu rõ những "nhiệm vụ đặc biệt" là gì, dù trước Tòa án Nürnberg họ đều chối là không biết. Hơn nữa, chỉ thị còn quy định phong tỏa kín từng vùng bị chiếm đóng (như ở Liên Xô) trong khi Himmler thi hành nhiệm vụ. Hitler ra lệnh ngay cả những nhân vật cao nhất của Chính phủ và Đảng không được quyền vào xem xét.

Đào tạo. Lực lượng SS phụ trách giám sát, bổ nhiệm hiệu trưởng và giảng viên cho các Học viện Giáo dục Chính trị Quốc gia. Những Học viện này có mục đích phục hồi loại hình giáo dục trước đây được thực hiện trong các trường võ bị của Phổ. Thanh niên được giáo dục về "tinh thần chiến binh với các đức tính là lòng can đảm, ý thức nghĩa vụ và lối sống giản đơn." Ngoài ra, thanh niên còn được học về những chủ thuyết Quốc xã. Có 3 Học viện như thế được thành lập vào năm 1933, tăng lên 31 Học viện khi Thế chiến II bùng nổ, trong đó 3 Học viện dành riêng cho nữ.

Luật của Himmler[sửa | sửa mã nguồn]

Trong số những tội ác chiến tranh, tệ hại nhất có lẽ là Lệnh Đêm đen và Sương mù. Himmler ban hành lệnh này vào ngày 7/12/1941 để nhắm vào những dân thường không may trên những vùng miền Tây bị chiếm đóng. Như cái tên kỳ dị cho thấy, mục đích của lệnh này là bắt giữ người nguy hại đối với an ninh của Đức nhưng không hành quyết ngay, mà khiến cho họ mất tung tích trong đêm đen và sương mù ở một vùng hẻo lánh nào đó trên đất Đức. Gia đình nạn nhân không hề nhận được tin tức gì về số phận của họ, ngay cả nơi chôn xác.

Theo lệnh của Himmler năm 1942, lao động nô lệ có quan hệ tình dục với phụ nữ sẽ bị xử tử hình. Lệnh này đặc biệt nhắm đến lao động nô lệ người Nga, quy định "đối xử đặc biệt" cho "những vi phạm nghiêm trọng về kỷ luật, kể cả từ chối làm việc hoặc biếng nhác trong công việc." Đối xử đặc biệt là treo cổ. Cụm từ "đối xử đặc biệt" được sử dụng thường xuyên trong các tài liệu của Himmler và trong lối nói của Quốc xã.

Cũng theo lệnh của Himmler, những người bị kết tội chống đối Quốc xã thì không những cá nhân bị cái chết thảm khốc, mà thân nhân của họ cũng bị bắt giam, bị đưa vào trại tập trung.

Ngày 4/10/1943, trong bài diễn văn mật phát biểu với sĩ quan SS tại Posen, Heinrich Himmler nói: Tôi không màng chuyện gì xảy ra với người Nga, hoặc người Séc. Vào thời gian này, với chức vụ Tư lệnh SS kiêm Chỉ huy trưởng Cảnh sát toàn nước Đức, Himmler có vị thế quan trọng thứ hai sau Hitler, nắm quyền sinh sát của 80 triệu người Đức và gấp đôi số này trên các lãnh thổ bị Đức thôn tính. Himmler nói tiếp:

Nếu các dân tộc có dòng máu tốt như ta, ta sẽ nhận, nếu cần bằng cách bắt cóc con cái của họ và nuôi chúng ở đây với ta. Tôi không màng liệu các dân tộc sống trong giàu có hoặc chết đói như gia súc, miễn là họ phục vụ ta như nô lệ...

Tôi không màng liệu 10.000 phụ nữ Nga ngã xuống vì kiệt sức trong khi đào một hố chống tăng, miễn là hố chống tăng ấy được hoàn tất cho nước Đức...

Thanh trừng đẫm máu[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1934, trong nội bộ Đảng Quốc xã nổi lên một cuộc tranh giành quyền lực mới không khoan nhượng. Göring và Himmler cùng liên kết với nhau để chống lại Röhm, lúc đó là Tham mưu trưởng Lực lượng SA. Hậu quả là cuộc thanh trừng đẫm máu diễn ra ngày 30 tháng 6, 1934.

Himmler nhận lệnh ra tay ở Bayern, còn Göring được chỉ thị hành động ở Berlin, sử dụng lực lượng áo đen SS và cảnh sát đặc biệt của Göring. Những người bị sát hại có cả cấp cao như Đại tướng SS Edmund Heines (chỉ huy trưởng SA ở Silesia) và Đại tướng SS Schneidhuber (chỉ huy SA trưởng ở München kiêm chỉ huy trưởng cảnh sát München). Nhiều người trước khi bị hành quyết vẫn không biết tại sao mình phải chết. Trước khi bị bắn, Schneidhuber kêu lên: "Các anh em, tôi không biết có chuyện gì, nhưng cứ bắn thẳng." Còn Karl Ernst, chỉ huy trưởng SA ở Berlin, vốn là người thiếu thông minh, trong khoảng 24 giờ ông vẫn nghĩ rằng đây là vụ đảo chính do cánh Hữu gây ra, nên chuẩn bị tinh thần để hô "Heil Hitler!" trước khi bị bắn.

Không bao giờ người ta biết chính xác bao nhiêu người bị sát hại. Hitler thông báo có 61 người bị bắn, kể cả 19 "lãnh đạo SA cấp cao," thêm 13 người chết vì "chống lại lệnh bắt giữ: và 3 người "tự tử" – tổng cộng 77 người. Di dân ở Paris xuất bản một quyển sách cho biết có 401 người bị giết, nhưng chỉ có thể kể tên 116 người. Trong phiên tòa năm 1957, con số được đưa ra là "hơn 1000."

Một phiên tòa ở München tháng 5/1957 là cơ hội đầu tiên để các nhân chứng và người can dự vào cuộc thanh trừng cung khai trước công chúng. Sepp Dietrich là người chỉ huy cận vệ SS của Himmler vào năm 1934 và chỉ đạo những cuộc hành quyết trong nhà tù Stadelheim. Mang quân hàm thượng tướng SS trong chiến tranh, ông bị án 25 năm tù vì can dự vào việc sát hại tù binh Mỹ. Sau 10 năm, ông được trả tự do, rồi bị mang ra xử ở München năm 1957 và lãnh án 18 tháng tù vì can dự vào cuộc hành quyết ngày 30/6/1934. Sĩ quan SS Michael Lippert bị kết án đã trực tiếp giết Röhm.

Không phải chỉ có đám SA bị xử tử. Buổi sáng 30/6/1934, một toán SS nhấn chuông nhà Tướng Kurt von Schleicher ở ngoại ô Berlin. Ông này là Bộ trưởng Quốc phòng (1932) và cựu Thủ tướng Đức (1932-1933), có mưu đồ chia rẽ Quốc xã tuy không thành công. Khi vị tướng mở cửa, ông bị bắn ngay tại chỗ. Khi cô vợ ông mới cưới 18 tháng trước – ông vẫn độc thân cho đến lúc ấy – bước đến, cô cũng bị bắn ngay.

Tướng Kurt von Bredow, một người bạn thân của Schleicher, cũng cùng chung số phận tối hôm ấy.

Gregor Strasser bị bắt tại nhà của ông ở Berlin và đích thân Göring ra lệnh kết liễu ông trong nhà ngục. Ông chết vì đã có thái độ thách thức với Hitler và bí mật tiếp xúc với von Schleicher trong các âm mưu giành quyền lực.

Đương kim Phó Thủ tướng Franz Papen von Papen trong nội các Hitler thì may mắn hơn, trốn thoát được số phận. Nhưng quân SS lục soát văn phòng của ông, bắn chết thư ký của ông tại bàn làm việc. Tội của ông là đọc bài diễn văn ở Marburg ngày 17/6/1934, công kích Quốc xã đã quá chuyên chế.

Bạn thân của Papen là Edgar Jung, bị Mật vụ bắt vài ngày trước, rồi bị hạ sát trong ngục. Erich Klausener, thủ lãnh nhóm Hành động Công giáo, bị giết trong văn phòng của ông ở Bộ Giao thông, còn các nhân viên của ông kể cả thư ký riêng là Nữ Nam tước Stotzingen đều bị đưa vào trại tập trung. Edgar Jung và Erich Klausener cùng giúp soạn bài diễn văn Marburg cho Papen đọc ngày 17/6.

Khi Papen tìm đến Göring để phản đối, ông bị giam lỏng trong ngôi biệt thự của ông với quân SS vũ trang kín kẽ canh gác chung quanh, đường điện thoại bị cắt, Ông bị cấm liên lạc với bên ngoài – thêm nỗi nhục nhã mà vị Phó Thủ tướng giỏi chịu đựng. Vì lẽ, không đầy một tháng sau, ông chấp nhận làm đại sứ tại Áo, nơi quân SS vừa sát hại Thủ tướng Áo Engelbert Dollfuß.

Nhiều người bị giết chỉ là do trả thù vì đã chống đối Hitler trong quá khứ; một số người là do đã biết quá nhiều, và ít nhất một người bị giết nhầm. Xác của Gustav von Kahr được tìm thấy trong một đầm lầy. Ông đã đàn áp vụ Đảo chính Nhà hàng bia của Hitler và đã ngưng hoạt động chính trị từ lâu, nhưng Hitler không bao giờ quên và tha thứ ông.

Xác của Linh mục Bernhard Stempfle được tìm thấy trong một khu rừng với 3 phát đạn vào ngực, cổ bị gãy. Ông đã giúp biên tập quyển Mein Kampf và có lẽ sau đấy nói quá nhiều về tình cảm của Hitler đối với Geli Raubal, người mà Hitler yêu say đắm.

Những người khác "biết quá nhiều" gồm có 3 binh sĩ SA bị cho là tòng phạm trong việc đốt tòa nhà Nghị viện do Quốc xã dàn cảnh.

Điều hành trại tập trung[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Röhm bị thanh trừng, các trại tập trung được giao cho lực lượng SS, và SS nhanh chóng tổ chức lại với hiệu năng và tính tàn bạo cố hữu của SS. Nhân viên canh gác được giao cho các đơn vị gọi là Totenkopf (Đầu Tử thần), được chọn ra từ những thành phần Quốc xã cứng cỏi nhất, mang huy hiệu đầu lâu và xương chéo trên bộ đồng phục đen. Các trại linh tinh được dẹp bỏ, nhiều trại lớn hơn được xây lên.

Vào lúc đầu, trong thập kỷ 1930s, số nạn nhân trong trại tập trung có lẽ không khi nào quá 30 ngàn, và những hành động tàn bạo chưa được biết đến. Nhưng các trại này vẫn không có tính nhân văn. Lấy ví dụ, bản điều lệ của trại Dachau do chỉ huy trại Theodor Eicke soạn ra ngày 1/11/1933 có đoạn:

Điều 11. Người phạm những tội sau đây... sẽ bị treo cổ: phát biểu và tụ tập chống đối, tạo bè đảng, rình rập chung quanh với người khác, tuyên truyền cho đối lập, cung cấp thông tin đúng hoặc sai về trại tập trung, nhận, chôn giấu hoặc nói với người khác về thông tin như thế, đưa thông tin như thế ra khỏi trại vào tay người nước ngoài, v.v...

Điều 12. Người phạm những tội sau đây... sẽ bị bắn ngay lập tức hoặc bị treo cổ sau: tấn công một nhân viên bảo vệ hoặc SS, không tuân lệnh... hoặc xô xát, lớn tiếng, phát biểu trong khi diễu hành hoặc làm việc.

Ngay sau khi quân Đức tiến vào Áo và Hitler tuyên bố sáp Áo vào Đức, Himmler và Heydrich cũng nhân cơ hội họ đến Áo mà lập nên một trại tập trung khổng lồ ở Mauthausen, trên bờ bắc của Sông Danube gần Enns. Quá phiền phức khi chuyển vận hàng nghìn người từ Áo đến những trại tập trung ở Đức. Vì thế, Himmler quyết định Áo cần có trại tập trung riêng. Trước khi Đế chế thứ Ba sụp đổ, nạn nhân ngoài nước Áo nhiều hơn cả số người địa phương, và Mauthausen trở thành trại tập trung Đức (những trại hủy diệt ở miền Đông là loại khác) với con số tử hình chính thức – 33.318 trong 6 năm rưỡi.

Tiêu diệt người Do Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Ba Lan, việc săn lùng người Do Thái trong những ngôi nhà họ đã sống qua nhiều thế hệ được thực hiện ngay khi quân Đức đã trấn áp được các ổ kháng cự của Ba Lan. Ngày 7/10/1939, Hitler cử Himmler đứng đầu một cơ quan mới có nghĩa "Ủy viên Đế chế đặc trách Tăng cường tính Dân tộc Đức", gọi tắt theo tiếng Đức là R.K.F.D.V. Nhiệm vụ của cơ quan này là trước nhất trục xuất người Ba Lan và Do Thái ra khỏi những lãnh thổ đã sáp nhập vào Đức. Thế chỗ họ là người gốc Đức đến từ vùng Baltic và những vùng khác của Ba Lan. Tướng Tham mưu trưởng Lục quân Franz Halder đã nghe qua việc này, và ghi trong nhật ký là "cứ mỗi người Đức chuyển đến, hai người bị trục xuất đi Ba Lan."

Trong vòng một năm sau khi Himmler nhận chức vụ mới, 1.200.000 người Ba Lan và 300.000 người Do Thái bị đẩy về phía đông. Nhưng chỉ có 497.000 người gốc Đức thế chỗ họ. Tỷ lệ còn khác hơn so với ghi chép của Halder: 3 người Ba Lan và Do Thái bị trục xuất để nhường chỗ cho 1 người Đức.

Mùa đông 1939-40 lạnh hơn mọi năm, và việc "tái định cư" được thực hiện dưới không độ và thường dưới bão tuyết, khiến cho số người thiệt mạng vì thời tiết cao hơn là số người bị Quốc xã bắn và treo cổ.

Ngày 21/2/1940, Thiếu tướng SS Richard Gluecks báo cáo với Himmler rằng ông đã tìm ra một "vị trí thích hợp" cho một "trại cách ly" mới ở Auschwitz, một thị trấn heo hút với 12.000 cư dân trong đấy có doanh trại của kỵ binh Áo thuở xưa. Công việc được xúc tiến ngay, và ngày 14/6 Auschwitz chính thức mở cửa làm trại tập trung cho tù nhân chính trị Ba Lan mà Đức muốn đối xử với cách hà khắc đặc biệt. Sau này, đây sẽ là nơi chốn sát khí hơn. Tạm thời, công ty hóa chất I.G. Farben thấy Auschwitz là vị trí "thích hợp" cho một nhà máy than-dầu và cao su tổng hợp, sử dụng công sức nô lệ.

Để điều hành trại mới và cung cấp lao động nô lệ cho I.G. Farben, một đám côn đồ SS được chọn lọc để điều đến Auschwitz. Trong số này có Josef Kramer, sau này có biệt hiệu là "Con thú ở Belsen" và Rudolf Franz Heß, người khai trước Tòa án Nürnberg rằng mình đã giám sát việc thủ tiêu hai triệu rưởi người, chưa kể nửa triệu người khác bị bỏ mặc cho chết đói.

Vì lẽ, chẳng bao lâu Auschwitz trở nên trại hủy diệt khét tiếng nhất – khác với những trại tập trung, nơi có người sống sót đến sau chiến tranh.

Tiêu diệt khu biệt lập Warszawa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những ngày mùa xuân 1943, khoảng 60.000 người Do Thái trong khu biệt lập Warszawa ở thủ đô của Ba Lan nổi lên chống lại Quốc xã. Họ là tất cả những người còn lại trong số ban đầu 400.000 người bị giam hãm như gia súc trong khu này năm 1940.

Người chỉ huy cuộc đàn áp khủng khiếp là Trung tướng SS Juergen Stroop. Với ngôn từ thanh nhã, ông mô tả vụ việc trong một báo cáo chính thức dày 75 trang, đóng bìa da, kèm thêm nhiều hình ảnh, được tìm thấy sau chiến tranh. Báo cáo có tựa đề Khu biệt lập Warszawa không còn nữa.

Đến cuối mùa thu 1940, một năm sau khi Quốc xã thôn tính Ba Lan, lực lượng SS bố ráp và dồn khoảng 400.000 người Do Thái vào một khu biệt lập giữa bốn bức tường vây quanh, trên một vùng dài khoảng 4 kilômét và rộng 1,6 kilômét. Khu này bình thường có 160.000 cư dân, vì thế họ ở trong tình trạng đông đúc, nhưng đấy mới chỉ là bước đầu. Toàn quyền Frank không cho phép cung cấp đủ thực phẩm cho họ. Bị cấm đi ra ngoài nếu không sẽ bị bắn tại chỗ, người Do Thái không có việc làm nào khác hơn là vài xưởng chế tạo vũ khí của Quân đội Đức và vài doanh nhân tham lam biết cách tạo lợi nhuận lớn từ lao động nô lệ. Ít nhất 100.000 người Do Thái cố sống tồn bằng một bát súp một ngày do người khác làm từ thiện cung cấp.

Nhưng số dân trong khu biệt lập không chết nhanh như ý Himmler mong muốn. Vào mùa hè 1942, ông ra lệnh xử lý người Do Thái trong khu biệt lập Warszawa "vì lý do an ninh." Tính đến ngày 3/10, Stroop báo cáo có trên 310.000 người được "tái định cư." Đấy là, họ bị đưa đến trại thủ tiêu, phần lớn là vào phòng hơi ngạt tại Treblinka.

Nhưng Himmler vẫn chưa hài lòng. Khi ông thình lình đến Warszawa vào tháng 1/1943 và thấy vẫn còn 60.000 người Do Thái sống trong khu biệt lập, ông ra lệnh việc hoàn tất việc "tái định cư" vào ngày 15/2. Đây là một công tác khó khăn. Mùa đông khắc nghiệt và nhu cầu chuyển vận của Quân đội khiến cho lực lượng SS tìm đủ số chuyến xe lửa cho việc "tái định cư" cuối cùng. Đến mùa xuân mới có thể thực hiện lệnh của Himmler. Dự định là có "hành động đặc biệt" kéo dài 3 ngày. Cuối cùng, phải cần đến 4 tuần.

Việc mang đi 300.000 người giúp Đức giảm diện tích của khu biệt lập chỉ còn 300 mét dài và 100 mét rộng. Tướng Stroop huy động xe tăng, pháo, súng phun lửa và bộc phá, nhưng qua mạng cống rãnh, tầng hầm và khe hốc xen nhau như tổ ong tạo nên những công sự nhỏ. Họ có rất ít vũ khí, gồm súng lục và súng trường, khoảng 1, 2 chục súng máy mà họ mua lén từ bên ngoài, và lựu đạn tự chế. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong lịch sử của Đế chế thứ Ba, người Do Thái chống trả Quốc xã bằng vũ khí.

Stroop có gần 2.100 quân, phân nửa là lính chính quy hoặc Waffen-SS, còn lại là cảnh sát SS, được hỗ trợ bởi 355 dân quân Lithuania, cảnh sát và lính chữa lửa Ba Lan. Ngay từ đầu, họ đã bị bất ngờ vì sự chống trả mãnh liệt. Một xe tăng và hai xe bọc thép bị cháy vì bom xăng, và Đức phải lui quân.

Đến ngày thứ năm, vì bị Himmler hối thúc, Stroop quyết định đốt cháy toàn khu vực. Người Do Thái liều chết nhảy ra từ tầng lầu cao, nếu bị gãy xương vẫn cố bò lết qua khu vực khác chứ không chịu để bị bắt.

Đến gần giai đoạn cuối, người Do Thái rút xuống hệ thống cống rãnh. Stroop tìm cách làm ngập cống nhưng người Do Thái cố ngăn chặn dòng nước. Rồi quân Đức thả bom khói xuống 183 hố ga để mong làm ngạt thở người Do Thái trốn lánh trong cống, nhưng vẫn không có kết quả.

Suốt một tháng, người Do Thái chiến đấu với lòng dũng cảm pha liều lĩnh, trong khi Stroop báo cáo về "phương pháp chiến đấu không ngoan và trò lừa lọc mà người Do Thái và bọn cướp áp dụng." Đức đốt trụi thêm nhiều khu nhà vì "đây là phương pháp duy nhất và chung cuộc để ép thứ rác rưởi phải lộ mặt."

Cuối cùng, tổng cộng 56.065 người Do Thái bị thủ tiêu, kể cả 36.000 người bị bắt và bị đưa vào phòng hơi ngạt. Stroop báo cáo 16 tử thương và 90 bị thương. Có lẽ con số thật sự cao hơn nhiều, xét qua cách tác chiến dự dội từ nhà này qua nhà khác.

"Giải pháp cuối cùng"[sửa | sửa mã nguồn]

"Lệnh Lãnh tụ về Giải pháp Cuối cùng" được giới lãnh đạo Quốc xã biết đến nhưng chưa hề được thể hiện trên giấy – ít nhất không thể tìm ra văn bản nào trong số tài liệu của Quốc xã tịch thu được. Mọi chứng cứ cho thấy có phần đúng là cụm từ này được truyền đạt bằng miệng cho Göring, Himmler và Heydrich, rồi những người này truyền xuống cấp dưới trong mùa hè và mùa thu năm 1941.

Himmler ra lệnh Đội Đặc nhiệm hành quyết 100 người trong nhà tù Minsk để ông xem cách thức như thế nào. Theo Bach-Zalewski, sĩ quan SS cấp cao hiện diện, Himmler gần ngất đi khi trông thấy hậu quả của loạt đạn đầu tiên. Vài phút sau, khi loạt đạn kế tiếp không thể giết ngay hai phụ nữ Do Thái, Himmler trở nên điên dại. Vì việc này, Himmler ra lệnh từ ngày này trở đi không được bắn phụ nữ và trẻ em, mà hành quyết họ trong xe tải khí.

Thượng tướng SS Otto Ohlendorf, Trưởng ban Amt III (Tình báo nội bộ) thuộc RSHA (1943-1945), chỉ huy Đội Đặc nhiệm D ở Ukraina và Crimea (1941), khai trước Tòa án Nürnberg là vào mùa xuân 1942, lệnh của Himmler đưa đến để thay đổi phương pháp hành quyết phụ nữ và trẻ em. Từ lúc này, phải đưa phụ nữ và trẻ em lên "xe tải khí" được hai công ty chế tạo một cách đặc biệt.

Bên ngoài không thể thấy được mục đích thật sự của loại xe tải này. Nó giống như xe tải đóng kín, được chế tạo sao cho khi nổ máy, khói xả được dẫn vào bên trong thùng xe khiến người bên trong chết ngạt trong vòng mười đến mười lăm phút.

Theo lời khai của Ohlendorf, xe tải khí chỉ có thể hành quyết mỗi lần từ 15 đến 25 người, hoàn toàn kém cỏi cho việc tàn sát theo mức độ mà Hitler và Himmler đã ra lệnh. Ví dụ, kém cỏi cho công tác thực hiện ở Kyyiv mà theo một báo cáo chính thức của Đội Đặc nhiệm, trong hai ngày 29-30 tháng 9/1941 có 33.771 người, đa số là người Do Thái, bị "hành quyết."

Ohlendorf cùng 23 bị cáo khác bị xét xử trước Tòa án Quân sự Mỹ. Mười bốn người bị án tử hình. Chỉ có Ohlendorf cùng 3 người khác bị xử tử khoảng ba năm rưỡi sau khi tuyên án. Những tử tội khác được giảm án.

Chính các trại thủ tiêu tạo tiến bộ hướng đến "giải pháp cuối cùng." Trại lớn nhất và khét tiếng là Auschwitz, gồm 4 phòng hơi ngạt khổng lồ và những lò thiêu người kế bên tạo nên công suất giết người và chôn xác người vượt xa những trại khác – Treblinka, Belsec, Sibibor và Chelmno, tất cả đều nằm trên đất Ba Lan. Còn có những trại nhỏ khác gần Riga, Vilna, Minsk, Kaunas và Lwów, nhưng các trại này giết người bằng súng thay vì bằng hơi ngạt.

"Giải pháp cuối cùng" tiếp diễn cho đến cuối cuộc chiến. Có nhiều tranh cãi về số người Do Thái bị sát hại. Theo hai binh sĩ SS làm nhân chứng tại Tòa án Nürnberg, Karl Eichmann ước tính con số này là từ 5 triệu đến 6 triệu. Eichmann là Trưởng ban Người Do Thái của tổ chức RSHA, thực hiện "giải pháp cuối cùng" dưới sự chỉ đạo của Heydrich. Con số đưa ra trong bản cáo trạng của Tòa án Nürnberg kà 5,7 triệu, trùng hợp với ước lượng của Hội đoàn Do Thái Thế giới. Riêng Reitlinger cho số thấp hơn, từ 4,2 đến gần 4,6 triệu.

Vào năm 1939, có khoảng 10 triệu người Do Thái sống trên những lãnh thổ bị lực lượng của Hitler chiếm đóng. Dù theo ước lượng nào, điều chắc chắn là phân nửa số người này đã bị Quốc xã sát hại. Đấy là hệ lụy chung cuộc và cái giá ghê gớm của sự lầm lạc mà nhà lãnh đạo Quốc xã truyền tải đến – hoặc chia sẻ với – nhiều người đi theo ông ta.

Đàn áp nhóm âm mưu ám sát Hitler[sửa | sửa mã nguồn]

Sau vụ Đại tá Claus von Stauffenberg ám sát hụt Adolf Hitler ngày 20/7/1944, Himmler huy động nhân viên Gestapo và SS vào cuộc để truy lùng những người có liên can, đồng thời thanh toán luôn những người bị nghi ngờ chống Quốc xã nhưng không trực tiếp tham gia vào vụ ám sát.

Các tướng lĩnh và sĩ quan cấp cao của Quân đội bị đưa ra trước Tòa án Danh dự Quân sự để bị tước quân tịch, rồi bị xét xử ở Tòa án Nhân dân do SS giạt dây.

Phiên xử đầu tiên của Tòa án Nhân dân diễn ra ở Berlin vào các ngày 7-8 tháng 8/1944. Trước vành móng ngựa là Thống chế Job-Wilhelm von Witzleben (cựu Tổng Tư lệnh Mặt trận miền Tây), Đại tướng Cấp cao Erich Hoepner (cựu Tư lệnh Đại đoàn Thiết giáp thứ Tư đánh Liên Xô), Đại tướng Helmuth Stieff (nguyên Cục trưởng Tổ chức Bộ Tư lệnh Lục quân), Đại tướng Karl von Hase (nguyên chỉ huy trưởng quân đội ở Berlin), các sĩ quan cấp trung Hagen, Klausing, Bernardis, và Bá tước Peter Yorck von Wartenburg (nguyên chuyên gia tại Bộ Khí tài và Vũ trang). Thể chất họ đã khá suy yếu sau khi bị Mật vụ tra tấn. Göbbels đã ra lệnh quay phim từng phút của phiên tòa để mang ra chiếu cho binh sĩ và dân chúng xem để làm gương.

Hình phạt được thi hành ngày hôm sau. Tám tử tội bị đưa vào một gian phòng nhỏ đã có sắn tám cái móc treo thịt. Từng người bị lột trần cho đến eo, một thòng lọng bằng sợi dây dương cầm được tròng vào cổ họ và phía trên buộc vào cái móc treo thịt. Máy quay phim vẫn chạy rè rè trong khi tử tội đong đưa và ngạt thở, chiếc quần không có dây lưng cuối cùng tụt xuống, khiến cho họ trần truồng trong khi chết một cách đau đớn.

Suốt mùa hè, thu và đông năm 1944 cho đến đầu năm 1945, các phiên xử của Tòa án Nhân dân tiếp tục cho đến khi một quả bom của không quân Mỹ rơi đúng xuống phòng xử ngày 3/2/1945, ngay sau khi Schlabrendorff bị dẫn vào. Chánh án Freisler tử thương, hồ sơ của đa số can phạm còn sống bị tiêu hủy. Vì thế, Schlabrendorff may mắn thoát chết – một trong số ít người được vận may mỉm cười với họ.

Himmler kéo dài đời sống của một nhóm 20 người, hẳn vì tin rằng họ có thể hữu ích cho ông nếu ông nắm quyền lực và đàm phán hòa bình. Họ bị xử bắn vào các đêm 22-23 tháng 4/1945 khi quân Nga bắt đầu tấn công trung tâm Berlin. Trong khi họ bị giải đi – nhiều tù nhân trốn thoát được trong những cơ hội như thế khi thành phố bị cúp điện vào những ngày cuối cùng của Đế chế thứ Ba – họ gặp một toán binh sĩ SS. Họ nhận lệnh phải đứng sắp hàng dựa một bức tường và bị bắn xối xả. Chỉ có hai người sống sót để kể lại câu chuyện.

Tướng Tư lệnh Dân quân Friedrich Fromm không thoát án tử hình dù đã có động thái chống nhóm âm mưu. Himmler ra lệnh bắt giữ ông ngày hôm sau, đưa ông ra Tòa án Nhân dân vào tháng 2/1945 với tội danh "hèn nhát." Có lẽ để công nhận ông đã giúp cứu nguy cho chế độ Quốc xã, ông không bị treo cổ như những người khác mà bị xử bắn ngày 19/3/1945.

Theo một nguồn tin, tổng cộng có khoảng 4.980 người bị hành quyết. Mật vụ liệt kê 7.000 người bị bắt.

Những mưu đồ khác[sửa | sửa mã nguồn]

Dàn cảnh ám hại Tư lệnh Lục quân. Ngày 25/1/1938, Himmler trình ra một hồ sơ cho thấy Đại tướng Tư lệnh Lục quân Werner von Fritsch phạm tội đồng tính luyến ái chiếu theo Điều 175 của luật hình sự Đức, và rằng ông đã chi trả cho một cựu tù nhân tống tiền ông từ năm 1935 để làm êm thấm vụ việc. Himmler đưa ra nhân chứng Hans Schmidt, khai nhận Tướng von Fritsch là sĩ quan quân đội mà anh ta bắt gặp, trong một con hẻm tối tăm gần nhà ga Potsdam ở Berlin, có hành vi đồng tính luyến ái với một người trong giới giang hồ có bí danh "Joe Bayern". Schmidt khai với ba nhân vật có quyền lực nhất nước Đức rằng vị sĩ quan này đã trả tiền cho anh ta giữ kín vụ việc, và việc chi trả chỉ ngưng khi anh ta bị tống vào ngục. Hitler ra lệnh cho Fritsch nghỉ phép vô thời hạn, đồng nghĩa với việc ngưng chức Tư lệnh Lục quân. Một cuộc điều tra sơ khởi của Quân đội phối hợp với Bộ Tư pháp cho thấy Tướng von Fritsch là nạn nhân vô tội do Gestapo dàn cảnh dưới sự chỉ đạo của Himmler. Phiên xử Tướng von Fritsch nhóm họp ngày 17/3/1938, kết luận với phán quyết là bị cáo vô tội. Cá nhân Tướng von Fritsch được minh oan, nhưng ông không được phục hồi chức vụ. Vì là phiên tòa xử kín, công chúng không biết gì cả về vụ việc.

Tóm thâu Quân báo. Từ lâu, Himmler đã có ý kèn cựa với Cục Quân báo của Bộ Tổng tham mưu Quân lực Đức và muốn thâu tóm hoạt động này của cục vào lực lượng SS, nên không ngừng theo đuổi mục đích này. Kết quả là một số nhân viên Quân báo bị SS hành quyết ngày 9/4/1945, không đầy một tháng trước khi Đức đầu hàng. Trong vài tháng kế, nhân viên của Himmler còn phát hiện thêm nhiều tình tiết khiến cho Quân báo và Giám đốc Canaris bị đình chỉ hoạt động hẳn. Cuối cùng Cục Quân báo bị xóa sổ, và Himmler đoạt lấy chức năng tình báo quân đội. Ngày 18/2/1944, Hitler ra lệnh giải tán Cục Quân báo và giao cho cơ quan RSHA đảm nhiệm công tác tình báo. Đây là thắng lợi lớn cho Himmler, vốn từ lâu đã hiềm khích với Quân đội đặc biệt là vụ cáo giác Tướng von Frisch năm 1938. Đây cũng là sự mất mát thông tin tình báo cho Quân đội, củng cố thanh thế của Himmler đối với các tướng lĩnh.

Ngày tàn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sinh nhật 20/4/1945 của Hitler, Himmler rời khỏi boong-ke của Hitler - là lần từ giã cuối cùng giữa hai người. Do Tướng SS Walter Schellenberg thúc giục, Himmler tiếp xúc với Bá tước Folke Bernadotte của Thụy Điển đề dàn xếp việc quân đội Đức đầu hàng với phương Tây.

Ông nói với vị Bá tước: "Cuộc đời vĩ đại của Lãnh tụ đang đi đến hồi kết cuộc." Ông nói, trong vài ngày tới Hitler sẽ chết. Rồi Himmler thúc giục Bernadotte lập tức thông báo với Tướng Dwight David Eisenhower là Đức sẵn sàng đầu hàng Đồng minh phương Tây. Himmler nói thêm rằng ở miền Đông, chiến tranh sẽ tiếp tục cho đến khi các cường quốc phương Tây tiếp quản mặt trận mà chống Nga. Đấy là sự ngây thơ hoặc ngu xuẩn, hoặc cả hai, của người lãnh đạo SS bây giờ muốn nắm quyền độc tài trên Đế chế thứ Ba. Khi Bernadotte yêu cầu Himmler đưa đề nghị đầu hằng bằng văn bản, Himmler ký vào một lá thư được gấp rút viết ra dưới ánh sáng của một ngọn nến – vì Không lực Hoàng gia Anh đến oanh kích khiến mất điện và những người đang hội đàm phải chuyển xuống tầng hầm.

Ngày 28/4, Bộ Tuyên truyền Đức bắt được bản tin của đài BBCLuân Đôn, thuật lại tin của hãng Reuters đưa từ thủ đô Stockholm của Thụy Điển, về việc Himmler tiếp xúc Bernadotte. Hitler nổi lên cơn giận dữ mà theo một nhân chứng, "như là một người điên." Đối với Hitler, người không bao giờ ngờ vực lòng trung thành tuyệt đối của Himmler, đây là đòn đau đớn nhất. Một nhân chứng kể: "Da ông chuyển thành đỏ bầm và không ai còn nhận khuôn mặt của ông... Sau một tràng dài mắng mỏ, Hitler rơi vào trạng thái choáng váng, trong một lúc cả boong-ke đều im lặng." Ít nhất Göring đã xin phép lên nắm quyền thay. Nhưng người lãnh đạo lực lượng SS đã không buồn xin phép; ông đã tiếp xúc với địch quân mà không báo cáo lấy một chữ. Khi đã hoàn hồn phần nào, Hitler bảo các thuộc hạ đấy là hành động phản trắc nặng nề nhất mà ông từng kinh qua.

Trong bản Tuyên cáo Chính trị trước khi tự tử, Hitler tuyên bố:

Trước khi tôi chết, tôi trục xuất cựu Lãnh tụ SS và Bộ trưởng Nội vụ Heinrich Himmler ra khỏi đảng và ra khỏi tất cả chức vụ nhà nước.

Thi thể Himmler sau khi tự sát, 1945

Tân Tổng thống Karl Dönitz do Hitler bổ nhiệm trước khi tự sát đã loại Heinrich Himmler ra khỏi chính phủ trước đấy, vào ngày 6/5/1945, trong động thái mà ông tính toán có thể làm hài lòng Đồng minh. Himmler lang thang trong vùng Flensburg, rồi đến ngày 21/5 đi cùng 11 sĩ quan SS để vượt qua phòng tuyến Anh-Mỹ mà trở về sinh quán Bayern. Ông đã cạo bộ râu, bịt một tấm vải đen lên mắt trái và bận bộ quân phục của binh nhì Lục quân. Một chốt kiểm soát của Anh chặn họ lại. Ông khai ra tung tích của mình, rồi bị lột quần áo và buộc phải mặc quân phục Anh hầu tránh khả năng ông giấu thuốc độc. Nhưng việc kiểm tra không cẩn thận. Himmler giấu một ống kali xyanua trong hốc nướu miệng. Ngày 23/5/1945, một sĩ quan quân báo Anh đến và ra lệnh cho nhân viên quân y kiểm tra miệng của Himmler. Himmler lập tức cắn vỡ ống thuốc độc và chết trong vòng 12 phút. Nỗ lực cứu sống ông đã không thành công.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • The rise and fall of the Third Reich – A history of Nazi Germany của William L. Shirer, NXB Simon & Schuster, Inc. (1960).