Sư đoàn 18 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sư đoàn 18 Bộ binh
ARVN 18 Division SSI.svg
Phù hiệu.
Hoạt động 1965-1975
Quốc gia Việt Nam Cộng hòa Việt Nam Cộng hòa
Quân chủng Lực lượng vũ trang
Phân loại Bộ binh
Bộ phận của Quân đoàn III, Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Khẩu hiệu Thần tiễn - Bảo quốc
Màu sắc Vàng, đỏ, lam, trắng
Tham chiến Trận Xuân Lộc
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Lê Minh Đảo

SƯ ĐOÀN 18 BỘ BINH - QLVNCH Bản doanh: Xuân Lộc-Long Khánh

Sư đoàn 18 (1965-1975) [1] là một đơn vị của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Một trong 3 Sư đoàn Chủ lực quân trực thuộc Quân đoàn III & Quân khu 3. Tuy tuổi quân không bằng các đơn vị bạn nhưng Sư đoàn đã có những trang sử hào hùng và một bề dầy chiến tích lẫy lừng.

Lược sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Sư đoàn được thành lập vào ngày 16/5/1965 tại Xuân Lộc, Long Khánh với danh xưng ban đầu là Sư đoàn 10 Bộ binh. Được hình thành từ các Trung đoàn 43, 48, 52 biệt lập và Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh cùng các đơn vị yểm trợ, tác chiến kỹ thuật và các Tiểu đoàn Pháo binh (nghị định số 406/QP/NĐ ngày 5/8/1965). Phù hiệu sư đoàn là màu xanh nhạt tượng trưng cho bầu trời xanh, màu xanh đậm tượng trưng cho màu đất, và cung tên dựa vào truyền thuyết Nỏ thần thời An Dương Vương. Ngày 1/1/1967 Sư đoàn được cải danh thành Sư đoàn 18 Bộ binh.

Sư đoàn 18 Bộ binh hoạt động và trách nhiệm Khu 33 Chiến Thuật, bao gồm những tỉnh Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy và Đặc Khu Vũng Tàu.

Sư đoàn đã đi vào quân sử bằng những trận chiến vang danh như: Võ Xu (1966), Suối Long (1967), Túc Trưng-La Ngà (1969), vượt biên sang Kampuchia, truy đuổi và tiêu diệt cơ quan đầu não của địch Cục R (1970) và tham dự chiến trường An Lộc thay đơn vị bạn là Sư đoàn 5 bộ binh (Mùa hè đỏ lửa 1972). Cuối cùng Sư đoàn đã đánh cho địch một trận đánh để đời (tháng 4/1975) tại Xuân Lộc-Long Khánh.

Đơn vị trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • *Từ "Đại đội Tổng hành dinh" đến "Thiết đoàn Kỵ binh", được gọi là "Đơn vị Yểm trợ" trực thuộc Sư đoàn
  • ** Có hậu cứ tại Long Bình
STT Đơn vị Chú thích STT Đơn vị Chú thích
1 Trung đoàn 43 Bộ binh 10 Biệt đội Quân báo
2 Trung đoàn 48 Bộ binh 11 Biệt đội Kỹ thuật
3 Trung đoàn 52 Bộ binh 12 Biệt đội Tác chiến Điện tử
4 Đại đội Tổng hành dinh* 13 Tiểu đoàn Quân y
5 Đại đội Trinh sát Dưới quyền điều đông trực tiếp của Tư lệnh Sư đoàn 14 Tiểu đoàn Truyền tin
6 Đại đội Quân cảnh 15 Tiểu đoàn Tiếp vận
7 Đại đội Công vụ 16 Tiểu đoàn Công binh chiến đấu
8 Đại đội Quân vận(Quân xa) 17 Trung đoàn Pháo binh** Các Tiểu đoàn: 180 (155ly), 181, 182, 183 (105ly)
9 Đại đội Hành chính Tài chính 18 Thiết đoàn 5**

(M.48 & M.113)

Thuộc Lữ đoàn 3 Kỵ binh. Phối thuộc và dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Sư đoàn

Bộ Tư lệnh & Trung đoàn trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chức danh Chỉ huy & Tham mưu sau cùng:
  • *Chỉ huy trưởng
  • **Trung đoàn
20 Cấp bậc Họ & Tên Chức vụ Chú thích
1 Thiếu tướng Lê Minh Đảo

Võ bị Đà Lạt K10

Tư lệnh Ngày 24/4/1975 vinh thăng Thiếu tướng
2 Đại tá Lê Xuân Mai

Võ bị Đà Lạt K4

Tư lệnh phó
3 Đại tá Huỳnh Thao Lược

Võ bị Đà lạt K3

Tham mưu trưởng
4 Đại tá Hứa Yến Lến

Võ bị Đà Lạt K6

Phụ tá Tư lệnh

Đặc trách Hành quân

5 Đại tá Dương Phún Sáng

Võ bị Đà Lạt K3

Chánh thanh tra
6 Đại tá Ngô Văn Hưng CHT* Pháo binh
7 Đại tá Lê xuân Hiếu

Võ bị Đà Lạt K10

TRĐ** trưởng TRĐ 43
8 Trung tá Trần Minh Công TRĐ trưởng TRĐ 48
9 Đại tá Ngô Kỳ Dũng

Võ bị Đà Lạt K14

TRĐ trưởng TRĐ 52

Tư lệnh Sư đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kể từ ngày thành lập đến sau cùng, trải qua 5 vị Tư lệnh:
  • *Cấp bậc khi nhậm chức
STT Cấp bậc* Họ & Tên Tại chức Chú thích
1 Đại tá Nguyễn Văn Mạnh

Võ bị Đà Lạt K2

Tháng 5/1965-8/1965 Sau cùng là Trung tướng Tổng tham mưu phó
2 Chuẩn tướng Lữ Mộng Lan

Võ bị Đà Lạt K3

Tháng 8/1965-9/1966 Tên thường gọi: Lữ Lan. Sau cùng là Chỉ huy trưởng Trường Cao đẳng Quốc phòng
3 Đại tá Đỗ Kế Giai

Võ bị Đà Lạt K5

Tháng 9/1966-8/1969 Sau cùng là Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Biệt động quan Trung ương
4 Chuẩn tướng Lâm Quang Thơ

Võ bị Đà lạt K3

Tháng 8/1969-4/1972 Sau cùng là Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt
5 Đại tá Lê Minh Đảo Tháng 4/1972-30/4/1975
Quân kỳ.

Trong trận Xuân Lộc, Sư đoàn 18 Bộ Binh và các đơn vị tăng phái gồm: "Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân, Lực Lượng Địa Phương Quân & Nghĩa Quân của Tiểu Khu Long Khánh, hỏa lực Không yểm chiến thuật của Sư Đoàn 3 Không Quân" đã đánh có trận chiến ác liệt trong 12 ngày đêm với 4 sư đoàn Bắc Việt (SĐ6, SĐ7, SĐ341, và SĐ325) và các đơn vị tăng và pháo.

Ngày 20/4/1975, hồi 09h00 sáng, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn III có Đại tá Hoàng Đình Thọ Trưởng phòng 3 tháp tùng bay vào Xuân Lộc gặp Chuẩn tướng Lê Minh Đảo Tư lệnh Mặt trận để chỉ thị và lệnh cho Chuẩn tướng Lê Minh Đảo rút toàn bộ lực lượng tham chiến khỏi Xuân Lộc (Long Khánh) trong ngày 20/4/1975. Cuộc hành quân lui binh khỏi Xuân Lộc (Long Khánh) của toàn bộ lực lượng tham chiến là Sư đoàn đã thi hành lệnh của Quân đoàn III & Quân khu 3 - QLVNCH để trở về phòng thủ vòng đai an ninh gần Sài Gòn và phi trường Biên Hòa vì Quân đội Nhân dân Việt Nam không tiếp tục tấn công Xuân Lộc mà đã đi vòng theo QL15 tiến vào Sài Gòn qua Biên Hòa. Sư đoàn này tan rã chỉ 1 tuần sau đó.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân (2011)