Vụ tập kích Sơn Tây

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến dịch Bờ Biển Ngà (Operation Ivory Coast)
Một phần của Chiến tranh Việt Nam
SonTayPrisonCamp.jpg
Trại tù Sơn Tây khoảng cuối thập niên 1970
.
Thời gian 21 tháng 11 năm 1970
Địa điểm Việt Nam
Kết quả Không tìm thấy tù binh Mỹ, đội đặc nhiệm Mỹ rút thành công.
Tham chiến
Cờ của Việt Nam Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Flag of the United States Hoa Kỳ
Chỉ huy
không rõ Thiếu tướng không quân LeRoy J Manor
Đại tá Arthur D. Simons
Lực lượng
không rõ 56 lính đặc nhiệm
92 phi công
29 máy bay
Tổn thất
một số dân thường thiệt mạng 2 bị thương
1 máy bay cường kích bị bắn rơi, 1 trực thăng bị phá hủy do trục trặc.
.

Vụ tập kích Sơn Tây, còn mang tên gọi là chiến dịch Bờ biển ngà, là cuộc tấn công của quân đội Mỹ bằng máy bay lên thẳng vào một trại giam ở ngoại ô (phía Tây) thị xã Sơn Tây cách Hà Nội 50 km trong chiến tranh Việt Nam. Vụ tập kích diễn ra đêm ngày 20 rạng sáng ngày 21 tháng 11 năm 1970, do đại tá bộ binh Athur Simons với biệt danh "Bò tót" trực tiếp chỉ huy nhằm giải thoát số phi công Mỹ đã bị quân đội và người dân miền Bắc Việt Nam bắt làm tù binh trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc do Mỹ phát động và thực hiện [1]. Vụ tập kích này được phía Mỹ gọi là "Cuộc hành quân Đặc nhiệm Kingpin POW", lực lượng đặc nhiệm tham gia gồm 56 quân nhân Mỹ được chọn từ Lực lượng đặc biệt số 6 và số 7 tại Trung tâm Chiến tranh đặc biệt Lục quân Hoa Kỳ ở căn cứ Fort Brag, Tiểu bang Bắc Carolina và ở Fort Beening, Tiểu bang Georgia. Mới đây (tháng 5 năm 2011), hãng BBC có bài viết liên hệ các vụ tập kích bằng trực thăng của quân đội Hoa Kỳ đã từng xảy ra kể từ vụ tập kích Sơn Tây đến vụ tập kích Abbottabad hạ sát Osama Bin Laden[2].

Bối cảnh ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1967, Ủy ban Tù binh liên cơ quan (IPWIC) được thành lập ở Mỹ, do Cục tình báo Bộ Quốc phòng (DIA) chỉ đạo. IPWIC đã tiến hành điều tra, thu thập tin tình báo về tù binh Mỹ ở miền Bắc Việt Nam. Căn cứ vào tin tình báo, phía Mỹ tin rằng ở trại giam tại Sơn Tây có 55 tù binh Mỹ.

Tháng 7 năm 1970, kế hoạch tập kích được đề ra với sự phối hợp của Cơ quan tình báo trung ương Mỹ (CIA), DIA, Cục điều tra liên bang (FBI), Cơ quan an ninh quốc gia (NSA), Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và cố vấn an ninh quốc gia [1]. Một kế hoạch giải thoát tù binh Mỹ tại Sơn Tây đã được phê duyệt, đồng thời chỉ định một nhóm chuyên gia lên kế hoạch chi tiết để thực hiện. Kế hoạch chi tiết này được chia thành ba giai đoạn:

  1. Giai đoạn 1: Thu thập tin tức tình báo;
  2. Giai đoạn 2: Tuyển mộ và huấn luyện;
  3. Giai đoạn 3: Hành động.

Trại giam tù binh Mỹ ở Sơn Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trại tù Sơn Tây
bản đồ trại tù binh Mỹ ở Sơn Tây.

Trại giam tù binh Mỹ Sơn Tây không lớn, xây dựng theo phối trí hình vuông, mỗi chiều dài 45 mét, xung quanh có tường cao 2 mét với dây kẽm gai. Trại nằm bên bờ sông Tích, xung quanh trại là ruộng lúa nước, tù binh Mỹ được ở trong bốn dãy nhà lán trại cấp 4, với ba vọng gác bao quanh tường rào của trại. Vị trí của trại cách Thủ đô Hà Nội 30 km về hướng Tây Bắc theo đường chim bay. Trại giam giữ khoảng 55 tù binh Mỹ là phi công. Xung quanh khu vực của trại trong vòng bán kính 1 km có sự trú đóng của Sư đoàn 12 (khoảng 10 ngàn binh lính), Trường Sĩ quan Pháo binh của Quân đội Nhân dân Việt Nam và một trường phổ thông cấp 3 (trường cấp 3 Sơn Tây, nay là trường Phổ thông trung học Sơn Tây).

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 1: Thu thập tin tức tình báo[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1970, Trại giam tù binh Mỹ Sơn Tây đã được Nhóm Tình báo đặc nhiệm tù binh Hoa Kỳ xác định được vị trí. Nhóm Tình báo đặc nhiệm này được thành lập năm 1967 với nhiệm vụ là theo dõi các tù binh Mỹ bị miền Bắc Việt Nam giam giữ, xác định địa điểm tù binh bị giam giữ ở các trại giam giữ (xác định vị trí các trại giam giữ tù binh Mỹ); nhằm mục đích thông báo cho Không quân Mỹ tránh rải bom vào các vị trí giam giữ tù binh Mỹ ở miền Bắc Việt Nam. Theo tin thu thập được của CIA lúc bấy giờ, trại Sơn Tây giam giữ khoảng 55 tù binh là phi công Mỹ.

Sau khi xác định được vị trí của trại giam tù binh Sơn Tây, Không quân Mỹ tiến hành nhiều chuyến bay thám sát, chụp ảnh thám không của trại giam giữ tù binh Sơn Tây và xung quanh. Nhóm Tình báo đặc nhiệm tù binh Hoa Kỳ cũng phát hiện cách trại Sơn Tây 32 km có một căn cứ không quân (sân bay Đa Phúc). Như vậy cuộc tập kích giải cứu tù binh Mỹ phải được tiến hành chớp nhoáng để tránh sự viện binh mau lẹ từ căn cứ không quân này.

Một điều rất quan trọng mà lực lượng tình báo Mỹ không thu thập được, là trước đó (khoảng 1 tháng trước khi Mỹ tập kích vào đêm ngày 20 tháng 11 năm 1970), toàn bộ số tù binh phi công Mỹ bị giam giữ tại đây đã được di chuyển đến một địa điểm bí mật khác, cho dù không quân và các nhóm tình báo Mỹ bằng nhiều phương tiện nghiệp vụ mà không nắm được tin tức rất quan trọng này.

Giai đoạn 2: Tuyển mộ và huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Không quân Mỹ tập luyện phục vụ chiến dịch

Giai đoạn này, Lục quân Mỹ tuyển dụng các binh lính tình nguyện và huấn luyện cho họ. Trong khi đó bộ phận tình báo kết hợp cùng Không lực Mỹ tiếp tục thu thập tin tức, chụp ảnh vùng Sơn Tây và lân cận.

Giai đoạn 3: Hành động[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch này đã được CIA nghiên cứu rất kỹ, Từ việc tính đường kính cây trong sân trại giam, đến việc hy sinh chiếc trực thăng để dùng cánh quạt trực thăng dọn bãi cho những chiêc khác hạ cánh, từ việc tính toán nhiên liệu của chiếc trực thăng làm sao khi đến nơi phải hết nhiên liệu để không gây cháy, đến việc chia người của chiếc bị nạn này lên những chiếc khác, nhiệm vụ điểm danh trước khi cât cánh... đều nằm trong chương trình, và kế hoạch này cũng không chấp nhận việc bắt tù binh để tiết kiệm tối đa thời gian [cần dẫn nguồn].

Lệnh thi hành được phê chuẩn và ban bố vào ngày 18 tháng 11 năm 1970. Nhóm binh lính thuộc đội đặc nhiệm sau thời gian huấn luyện, đêm ngày 18 tháng 11 năm 1970 được đưa lên máy bay vận tải C-141. Các binh lính này không mặc quân phục và cũng không đeo phù hiệu của bất kỳ đơn vị nào của Quân lực Mỹ; Nhóm đặc nhiệm được tập kết tại Sân bay quân sự Thakhi, Thái Lan.

Đêm ngày 20 tháng 11 năm 1970, nhiều máy bay chiến đấu của Mỹ xâm phạm vùng trời miền bắc Việt Nam. Một số tốp thả pháo sáng ở Hải Phòng để đánh lạc hướng lực lượng phòng không miền bắc, tạo điều kiện cho quân tập kích Mỹ thâm nhập vào hoạt động.

Lúc 23 giờ ngày 20 tháng 11 năm 1970, năm máy bay lên thẳng chở quân tập kích rời sân bay Udon, Thái Lan bay vào miền bắc Việt Nam, có nhiều máy bay dẫn đường, tiếp dầu, hộ tống.

Vào 2 giờ ngày 21 tháng 11 năm 1970, các máy bay đáp xuống và đổ quân ở khu vực tập kích, trong đó một chiếc hạ ngay xuống sân trại giam. Nhóm đặc nhiệm Mỹ đã dùng loa kêu gọi tù binh phá trại giam, đánh phá một số mục tiêu, cắt thông tin liên lạc hòng ngăn chặn lực lượng chi viện của miền bắc.

Một điều hết sức bất ngờ là số tù binh Mỹ đã được chuyển đi nơi khác gần một tháng trước đó, nên sau khoảng nửa giờ tấn công, quân Mỹ đã lên máy bay rút về căn cứ. Trong đó có một máy bay trực thăng bị vướng vào cây nên không bay lên được và bị lính Mỹ tự phá hủy để khỏi rơi vào tay đối phương.

Đây là trận tập kích táo bạo, liều lĩnh, được lên kế hoạch đến từng chi tiết của không quân Mỹ, nhưng không đạt được mục tiêu đề ra.[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam. “VỤ TẬP KÍCH SƠN TÂY” (bằng tiếng Việt). Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam. Bản gốc lưu trữ |url lưu trữ= cần |ngày lưu trữ= (trợ giúp). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2010. 
  2. ^ Đặc nhiệm Mỹ từ Sơn Tây tới Abbottabad