Chiến dịch Attleboro

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến dịch Attleboro
Một phần của Chiến tranh Việt Nam
.
Thời gian 14 tháng 9-24 tháng 11 năm 1966
Địa điểm Tây Bắc Dầu Tiếng, Nam Việt Nam
Kết quả Hoa Kỳ thất bại trong mục tiêu chiến dịch
Thắng lợi chiến lược của Mặt trận Dân tộc Giải phóng
Tham chiến
Flag of the United States.svgHoa Kỳ
Flag of South Vietnam.svgViệt Nam Cộng hoà
Flag of Vietnam.svgViệt Nam Dân chủ Cộng hoà
FNL Flag.svgMặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam
Chỉ huy
Thiếu tá Guy S. Meloy Không rõ
Lực lượng
~22.000 ~8.000
Tổn thất
Flag of the United States.svg Hoa Kỳ: 155 chết12
494 bị thương12
Flag of South Vietnam.svg Không rõ
Tổng số: Không rõ số chết
~3,000 bị thương hoặc bị ốm
14 trực thăng trúng đạn (1 chiếc rơi và 7 chiếc hư hại nặng)[1]
Không rõ (Mỹ tuyên bố có 1.106 chết1, nhưng thực tế quân Mỹ chỉ thu được 127 vũ khí cá nhân và 19 vũ khí cộng đồng)
.

Chiến dịch Attleboro là một chiến dịch của Quân lực Việt Nam Cộng hòaquân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam nhằm vào chiến khu Dương Minh Châu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Hoàn cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong địa bàn tỉnh Tây Ninh có một vùng địa danh nổi tiếng với những trận giao tranh lớn: đó là chiến khu C hay còn gọi là chiến khu Dương Minh Châu, nơi tập trung nhiều đơn vị chủ lực của Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam và là căn cứ địa của Trung ương cục Miền Nam. Chính từ vùng này, Quân Giải phóng đã khởi động nhiều cuộc tấn công quy mô vào Tây Ninh, Hậu Nghĩa. Ngoài ra, từ hướng Tây và Tây-Bắc Sài Gòn, họ đã thiết lập vùng Tam giác Sắt với hệ thống mật khu vòng đai như Hố Bò, Bời Lời, Long Nguyên. Theo phân tích của các chuyên viên tình báo Việt Nam Cộng hòa, lộ trình tấn công của Quân Giải phóng vào khu vực vòng đai đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định có thể dọc theo sông Sài Gòn về hướng Nam và có thể giao tiếp với một cánh quân khác dọc theo Quốc lộ 13 từ hướng Bình Long. Từ hướng Tây-Nam, các cuộc tấn công của Quân Giải phóng có thể được xuất phát từ khu vực Mỏ Vẹt và Ba Thu trên đất Campuchia kế đó băng qua khu Vườn Thơm tại Hậu Nghĩa và cuối cùng tiến vào ngoại vi của Chợ Lớn. Từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 5 năm 1967, liên quân Việt Nam Cộng hòa-Mỹ đã mở hai cuộc hành quân đại quy mô để truy tìm các đơn vị Quân Giải phóng tại vùng Chiến khu C và phụ cận.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 1966, khi Lữ đoàn khinh binh Hoa Kỳ đến Nam Việt Nam, Bộ tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ đã bố trí lữ đoàn này ngay vào khu vực ven Chiến khu C, nơi mà Sư đoàn 9 tập trung trở lại sau khi bị liên quân Việt Nam Cộng hòa - Mỹ đánh nát. Cùng với sư đoàn Quân Giải phóng miền Nam này còn có một trung đoàn cơ động biệt lập vừa xâm nhập vào. Quân Giải phóng toan đánh vào một tiền đồn của Lực lượng Đặc biệt để dụ quân tiếp viện đến và chận đánh luôn theo chiến thuật "công đồn đả viện". Cuối tháng 10, Quân Giải phóng đã thành công trong kế hoạch chận đánh một đại đội tiếp viện cho tiền đồn, nhưng khi họ làm như vậy chẳng khác nào tự báo với liên quân Việt Nam Cộng hòa - Mỹ rằng họ đang khai triển quân ở vùng này. Để triệt hạ lực lượng Quân Giải phóng quanh vùng Chiến khu C, vào giữa tháng 9 năm 1966, Bộ tư lệnh Lực lượng Dã chiến 2 của Hoa Kỳ tại Vùng 3 đã phối hợp với Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 Việt Nam Cộng hòa tổ chức cuộc hành quân quy mô mang tên là Attleboro với quân số tham chiến là 22 ngàn liên quân Việt Nam Cộng hòa-Mỹ. Nỗ lực chính của lực lượng Hoa Kỳ gồm 19 tiểu đoàn thuộc các binh đoàn sau đây: Sư đoàn 1, Lữ đoàn 173 Nhảy dù, 2 lữ đoàn của Sư đoàn 4Sư đoàn 25. Phía Việt Nam Cộng hòa có chiến đoàn đặc nhiệm trực thuộc Quân đoàn 3. Về lực lượng Quân Giải phóng tại vùng hành quân, tin tức tình báo cho biết có 4 trung đoàn: 101, 271, 272 và 273.

Trong 6 tuần đầu của cuộc hành quân, không có trận đụng độ lớn. Nhưng trận chiến đã bùng nổ vào ngày 3 tháng 11 năm 1966 tại một địa điểm cách tỉnh lỵ Tây Ninh 27 km về hướng Đông-Bắc, khi Lữ đoàn 196 Hoa Kỳ kịch chiến với 3 trung đoàn Quân Giải phóng. Giao tranh ác liệt đã diễn ra từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 11 năm 1966. Lực lượng bộ binh Việt Nam Cộng hòa và một số tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1 và 25 Bộ binh Hoa Kỳ đã tiếp ứng Lữ đoàn 196 để đánh lùi Quân Giải phóng ra khỏi trận địa.

Trong ngày 6 tháng 11 năm 1966, theo ước tính của Mỹ, số Quân Giải phóng thiệt mạng lên đến 270, ngày 7 tháng 11, liên quân Việt Nam Cộng hòa - Mỹ chiếm được 35 pháo đài kiên cố của Quân Giải phóng và họ tuyên bố đã hạ 319 người. Ngày 7 tháng 11, Quân Giải phóng mở nhiều đợt xung phong tấn công trơ lại nhưng phi cơ Hoa Kỳ đã dội napalm xuống sát vị trí của đơn vị bộ chiến Mỹ, đẩy lùi cuộc tiến công, tổng số Quân Giải phóng thiệt mạng được Mĩ tuyên bố là 758.

Ngày 9 tháng 11, liên quân Việt Nam Cộng hòa - Mỹ bung rộng lục soát chiến trường, tìm thấy thêm 95 xác nữa, đưa tổng số Quân Giải phóng tử thương lên 828 người. Từ 10 đến ngày 26 tháng 11, các đơn vị Việt Nam Cộng hòa - Mỹ tiếp tục truy tìm Quân Giải phóng, trong thời gian này không có cuộc đụng độ nào đáng kể. Ngày 27 tháng 11, cuộc hành quân kết thúc, tổn thất của Quân Giải phóng theo phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa là: 1.101 chết, 44 tù binh, 149 vũ khí bị tịch thu và khoảng 1.000 tấn gạo bị tìm thấy.

Trong trận kịch chiến nói trên, số quân Việt Nam Cộng hòa - Mỹ trực tiếp giao tranh với Quân Giải phóng là 10 ngàn trong tổng số 22 ngàn lính tham dự cuộc hành quân từ ba hướng, riêng pháo binh Hoa Kỳ đã tác xạ yểm trợ cho hơn 10 ngàn quả đạn đại bác, ngoài ra bộ chỉ huy của họ trong cuộc hành quân cũng đã sử dụng B-52 oanh tạc vào các khu vực được ghi nhận là vị trí tập trung của quân Bắc Việt. Sau trận này, Quân Giải phóng đã rút lui về bên kia biên giới Việt-Campuchia.

Vào hai tháng đầu năm 1967, tiếp theo cuộc hành quân đại quy mô của liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa vào khu Tam giác Sắt hồi tháng 1 năm 1967, ngày 22 tháng 2 năm 1967, Bộ tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Vùng 3 phối hợp với Bộ tư lệnh Quân đoàn mở một cuộc hành quân lớn vào Chiến khu C. Cuộc hành quân này điều động một lực lượng hùng hậu gồm 20 tiểu đoàn Hoa Kỳ và 4 tiểu đoàn bộ chiến Việt Nam Cộng hòa. Trong số 24 tiểu đoàn này, có một số tiểu đoàn đã tham dự cuộc hành quân tại vùng Tam giác Sắt tháng trước. Mục tiêu chính của cuộc hành quân nhắm vào việc bắt trọn bộ phận đầu não quân sự và chính trị Trung ương cục Miền Nam của Quân Giải phóng.

Theo kế hoạch, các đơn vị dàn quân theo hình móng ngựa để bao vây ba mặt chiến khu này, sau đó một số đơn vị có chiến xa, cơ giới công binh yểm trợ tiến vào giữa để tảo thanh, truy kích. Dàn trận trước tiên là các tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 173 Nhảy dù Hoa Kỳ, đây là lữ đoàn xung kích trong suốt cuộc hành quân.

Từ ngày 23 tháng 2 đến 9 tháng 3 năm 1967, các đơn vị Quân Giải phóng cố tìm cách vượt thoát khỏi vòng vây của liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa, nhưng không thành công. Trận chiến đã bùng nổ vào đêm 10 tháng 3 năm 1967, khi hai tiểu đoàn Quân Giải phóng chọc thủng tuyến đóng quân của một tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 173 Nhảy dù Hoa Kỳ, gần trung tâm của Chiến khu C, cách thị xã Tây Ninh 30 km về hướng Đông. Giao tranh ác liệt diễn ra suốt đêm và kéo dài đến hết ngày hôm sau. Tính đến cuối ngày 11 tháng 3, sau 3 tuần liên tục truy kích, liên quân Việt Nam Cộng hòa - Mỹ đã loại ngoài vòng chiến 744 quân Giải phóng. Ngày 19 tháng 3, Lữ đoàn 173 mở cuộc tấn công vào vị trí của Quân Giải phóng nằm về phía Tây của Chiến khu C. Ngày 20 tháng 3 năm 1967, giao tranh tiếp diễn tại nhiều hướng, theo Mĩ tuyên bố đến ngày này có 1.117 quân Giải phóng tử thương; phía Hoa Kỳ có 143 tử trận, 659 người bị thương. Ngày 22 tháng 3 năm 1967, một trận kịch chiến đã kéo dài trong 6 giờ liền. Không quân Việt Nam Cộng hòa đã thực hiện 117 phi vụ yểm trợ, theo Việt Nam Cộng hòa tuyên bố: 596 quân Giải phóng thương vong, phía Hoa Kỳ có 31 binh sĩ tử trận và 109 người bị thương.

Ngày 22 tháng 7 năm 1967, cuộc hành quân chuyển qua giai đoạn 2. Liên quân Việt Nam Cộng hòa-Mỹ lần lượt khép chặt vòng vây và mở các cuộc tấn kích truy lùng Quân Giải phóng. Cũng trong thời gian này, họ cũng khai triển cuộc hành quân Ala-Moana ở phía Tây Hậu Nghĩa gần địa giới Tây Ninh để tìm và tiêu diệt lực lượng Quân Giải phóng đang tập trung tại vùng này.

Ngày 17 tháng 4 năm 1967, kết thúc giai đoạn 2, khởi động giai đoạn 3. Ngày 14 tháng 5 năm 1967, cuộc hành quân kết thúc giai đoạn 3. Tổng số quân Giải phóng thiệt hại trong cuộc hành quân vào Chiến khu C và cuộc hành quân Ala-Moana của liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa ở phía Tây Hậu Nghĩa theo tuyên bố của Mỹ là 3.110 người[cần dẫn nguồn], tuy nhiên thực tế Mỹ chỉ tịch thu được 584 vũ khí cá nhân và 105 vũ khí cộng đồng (chỉ bằng 1/5 con số bộ đội tử trận mà Mỹ tuyên bố). Phía Hoa Kỳ có 319 lính tử thương (trong đó có 282 tử trận trong cuộc hành quân vào Chiến khu C), 1.734 bị thương. Khi cuộc hành quân vừa bắt đầu, ban chỉ huy đầu não của Quân Giải phóng đã kịp thời rút về bên kia biên giới Campuchia, tránh được tổn thất.

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Theo liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa tuyên bố với truyền thông, trong trận này quân Giải phóng đã bị tổn thất đến 1.106 người tử trận. Tuy nhiên trên thực tế, quân Mỹ đã không thể tổ chức được một trận đánh lớn nào với Quân Giải phóng.[1]. Con số thương vong của quân Giải phóng mà Mỹ tuyên bố cũng bị xem là cố tình phóng đại so với thực tế, bởi suốt chiến dịch, Mỹ chỉ tịch thu được 127 vũ khí cá nhân và 19 vũ khí cộng đồng (ít hơn 8 lần so với tuyên bố của Mỹ[2]).

Quân Giải phóng đã tránh giao chiến trực diện với quân Mỹ, và chiến dịch đã không tiêu diệt được các cơ sở chính trị của quân Giải phóng tại Tây Ninh. Việc bị tổn thất về người và lương thực không phải là vấn đề lớn với quân Giải phóng, bởi chừng nào họ còn các cơ sở chính trị trong dân chúng thì chừng đó họ sẽ được bổ sung về quân số và lương thực[3].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Dust Off: Army Aeromedical Evacuation in Vietnam. DIANE Publishing. Peter Dorland,Peter Dorland James Nanney, James Nanney. P 54
  2. ^ http://freepages.military.rootsweb.ancestry.com/~realmccoy/attlebor.html
  3. ^ No Sure Victory: Measuring U.S. Army Effectiveness and Progress in the Vietnam war. Oxford university. Gregory A. Daddis. P 7
  • Summers, Harry G. Historical Atlas of the Vietnam War. New York: Houghton Mifflin Company.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]