Trận Ia Đrăng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Ia Đrăng
Một phần của Chiến tranh Việt Nam
Ia Drang Infantry disembarking from Helicopter.jpg
1/7 Cavalry tại LZ X-Ray
.
Thời gian 14 tháng 11-18 tháng 11 năm 1965
Địa điểm 13°35′B 107°43′Đ / 13,583°B 107,717°Đ / 13.583; 107.717 (Battle of la Drang)Tọa độ: 13°35′B 107°43′Đ / 13,583°B 107,717°Đ / 13.583; 107.717 (Battle of la Drang)
Thung lũng Ia Drang, Việt Nam
Kết quả Cả 2 bên đều tuyên bố chiến thắng
Tham chiến
Flag of Vietnam.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
FNL Flag.svg Quân giải phóng miền Nam
Flag of the United States.svg Hoa Kỳ
Chỉ huy
Nguyễn Hữu An
Đặng Vũ Hiệp
Thomas W. Brown
Harold G. Moore (X-Ray)
Robert McDade (Albany)
Lực lượng
Toàn chiến dịch: 3 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn đặc công.

Tại Ia Đrăng: Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 1/Trung đoàn 33 (khoảng 2.000 bộ binh nhẹ)

Toàn chiến dịch: Lữ đoàn 3 Không Kỵ Hoa Kỳ, 2 chiến đoàn biệt động quân, 2 chiến đoàn Dù, Chiến đoàn 3 thiết giáp VNCH.

Tại Ia Đrăng: 3 tiểu đoàn Không Kỵ (Hơn 1.000 quân)
Phi pháo và không quân yểm trợ (bắn 6000 loạt/ngày, không quân xuất kích 300 phi vụ/ngày. 72 loạt B-52 rải thảm)

Tổn thất
Tại Ia Đrăng:
Theo QĐNDVN: 208 chết, 146 bị thương [1]
Tính chung cho chiến dịch Ia Drang (không chỉ cho các trận đánh này):

Theo QĐNDVN: 554 chết và 669 bị thương [2]
Theo Hoa Kỳ: 1.519 chết theo cách đếm số xác người [1]

Tại Ia Đrăng: 234 chết, 245 bị thương (79 chết, 121 bị thương ở Bãi đáp X-ray và 155 chết, 124 bị thương ở Bãi đáp Albany)

Tính chung cho chiến dịch Ia Đrăng (không chỉ cho các trận đánh này):
Theo Hoa Kỳ: 305 chết [2]
524 bị thương [3][3]. Không rõ thương vong của VNCH
Theo QĐNDVN: 2.974 chết và bị thương (có khoảng 1.700 lính Mỹ). Phá huỷ 88 xe quân sự (có 42 xe tăng và xe bọc thép), 5 khẩu pháo 105mm, bắn rơi 59 máy bay.[2]

.

Trận Ia Đrăng là một trong những trận lớn đầu tiên giữa Quân đội Hoa KỳQuân đội Nhân dân Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam.

Trận đánh là 1 phần trong Chiến dịch Plei Me (từ ngày 19 tháng 10 đến ngày 26 tháng 11 năm 1965). Trận đánh gồm 2 giai đoạn này xảy ra giữa 14 tháng 11 tới 18 tháng 11 năm 1965 tại phía tây bắc Plei MeTây Nguyên của Nam Việt Nam. Tên trận đánh lấy theo tên của Sông Đrăng chảy qua thung lũng phía tây bắc của Plei Me, nơi đó trận đánh diễn ra. "Ia" có nghĩa là "sông" trong tiếng người Thượng.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Nguyên thuộc vùng II chiến thuật của Việt Nam Cộng hòa và là mặt trận Tây Nguyên (hay mặt trận B3) với Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Từ cuối năm 1964, Trung đoàn 2 bộ binh và Tiểu đoàn 409 đặc công của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) đã tiến hành một số trận đánh với 5 tiểu đoàn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) và giành thắng lợi.

Tháng 6 năm 1965, Tổng thống Mỹ Johnson phê duyệt áp dụng chiến lược quân sự tìm và diệt ở miền Nam Việt Nam do Westmoreland vạch ra. Quân đội Hoa Kỳ (QĐHK) sẽ làm lực lượng chủ lực để "bẻ gẫy xương sống Việt Cộng". Westmoreland thì xem Tây Nguyên là mối đe dọa trước mắt. Tháng 9 năm 1965, Bộ chỉ huy quân Mỹ đã điều Sư đoàn Không Kỵ số 1 lên án ngữ ở An Khê (Gia Lai), ngăn chặn QĐNDVN, cắt Tây Nguyên cùng với đồng bằng ven biển. Quân VNCH thành lập biệt khu 24 gồm 2 tỉnh Kon Tum - Gia Lai và chuyển giao nhiệm vụ tác chiến chủ yếu ở Tây Nguyên cho quân Mỹ để thực hiện kế hoạch "tìm và diệt" trong chiến lược Chiến tranh cục bộ.

Trong bối cảnh đó, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên của QĐNDVN quyết định thay đổi chủ trương, hạ quyết tâm mở chiến dịch Plei Me nhằm mục đích phối hợp với chiến trường toàn miền Nam tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ để mở rộng và củng cố vùng giải phóng, xây dựng căn cứ, rèn luyện bộ đội và cơ quan chiến dịch. Qua chiến đấu từng bước tìm hiểu quân Mỹ, đồng thời xây dựng lòng tin đánh Mỹ và thắng Mỹ. Thiếu tướng Chu Huy Mân được chỉ định là Tư lệnh kiêm Chính ủy chiến dịch, Đại tá Nguyễn Chánh và Thượng tá Nguyễn Hữu An làm phó tư lệnh. Huỳnh Đắc Hương giữ chức phó chính ủy, Thượng tá Nam Hà là tham mưu trưởng, Thượng tá Đặng Vũ Hiệp làm Phó chủ nhiệm chính trị.

Để tiến hành chiến dịch, QĐNDVN cử 3 trung đoàn bộ binh (320, 33, 66), 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm; cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh phá giao thông và hậu cứ địch.

Về sử dụng lực lượng: vây đồn Plei Me do Trung đoàn 33 (thiếu Tiểu đoàn 2), được tăng cường 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm. Bộ phận đánh viện trên Đường 21 là Trung đoàn 320. Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 2 đảm nhiệm đánh địch phản kích. Nghi binh ở Đức Cơ do Tiểu đoàn pháo 200. Nghi binh ở Tân Lạc là đại đội địa phương. Hoạt động ở hướng phối hợp là Tiểu đoàn 15 Gia Rai.

Về kế hoạch tác chiến, dự kiến chiến dịch chia làm 3 đợt:

  • Đợt 1, vây đồn Plei Me, diệt quân VNCH đi ứng viện;
  • Đợt 2, tiếp tục vây đồn Plei Me buộc quân Mỹ vào tham chiến;
  • Đợt 3, tập trung lực lượng nhằm vào một cánh quân Mỹ để tiêu diệt và kết thúc chiến dịch.

Trung đoàn 33 được lệnh tới chiếm trại Plei Me. Plei Me có vị trí quan trọng sát với đường số 19B nối Đức Cơ với thị xã Pleiku và đường 14 nối Phú Nhơn với Buôn Mê Thuột. Phát hiện ra đối phương cơ động, QLVNCH quyết định cho quân chi viện tới Plei Me. Ngày 23 tháng 10 (12 giờ), Chiến đoàn 3 thiết giáp từ Phú Mỹ hành quân lên Plei Me, gồm 3 chi đoàn M-113 và xe tăng; Tiểu đoàn 21 Biệt động quân, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 42 và 2 khẩu pháo 105mm.

Lúc 16 giờ 30 phút, đầu đội hình lọt vào giữa giữa trận địa phục kích của QĐNDVN. Các Tiểu đoàn 634 và 635 của QĐNDVN xung phong đánh vào giữa đội hình. Đến 18h, trận đánh kết thúc, QĐNDVN ghi nhận diệt 59 xe tăng, xe bọc thép và 800 quân VNCH, thu 2 pháo 105mm và 6 xe đạn, 40 súng các loại, bắn rơi 2 máy bay.[2]

Sau trận này, Trung đoàn 33 QĐNDVN rút từ Plei Me về khu vực thung lũng Ia Đrăng, cách 10 km về phía Tây để phòng thủ. Còn QĐHK bắt đầu dùng máy bay oanh tác khu vực và chuẩn bị tìm và diệt địch. Trước tình hình đó, Bộ tư lệnh QĐNDVN nhận định:

Ta đã diệt được một phận quan trọng quân cơ động của ngụy buộc quân Mỹ phải vào tham chiến. Nhiệm vụ bao vây của Plei Me đã hoàn thành. Chủ trương của ta mở bao vây, điều chỉnh lại đội hình. Sử dụng 2 Trung đoàn 320 và 33 sẵn sàng đánh bại các đợt phản kích tiếp theo của địch.

Ngày 29 tháng 10, QĐNDVN chủ động kết thúc đợt 1 chiến dịch, chuyển sang gia đoạn tiếp theo là tập trung lực lượng nhằm vào một cánh quân Mỹ để tiêu diệt địch.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Một tiểu đoàn dù của QĐHK đổ bộ xuống bờ nam sông Ia Đrăng. Một tiểu đoàn khác đổ bộ xuống cứ điểm 732. Một lữ đoàn dù trấn giữ dọc đường 19B. Ngày 11 tháng 11, một tiểu đoàn quân Mỹ tiếp tục đổ xuống Plei Ngo, cách Plei Me 12 km về phía tây.

Phía QĐNDVN, ngày 13 tháng 11 năm 1965, Đảng ủy và bộ tư lệnh mặt trận Tây Nguyên (mặt trận B3) họp và quyết định sẽ nghênh chiến QĐHK. Chính ủy mặt trận là Chu Huy Mân chỉ đạo binh sĩ của mình rằng vì họ chưa từng chiến đấu với quân đội Mỹ nên dịp này sẽ đánh và sẽ rút ra được kinh nghiệm. Thực ra, Tiểu đoàn 952 QĐNDVN trước đó vào ngày 11 tháng 11 đã tấn công một đơn vị Mỹ ở Bầu Cạn phá hủy một số máy bay trực thăng và làm bị thương một số binh sĩ đối phương.

Bộ chỉ huy trận Ia Đrăng của QĐNDVN đến đóng ở chân núi phía Nam Chư Prông. Lực lượng của họ bao gồm Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 33, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Hữu An (chỉ huy trưởng) và Đặng Vũ Hiệp (chính ủy), phối hợp với Tiểu đoàn H15 Quân Giải phóng miền Nam đánh nghi binh ở Đường 13 (tuy nhiên tài liệu phương Tây lại cho rằng Tiểu đoàn H15 cũng tham gia trận đánh). Đối mặt với họ là Lữ đoàn 3 Air Cavalry (Không Kỵ) của QĐHK, bao gồm 3 tiểu đoàn là 1/7 (do Trung tá Harold Moore chỉ huy), 2/7 và 2/5 Không Kỵ, tổng cộng khoảng hơn 1.000 quân. Cùng thời gian này, Mỹ huy động 1 tiểu đoàn pháo binh lập 2 trận địa pháo (12 khẩu 105mm) ở tây nam Quênh Kla 2 km và đông nam Ia Đrăng 3 km để chi viện cho Lữ đoàn 3.

Như vậy, xét về quan số tác chiến đơn thuần, QĐNDVN có ưu thế hơn (2.000 quân so với 1.000 quân). Tuy nhiên không thể xét đơn giản như vậy. Quân Mỹ là đội quân nhà giàu, được trang bị hỏa lực rất hùng hậu, trung bình 1 lính Mỹ tại chiến tuyến được 5 lính khác ở tuyến sau hỗ trợ phi pháo, ném bom, tải thương. Trong trận đánh, pháo binh Mỹ bắn 6000 loạt/ ngày, không quân xuất kích 300 phi vụ/ngày (có cả máy bay B-52), từ đó cho phép ước lượng pháo binh Mỹ tham chiến ít nhất 1 tiểu đoàn, không quân Mỹ tham chiến ít nhất 3 tiểu đoàn (chưa kể hàng trăm lượt trực thăng chuyển quân). Như vậy nếu tính cả lực lượng hỗ trợ tuyến sau thì quân Mỹ lại có ưu thế hơn hẳn.

Trận đánh mở màn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 14 tháng 11, Tiểu đoàn 1/7 Không Kỵ là đổ bộ xuống Bãi đáp X-ray vị trí cách Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66 QĐNDVN) khoảng 200 m. Cùng ngày, nhưng ở vị trí khác QĐHK cho đổ bộ hai tiểu đoàn (thiếu một đại đội) cùng một đại đội pháo. Một đơn vị pháo khác tham gia trấn giữ đường 19B.

Sau khi hoàn thành trận địa, QĐHK tập trung pháo binh và máy bay trực thăng bắn phá khu vực Bãi X-ray. 10 giờ 48 phút, quân Mỹ dùng 8 trực thăng đổ bộ bộ phận đi đầu (Đại đội Bravo gọi tắt là Đại đội B) do Đại úy John Herren của Tiểu đoàn 1 (109 lính trong đó có Tiểu đoàn trưởng Trung tá chỉ huy Moore) xuống Bãi X-ray. 35 phút sau, Mỹ tiếp tục đổ Đại đội Alpha (gọi tắt là Đại đội A) quân số 106 lính do Đại úy Tony Nadal chỉ huy. Sau khi nắm được Đại đội A, Tiểu đoàn trưởng Moore cho quân chia làm 2 mũi tiến công vào Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn 66

Tiểu đoàn 9 bị bất ngờ, tiểu đoàn trưởng đang đi gặp trung đoàn trưởng để nhận nhiệm vụ. Tham mưu trưởng tiểu đoàn cũng đang đi chuẩn bị chiến trường ở Ban Mê Thuột, chính trị viên phó cũng đang ở sở chỉ huy trung đoàn, chính trị viên trưởng đang ở chỗ Đại đội 12. Chỉ huy cao nhất lúc bấy giờ có một trợ lý tác huấn tiểu đoàn. Tuy bị bất ngờ nhưng binh sĩ QĐNDVN không hoảng loạn và tự tổ chức chiến đấu. Các Đại đội 13, 11 và 12 nghe tiếng súng đã chủ động cơ động đánh vào bên sườn quân địch. Đại đội B của Mỹ bị đánh mạnh ở hai bên sườn.

Đến khoảng 11 giờ, tiểu đoàn trưởng chạy về đến chỗ Đại đội 11 nắm được Đại đội 11 và một bộ phận của Đại đội 12, một khẩu súng cối   tiếp tục tổ chức đánh vào quân Mỹ. Trước các đợt phản kích liên tiếp của QĐNDVN, cả hai mũi xung phong của Mỹ đều bị bẽ gãy, phải lui về cụm lại cách Tiểu đoàn 9 hơn 1 km về phía Đông để chống lại. Một trung đội Mỹ bị vây chặt ở ven Bãi đáp X-ray, Trung đội trưởng Henry Herrick bị giết tại trận. Các nỗ lực giải vây bước đầu không thành. Đến khoảng 13 giờ 30 phút, lực lượng quân Mỹ tại Bãi X-ray được tăng cường Đại đội Charlie (gọi tắt là Đại đội C) do Đại úy Bob Edwards chỉ huy nhằm tăng cường khả năng phòng ngự trước các đợt tập kích của QĐNDVN.

17 giờ, Mỹ gọi phi pháo đánh liên tục vào đội hình QĐNDVN, các đại đội tự động rút khỏi vị trí (Đại đội 11, 12, 15 rút về phía tây bắc suối Khôn Chưa, Đại đội 13 rút về hướng Tiểu đoàn 7). Kết quả Tiểu đoàn 9 đã đánh bại cuộc tập kích của Mỹ, QĐNDVN ghi nhận họ đã diệt khoảng 150 lính Mỹ, bắn rơi một máy bay chiến đấu.

Các trận tập kích vào Bãi đáp X-Ray[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi bị Tiểu đoàn 9 đẩy lùi, quân Mỹ cụm lại thành hình vòng quanh Bãi đáp X-Ray, ban đêm dùng máy bay thả đèn dù, dùng pháo binh bắn chặn xung quanh đề phòng tập kích.

Ngày 15 tháng 11, lúc 5 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 66 QĐNDVN) bất ngờ tấn công Tiểu đoàn 1/7 Không Kỵ QĐHK, lực lượng sử dụng gồm Đại đội 1 và 2 có hai khẩu súng cối 82 mm của Đại đội 15. Tiểu đoàn triển khai cách địch khoảng 150 m, dùng hai khẩu cối 82 mm bắn 14 quả sau đó lệnh cho Đại đội 1 và 2 xung phong. Bộ đội Tiểu đoàn 7 QĐNDVN dùng 1 trung đội đột kích với 3 khẩu B-40, 6 RPD, 3 thượng liên, 13 AK vào diệt điện đài và đánh giáp lá cà với quân Mỹ. Sau vài phút rối loạn, quân Mỹ đã đánh trả ác liệt. Phía Mỹ có máy bay trợ chiến bằng bom và tên lửa. Máy bay Mỹ đến thả bom napalm xuống trận địa lúc này đang lẫn lộn cả quân của hai phía. QĐHK thương vong thêm 24 lính chết và 20 bị thương.[4]

Sau trận tập kích, Tiểu đoàn 7 rời khỏi trận địa. Trước khi rút, tiểu đoàn lệnh Đại đội 1 để lại một trung đội và hai khẩu súng cối để phục kích nếu trực thăng Mỹ xuống lấy xác thì đánh. Trên đường rút, bị máy bay và pháo binh đánh chặn, các đại đội của Tiểu đoàn 7 dùng súng bắn rơi tại chỗ 4 chiếc trực thăng.

Suốt ngày 15, Mỹ cho nhiều lần máy bay hạ cánh xuống lấy xác lính Mỹ nhưng đều bị súng cối bắn nên không dám đỗ xuống. 17 giờ 30 phút ngày 15 tháng 11, Mỹ đổ hai đại đội xuống để chiếm lại trận địa và thu dọn xác chết, bị súng cối bắn cháy thêm hai chiếc trực thăng.

Trận tập kích lần thứ 2 của Tiểu đoàn 7 diễn ra đêm 15 rạng ngày 16 tháng 11. Tiểu đoàn 7 còn Đại đội 3 và hai khẩu súng cối 82mm chưa tham gia chiến đấu. Căn cứ vào tình hình quân Mỹ cụm lại, cấp trên quyết định dùng lực lượng này và tăng cường thêm Trung đội 1 của Đại đội 1 (đánh bám địch) và hai khẩu súng cối 82 mm tổ chức trận tập kích ngay trong đêm 15. Tuy nhiên lần này quân Mỹ đã tổ chức bố phòng vững chắc hơn nhiều so với đêm trước và liên tục gọi pháo binh bắn phá dữ dội để yểm trợ nên QĐNDVN phải nhanh chóng chấm dứt tập kích sau khi chỉ khiến 6 lính Mỹ bị thương.[4]

Giai đoạn đầu của trận Ia Đrăng chấm dứt với kết quả là 79 lính Mĩ chết và 121 bị thương. Con số này khá khớp với ước tính của QĐNDVN rằng họ đã diệt hơn 250 quân địch. Tuy nhiên thương vong của phía Việt Nam thì khá mâu thuẫn. Moore báo cáo quân Mĩ "đếm" được 634 lính Việt Nam chết chưa kể số bị thương (ban đầu ông còn ước tính lên tới 834 nhưng sau đó hạ xuống do thấy vô lý). Còn theo chiến sử Trung đoàn 66 ghi nhận họ có 55 người hy sinh và khoảng 100 bị thương (chiếm 30% quân số của Tiểu đoàn 7).

Trận đánh ngày 17 tháng 11 (trận Albany)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu đoàn 8 còn sung sức nhanh chóng cơ động xuống nhận nhiệm vụ mới mà trung đoàn giao (trên đường đi sẵn sàng chiến đấu vì có thể gặp địch). Tiểu đoàn 8 nhận được lệnh, chiều ngày 16 đã cho bộ đội hành quân ngay về vị trí sở chỉ huy trung đoàn. Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 33 QĐNDVN) hành quân đến trợ chiến nhưng lạc đường. Nửa đêm về sáng ngày 17, Tiểu đoàn 7 lại tấn công đối phương gây thiệt hại nặng cho Tiểu đoàn 1/7 QĐHK buộc đơn vị này phải rút lui. Giai đoạn thứ hai của trận Ia Đrăng bắt đầu.

Ở hướng khác, ngày 17 tháng 11, Tiểu đoàn 2/7 Không Kỵ QĐHK đổ bộ xuống Bãi đáp Albany. Họ phát hiện ra vị trí của Tiểu đoàn 8 QĐNDVN ở bờ sông Ia Đrăng và tổ chức tấn công lúc đơn vị này đang nghỉ trưa. Nhưng chính họ lại bị QĐNDVN phục kích.

Lực lượng Tiểu đoàn 8 có ba đại đội bộ binh và một đại đội trợ chiến (Đại đội 10) ngoài ra còn được tăng cường một đại đội súng máy 12,7 mm (6 khẩu, đạn đầy đủ). Đội hình hành quân theo đội hình chiến dấu tao ngộ sẵn sàng chiến đấu cao, đặc biệt khi đi đến ngã ba đường làng Tung và làng Sinh. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Lê Xuân Phôi cho tất cả dừng lại triển khai đội hình chuẩn bị chiến đấu, đồng thời cho liên lạc báo cho Đại đội 8 biết tình hình.

Tiểu đoàn tổ chức thành hai thê đội: Thê đội 1 gồm Đại đội 6 (thiếu Trung đội 3). Thê đội 2 gồm Đại đội 7 và Trung đội 3 Đại đội 6. Trong vài phút, Đại đội 6 đã bí mật triển khai xong thì phát hiện quân Mỹ đang đi về hướng Tiểu đoàn 8. Khi quân Mỹ vào gần khoảng 40 đến 50 mét, đại đội trưởng lệnh cho đại liên bắn, Trung đội 1 và 2 cũng bắn mạnh vào đội hình địch và xung phong.

Tiểu đoàn 8 dùng súng máy tấn công cùng bộ đội tiến công bên sườn đội hình đối phương đang tấn công đến gần rồi đột ngột đổi hướng tiến thẳng vào đối phương và triển khai chiến thuật chia cắt và đánh mặt đối mặt với QĐHK. Chiến thuật này khiến các vũ khí hạng nặng của QĐHK không triển khai được và quân của họ không được yểm trợ đầy đủ như mọi khi. Đồng thời các đơn vị của họ bị chia cắt nên lúng túng và không xác định rõ mục tiêu, nhiều khi bắn vào nhóm khác của quân mình. Trong khi đó, QĐNDVN chiếm được các vị trí cao hơn và dễ dàng phát hỏa vào đội hình của đối phương đang di chuyển. Hậu quả là QĐHK thiệt hại nặng nề. Đại đội A của Tiểu đoàn 2 QĐHK bị chia cắt trong một khu vực trống trải bị mất 50 binh sĩ ngay trong những phút đầu tiên. Trong khi Đại đội C mất 20 người trong những phút đầu. Mọi việc trở nên tồi tệ hơn đối với QĐHK khi Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 33 QĐNDVN cuối cùng cũng đến nơi và tấn công đối phương từ sau lưng. Trước tình hình trên, phía Mỹ phải điều Tiểu đoàn 2/5 tới Bãi Albany để chi viện và yểm trợ cho Tiểu đoàn 2/7 thu dọn xác chết và sơ tán thương vong.

Đến 8 giờ tối ngày 18 tháng 11, trận chiến ở thung lũng Ia Đrăng kết thúc với việc các đơn vị QĐHK rút lui khỏi Bãi đáp Albany. Trận đánh thứ 2 này thực sự là một thảm họa với quân Mỹ: 155 lính bị giết và 121 bị thương, tức hơn 2/3 lực lượng; riêng Đại đội C chịu tổn thất lớn nhất với con số thương vong lên tới 95 người. Đây là thương vong cao nhất trong 1 ngày mà Mỹ phải chịu ở Việt Nam tính đến khi đó. Quân Mỹ tuy vậy vẫn báo cáo giết 403 lính đối phương, nhưng thực tế con số này là không có cơ sở, vì thực tế quân Mỹ trong trận này gần như bị xóa sổ và mất trận địa, không có cách nào để có thể "đếm" được thương vong của đối phương.

Trong Hồi ký, tướng Đặng Vũ Hiệp viết:

...Chúng tôi đi kiểm tra trận địa sau khi ta làm chủ chiến trường, địa hình hàng chục ki-lô mét vuông bị đảo lộn, cây gãy đổ ngổn ngang, không còn đường còn lối. Địch chết thành đống, có chỗ năm, ba tên; xen lẫn vào đó là xác chiến sĩ ta. Nhiều đồng chí nằm đè lên xác lính Mĩ, lưỡi lê còn cắm vào ngực tên địch. Có đồng chí hy sinh tay vẫn nắm chặt quả lựu đạn bên sườn. Có tổ ba chiến sỹ hy sinh mà phía trước và phía sau các anh có hàng chục xác Mĩ. Có đồng chí hy sinh trên vai còn vác thi thể đồng đội. Nhìn vào trạng thái địch ta như trên không những thấy rõ được tính chất quyết liệt một cách cụ thể, đồng thời thấy được sự hy sinh dũng cảm tuyệt vời của cán bộ, chiến sĩ ta. Về mặt chiến thuật càng thấy rõ nét hoạt động của tổ ba, thậm chí của những bộ phận một, hai đồng chí có rất nhiều tác dụng trong việc đột nhập sâu vào đội hình trung tâm của địch.

Ở hướng phối hợp tại Đức Cơ, Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 3 Air Cavalry QĐHK) cùng 2 đại đội pháo được 2 lữ đoàn dù của QLVNCH đến trợ chiến. Trung đoàn 320 QĐNDVN nghênh chiến nhưng không gây thiệt hại nặng cho đối phương như ở hai hướng kia. Ngày 18 tháng 11, Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho Trung đoàn 33 tập kích trận địa pháo Falcon ở phía tây suối Ia Muer. Thực hiện mệnh lệnh, từ 16 giờ 30 phút ngày 18, hai tiểu đoàn 2 và 3 cùng phân đội súng cối do tham mưu trưởng trung đoàn trực tiếp chỉ huy nổ súng tiến công trận địa pháo Mỹ. Sau ít phút chiến đấu đã có 3 lính Mỹ chết và 13 bị thương, Quân đội Nhân dân Việt Nam phá huỷ 3 khẩu pháo 105mm, 1 khẩu cối 81mm, 5 máy bay trực thăng và bắn rơi 2 chiếc khác; thu 750 viên đạn pháo và 30 viên đạn cối.

Kết quả và ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bốn ngày giao chiến, chỉ với lực lượng bộ binh trang bị nhẹ, "trận đánh sông Drang" của chủ lực QĐNDVN đã loại khỏi vòng chiến 476 lính Mỹ, trong đó có 234 lính chết và 245 bị thương. Thương vong của VN được tướng Đặng Vũ Hiệp ghi nhận là 208 người chết và 146 bị thương (một tài liệu khác ghi nhận Trung đoàn 66 có 157 người chết, bị thương 239). Con số do phía Mỹ tuyên bố với hơn 1.000 lính QĐNDVN bị giết chưa kể bị thương (634 trong trận X-Ray và 403 trong trận Albany) hiển nhiên cũng là phóng đại quá lớn, vì toàn bộ lực lượng VN chỉ chưa đầy 2.000 người[cần dẫn nguồn], và sau trận đánh Trung đoàn 66 vẫn còn đủ lực lượng để tiếp tục tham gia một số trận đánh diễn ra sau đó trong chiến dịch Plei Me.

Sau trận đánh, Trung đoàn 66 đã được tặng thưởng một lúc 2 Huân chương quân công hạng nhất, vì theo lời đại tướng Nguyễn Chí Thanh thì "do không có huân chương nào cao hơn, vì vậy tặng một lúc 2 huân chương để thưởng công cho thành tích tuyệt vời của Trung Đoàn 66". Nhiều chiến sĩ được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ: Đại đội trưởng Đại đội 2 Lê Văn Tam được tặng huân chương chiến công hạng nhì và danh hiệu dũng sĩ diệt Mĩ cấp 3, Chính trị viên phó Đại đội 6 Đinh Văn Đế diệt 8 lính Mĩ (3 bằng dao găm). Trung uý Vũ Đình Dự - Chính trị viên Đại đội 8, Trung úy Đoàn Ngọc Đảnh - Đại đội trưởng Đại đội 7, Thiếu úy Nguyễn Xuân Ngạnh trung đội trưởng, Thiếu úy Vũ Đức Thắng trung đội trưởng, chiến sĩ trẻ Lê Văn Quỳnh (18 tuổi), tiểu đội phó Hà Huy Trọng, Phạm Văn Tiết, Cao Thái Thưởng, Trần Minh Duyên... là những chiến sĩ được cấp trên ghi nhận diệt từ 5-15 lính Mỹ. Đặc biệt Lê Khắc Nga, Lê Văn Điều mỗi người được ghi nhận diệt hơn 20 lính Mỹ, là 2 chiến sĩ đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú đầu tiên ở chiến trường.[cần dẫn nguồn]

Về mặt chiến thuật, trận đánh đã cung cấp cho QĐNDVN nhiều kinh nghiệm quý về tác chiến chống quân Mỹ, một đối thủ vượt trội về hỏa lực và sức cơ động. Tiêu biểu là chiến thuật "Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh", tức áp dụng lối đánh cận chiến áp sát lính Mỹ để vô hiệu hóa hỏa lực pháo binh và không quân của Mỹ. Các tài liệu của Quân đội Nhân dân Việt Nam ghi nhận:

Lựa chọn cách đánh và đánh thắng địch ngay trận đầu là nét độc đáo của nghệ thuật chỉ huy chiến dịch. Quân Mỹ mới vào miền Nam tuy có chiếm ưu thế về hỏa lực, sức cơ động nhưng chúng rất chủ quan không đánh giá đúng mình và coi thường đối phương. Mặt khác ta không coi thường địch mà đã chuẩn bị tốt tư tưởng tâm lý cho cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng chấp nhận hy sinh để giành thắng lợi.

Sự sắc sảo của nghệ thuật chỉ huy chính là biết khoét sâu vào chỗ yếu, chỗ sơ hở của địch để lựa chọn địa hình, lựa chọn cách đánh đúng, giành thắng lợi trong từng trận chiến đấu. Trong chiến dịch này mưu hay của ta là lừa địch, kế giỏi là dụ quân Mỹ vào đúng điểm quyết chiến ta đã chọn; phát huy sở trường đánh gần của ta để làm hạn chế điểm mạnh về hỏa lực, cơ động Mỹ. Thắng lợi của chiến dịch đã khẳng định ta có khả năng đánh tiêu diệt từng tiểu đoàn quân Mỹ.

Về mặt chiến lược, trận đánh gây ra một ảnh hưởng sâu rộng về quan điểm chiến tranh của người Mỹ. Ngay tuần lễ sau đó Westmoreland đã đề nghị cho ông thêm 41.500 lính Mỹ[cần dẫn nguồn] với lý do "lực lượng chủ lực Bắc Việt Nam đã thâm nhập vào miền Nam". Những đề nghị này không ngừng tăng lên kể từ tháng 7, và đề nghị mới này đưa số quân Mỹ đến VN lên đến 375.000 người. Bộ trưởng McNamara phải bỏ dở ngay một hội nghị của OTAN ở Paris, khẩn cấp sang Sài Gòn một thời gian 30 giờ để đánh giá lại cuộc chiến. Mac Namara tuyên bố gửi cho ông ta 400.000 quân "không đảm bảo thắng lợi" - "Lính Mỹ trong những cuộc hành quân mỗi tháng bị chết có đến hơn 1.000" và cơ may vào đầu năm 1967 phải "một mức độ cao hơn". Lần đầu tiên Mac Namara nói đến việc Chính phủ có thể "thử cách thương lượng theo giải pháp hoà giải" đồng thời vẫn gửi quân tăng cường "ở một mức độ tối thiểu".[cần dẫn nguồn]

Bộ trưởng Quốc phòng Israel khi đó sang thăm Việt Nam Cộng hòa đã đóng vai một nhà báo chiến trường đến quan sát chiến dịch Pleime về nói như sau: "Quân đội Mỹ ở Việt Nam đã có đủ những vũ khí và phương tiện mà những người chỉ huy quân sự các nước khác chỉ thấy trong mơ. Thế mà, mỗi khi đối phương đã tiếp nhận giao chiến là trên 90% các trận đánh, quyền chủ động thuộc về họ...".[5]

Tướng Mỹ G. Moore và phóng viên chiến tranh L. Galoway, cả 2 đã chiến đấu trong trận Ia Đrăng sau này nhận định rằng: "Ia Đrăng - trận đánh đã làm thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam".[6]

Rõ ràng trận đụng độ đầu tiên với lực lượng chủ lực QĐNDVN đã làm những người đứng đầu quân đội Mỹ tại Việt Nam thay đổi cách nhìn lạc quan về triển vọng "chiến thắng dễ dàng" vốn vẫn được duy trì hồi tháng 7, vốn bắt nguồn từ sự tự tin về ưu thế hỏa lực và công nghệ của "sức mạnh siêu cường" trước đối phương.[7]

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Trận đánh được thiếu tá Moore tường thuật lại trong cuốn Hồi ký We were soldiers...and Young (Chúng tôi là những người lính trẻ). 1 bộ phim tên gọi We were soldiers (Tên tiếng Việt: Chúng tôi từng là lính) cũng được dàn dựng dựa theo cuốn hồi ký này. Bộ phim đã được công chúng Mỹ đón nhận nồng nhiệt, nhất là trong bối cảnh Mỹ mới đem quân tiến hành tấn công Afghanistan, bởi họ cần một tác phẩm ca ngợi sự dũng cảm để lên tinh thần cho quân nhân Mỹ.

Tuy nhiên bộ phim đã bị chỉ trích từ dư luận Việt Nam khi đạo diễn đã cố tình đưa thêm vào nhiều chi tiết sai sự thật lịch sử mà cuốn hồi ký của Moore không hề có:[cần dẫn nguồn] 1/ Xuyên tạc và bôi nhọ binh sĩ quân đội nhân dân Việt Nam. Tiêu biểu như việc mô tả những người lính Quân đội nhân dân Việt Nam hoàn toàn thiếu kĩ năng chiến đấu, chậm chạp và chỉ biết lấy số đông lao lên đánh trực diện để rồi ngã rạp hết lớp này đến lớp khác trước hỏa lực và sự thiện chiến của quân Mỹ (trong khi ở hồi ký, Moore ghi nhận lính Mỹ công nhận kẻ thù là những chiến binh khôn khéo, luôn tìm cách tập kích hoặc cơ động đánh vào sườn, và "giỏi không chịu được"). Hoặc trường đoạn cuối phim, lính Mỹ cùng trực thăng phản công đánh vào sở chỉ huy và tiêu diệt toàn bộ lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam tại đây thực tế cũng không hề có thật. Thực tế cuộc phản công này (trận Albany) đã lọt vào ổ phục kích và gần như toàn bộ tiểu đoàn Mỹ bị tiêu diệt. 2/ Diễn viên Đơn Dương (đóng vai Trung tá Nguyễn Hữu An-chỉ huy lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam) ngay trong đầu phim, đã bắn chết 1 tù binh Pháp, chứ không bắt giữ tù binh. Điều nầy là dàn dựng lố bịch bởi ở thời điểm trong phim, Trung tá Nguyễn Hữu An đang chỉ huy một trung đoàn từ Điện Biên Phủ trở về Hà Nội, đơn vị của ông không hề chiến đấu trận nào trong thời gian này.

Joseph L. Galloway, nhà báo từng trực tiếp quan sát trận đánh đã "rất ngạc nhiên và tức giận sau khi xem phim"... Theo Galloway, giữa cuốn sách mà ông là đồng tác giả với bộ phim, dù cùng một câu chuyện nhưng có nội dung khác nhau, Galloway khẳng định cuốn sách đã phản ánh đúng sự thật, nhưng khi lên phim mọi chuyện thay đổi. Galloway ngay sau đó cũng đã chỉ trích các nhà làm phim. Theo ông, Hollywood đã "phim ảnh hoá" tới hơn 80% sự thật để thu được lợi nhuận cao, trong khi thông thường chỉ được phép dưới 20%.[cần dẫn nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Hồi kí Tướng Đặng Vũ Hiệp, chính ủy mặt trận tiền phương
  2. ^ a ă â Viện Lịch sử quân sự, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, NXB QĐND, 2003
  3. ^ Smedberg, M (2008), Vietnamkrigen: 1880–1980. Historiska Media, p. 138
  4. ^ a ă Merle L. Pribbenow Military Review – January-February 2001
  5. ^ [[http://antg.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=68129%7CChiến dịch Pleime – Tây Nguyên nhìn từ nước Mỹ
  6. ^ Dẫn theo cuốn Đã một thời chúng tôi là những người lính... và trẻ trung của Trung tướng G. Morơ và L. Galoguây do Vương Minh Quang dịch, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1993.
  7. ^ Sự lừa dối hào nhoáng" - Neil Sheehan, trang 690 - 691

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2005.