Sư đoàn 308, Quân đội Nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Sư đoàn 308)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sư đoàn 308
Dai doan 308 Bac Ho.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong tại đền Giếng, Đền Hùng, Phú Thọ, tháng 9/1954
Hoạt động 1949 - đến nay
Quốc gia Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Quân chủng Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Phân loại Bộ binh
Chức năng Sư đoàn
Bộ chỉ huy thị trấn Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội
Tên khác Sư đoàn Tiên Phong
Tham chiến Chiến dịch Điện biên Phủ
Chiến dịch Trị Thiên - Huế
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Vương Thừa Vũ

Sư đoàn 308, còn gọi là Sư đoàn/Đại đoàn Quân Tiên Phongsư đoàn bộ binh thuộc binh đoàn Quyết Thắng chủ lực cơ động đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sư đoàn thành lập 28 tháng 8 năm 1949, theo tổ chức quân đội lúc đó, đơn vị này mang cấp Đại đoàn, gồm các trung đoàn 88, 102, đến năm 1950 được bổ sung thêm trung đoàn 36. Tháng 12 năm 1979, sư đoàn được chuyển thành sư đoàn bộ binh cơ giới đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Sở chỉ huy sư đoàn hiện nay đóng ở thị trấn Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội.

Mục lục

Chỉ huy và Lãnh đạo [sửa]

Sư đoàn trưởng đầu tiên là Vương Thừa Vũ, tham mưu trưởng là Nguyễn Hải. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, tướng Vương Thừa Vũ là Đại đoàn trưởng, chỉ huy phó: Cao Văn Khánh, trung đoàn trưởng trung đoàn 102: Hùng Sinh, trung đoàn trưởng trung đoàn 88: Nam Hà, trung đoàn trưởng trung đoàn 36: Hồng Sơn.

Sư đoàn trưởng hiện nay là: Thượng tá Doãn Thái Đức

Thành phần khi thành lập [sửa]

  1. Trung đoàn 102 Thủ đô (thành lập ngày 6-1-1946 tại Liên khu 1).
  2. Trung đoàn 36 Bắc-Bắc (lấy tên địa phương nơi mình thành lập là Bắc Ninh-Bắc Giang): đóng ở huyện Lương Sơn, Hòa Bình gần khu công nghiệp Lương Sơn, Công ty cổ phần bất động sản An Thịnh Hòa Bình.
  3. Trung đoàn 88 Tu Vũ (lấy tên từ trận đánh cứ điểm Tu Vũ - trận mở màn chiến dịch Hoà Bình năm 1952): đóng quân ở đường 21 thuộc địa bàn huyện Chương Mỹ, Hà Nội.

Ngoài ra còn có

  • Tiểu đoàn 11 - Phủ Thông. Sau này, khi Đại đoàn 312 được thành lập, Tiểu đoàn này chuyển sang làm chủ công cho trung đoàn 141 Ba Vì của sư đoàn này.

Khoảng năm 1950 lực lượng sư đoàn khoảng 15.400 người, gồm có

  • 3 trung đoàn bộ binh.
  • 1 tiểu đoàn pháo 75 mm.
  • 1 tiểu đoàn SKZ 120 mm.
  • 1 tiểu đoàn phòng không.
  • 1 đại đội thông tin liên lạc.
  • 1 đại đội công binh.
  • 1 đại đội vận tải.
  • 2 đại đội tải thương.
  • 1 trường quân chính

Một trung đoàn bộ binh có 3.911 người, gồm:

  1. 3 tiểu đoàn bộ binh + 1 đại đội pháo 70.
  2. 1 đại đội cối 81mm (6 khẩu).
  3. 1 đại đội SKZ 60 (9 khẩu).
  4. 1 đại đội phòng không 12,7mm (6 khẩu).
  5. 1 đại đội trinh sát.
  6. 1 trung đội công binh.

Một tiểu đoàn bộ binh gồm 855 người, gồm:

  • 3 đại đội bộ binh.
  • 1 đại đội trợ chiến.

vũ khí cộng đồng có 6 súng cối 81, 6 đại liên, 6 BZK.

Một đại đội bộ binh có quân số 160 người, vũ khí gồm 2 cối 60mm, 9 trung liên, 33 tiểu liên, 60 súng trường.

Thành phần hiện nay [sửa]

Các trung đoàn :

  1. Trung đoàn 36 bộ binh.
  2. Trung đoàn 88 bộ binh.
  3. Trung đoàn 102 bộ binh cơ giới.
  4. Trung đoàn 58 pháo binh.

Các tiểu đoàn :

  1. Tiểu đoàn 14 Cối 100
  2. Tiểu đoàn 15 DKZ 75.
  3. Tiểu đoàn 16 phòng không.
  4. Tiểu đoàn 17 công binh.
  5. Tiểu đoàn 18 thông tin.
  6. Tiểu đoàn 24 quân y.
  7. Tiểu đoàn 25 vận tải.

Các đại đội :

  1. Đại đội 20 Trinh sát .
  2. Đại đội 26 sửa chữa.
  3. Đại đội 29 Bảo quản.
  4. Trung đội 23 vệ binh.

Sư đoàn được trang bị trong biên chế các loại xe tăng T-54/55, xe bọc thép chiến đấu BMP-1, xe bọc thép chở quân BTR-152, xe bọc thép trinh sát BRDM-2, pháo phản lực BM-13/14....

Chỉ huy [sửa]

Các chiến dịch, trận đánh [sửa]

  • Sông Thao 1949.
  • Sông Lô II 1949.
  • Đường số 4 1949.
  • Lao Hà (tức là chiến dịch Lê Hồng Phong I) 1950.
  • Chiến dịch Biên giới (Lê Hồng Phong II) 1950.
  • Trung du (Trần Hưng Đạo) 1950-1951.
  • Đường số 18 (Hoàng Hoa Thám) 1951.
  • Hà - Nam - Ninh (Quang Trung) 1951.
  • Hoà Bình 1951-1952.
  • Tây Bắc 1952.
  • Miền Tây 1953.
  • Chiến dịch Điện biên Phủ 1953-1954.
  • Bắc Giang 1954.
  • Chiến dịch Đường 9 Khe Sanh 1968.
  • Chiến dịch Đường 9 Nam Lào 1971.
  • Chiến dịch Trị Thiên - Huế 1972.

Trong kháng chiến chống Pháp, sư đoàn tổng cộng đã đánh 102 trận đáng kể, gồm:

  • 49 trận tiêu diệt cứ điểm.
  • 46 trận vận động.
  • 5 trận phục kích giao thông.
  • 2 trận tập kích diệt tàu chiến và trận địa pháo binh.

Xem thêm [sửa]

  • [1] Trung đoàn 36 Bắc Bắc