Sư đoàn 308, Quân đội Nhân dân Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Sư đoàn 308)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sư đoàn 308
Dai doan 308 Bac Ho.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với các chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong trên đường về tiếp quản thủ đô tại đền Giếng, Đền Hùng, Phú Thọ, ngày 19-9-1954
Hoạt động 1949 - đến nay
Quốc gia Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Quân chủng Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Phân loại Bộ binh
Chức năng Bộ binh cơ giới
Quy mô Sư đoàn
Bộ chỉ huy thị trấn Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội
Tên khác Đại đoàn Quân Tiên Phong
Tham chiến Chiến dịch Điện biên Phủ
Chiến dịch Trị Thiên - Huế
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Vương Thừa Vũ

Sư đoàn 308, danh hiệu truyền thống "Đại đoàn Quân Tiên Phong" là Đại đoàn bộ binh chủ lực được thành lập đầu tiên của Quân đội ta (Đại đoàn là tên gọi đơn vị cấp chiến dịch lúc đó, đến 1955 đổi tên gọi thành Sư đoàn). Đại đoàn được thành lập ngày 28/8/1949 tại thị trấn Đồn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Bộ chỉ huy đầu tiên của Đại đoàn là: Vương Thừa Vũ - Đại đoàn trưởng kiêm Chính uỷ, Cao Văn Khánh - Đại đoàn Phó. Sư đoàn 308 là nơi hội tụ những đơn vị có bề dày truyền thống như: - Trung đoàn 102 với tên truyền thống "Trung đoàn Thủ đô" ra đời giữa lòng thủ đô Hà Nội trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến với truyền thống "Quyết Tử cho Tổ quốc quyết sinh" - Trung đoàn 36 với tên truyền thống là Trung đoàn Bắc Bắc - Trung đoàn 88 với tên truyền thống là Trung đoàn Tu Vũ - Trung đoàn pháo binh 58 sau này, cùng các đại đội, tiểu đoàn binh chủng trực thuộc.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Sư đoàn đã tham gia 16 chiến dịch lớn: Trong kháng chiến chống Pháp Sư đoàn đã tham gia 13 chiến dịch. Đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Mở đầu là trận tiêu diệt địch ở đồi Độc Lập, rồi bức hàng địch ở đồi Bản Kéo góp phần đập tan tấm lá chắn phía bắc. Tiếp đó, với trận chiến đấu quyết liệt trên đồi A1, Đại đoàn tham gia cùng các đơn vị bạn phá vỡ khu phòng ngự phía đông của tập đoàn cứ điểm địch. Vừa đánh địch phản kích, vừa góp sức xây dựng trận địa tiến công bao vây, Đại đoàn phụ trách toàn bộ nhiệm vụ tác chiến khu vực phía tây, đẩy địch vào thế khốn quẫn, cuối cùng đã tham gia vào đợt tiến công thứ ba, đợt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, góp phần làm nên một "Điện Biên Phủ chấn đông địa cầu", tạo chuyển biến lớn trong cục diện quân sự và chính trị ở Đông Dương.

Trong kháng chiến chống Mỹ Sư đoàn tham gia 3 chiến dịch: chiến dịch Khe Sanh, Đường 9 Nam Lào và Đông Hà Quảng Trị. Chiến dịch tiến công Đường số 9 - Khe Sanh (xuân-hè 1968), Sư đoàn 308 vinh dự tham gia chiến đấu và lập chiến công trong đợt 4 chiến dịch. Đây là lần đầu tiên Sư đoàn trực tiếp đánh Mỹ trên chiến trường miền Nam. Hơn một tháng tham gia chiến dịch, Sư đoàn đã đánh hàng chục trận, quy mô từ đại đội đến tiểu đoàn, nhiều trận chủ động đánh địch ban ngày, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên lính thủy đánh bộ Mỹ, bắn rơi 39 máy bay, phá hủy 11 khẩu pháo, cối các loại cùng nhiều vũ khí, khí tài của địch. Sư đoàn đã chiến đấu trực tiếp với quân chủ lực tinh nhuệ có trang bị vũ khí hiện đại của đế quốc Mỹ, lập chiến công vẻ vang. Trong chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào (xuân 1971), cán bộ và chiến sĩ Sư đoàn 308 đã chiến đấu liên tục trong suốt cả 52 ngày đêm của chiến dịch, tiêu diệt 4.023 tên địch, bắt 127 tên, diệt gọn thiết đoàn 17 và 4 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng liên đoàn 1 biệt động quân và tiểu đoàn 1 dù của địch, phá hủy 337 xe các loại (có 205 xe tăng và xe bọc thép, 48 khẩu pháo, cối cỡ lớn, thu gần 500 súng các loại, cùng hàng chục tấn vũ khí đạn dược, trang bị kỹ thuật. Chiến công của Sư đoàn trong chiến dịch này là thành quả của quá trình huấn luyện gian khổ, sáng tạo. Qua chiến dịch, Sư đoàn đã trưởng thành thêm một bước quan trọng, rút ra nhiều bài học bổ ích về cách đánh địch tiến công và phòng ngự bằng hình thức đóng chốt trên điểm cao, về cách tổ chức chốt giữ những mục tiêu chiến dịch, chiến thuật trong phòng ngự, cũng như trong tiến công, làm phong phú thêm truyền thống chiến thắng của Sư đoàn.

Tham gia trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường Trị- Thiên, Sư đoàn đã lập công xuất sắc, tiêu diệt cụm cứ điểm Đông Hà - Lai Phước, góp phần giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Trận Đông Hà - Lai Phước được coi là điểm mốc lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc. Đây là một trận đánh hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất của quân đội ta từ trước đến lúc này. Trong đợt 2 chiến dịch, Sư đoàn 308 cùng các đơn vị tăng cường, trong thế tiến công chung của chiến dịch Quảng Trị, đã anh dũng chiến đấu, vận dụng cách đánh tốt, đạt hiệu quả cao, đập tan cụm cứ điểm kiên cố có binh lực tương đương một sư đoàn binh chủng hợp thành của quân lực Việt Nam Cộng hòa, được không quân và pháo hạm Mỹ chi viện. Trong trận này, Sư đoàn 308 và các đơn vị tăng cường đã diệt 3.500 tên địch, bắt 322 tên, phá hủy 110 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 45 máy bay, thu 5 pháo lớn và nhiều xe quân sự, làm tan rã 3 trung đoàn bộ binh, 2 thiết đoàn xe tăng, thiết giáp địch, đánh bại thủ đoạn phòng ngự mới của chúng, giáng một đòn nặng vào tinh thần quân Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng hòa trên toàn chiến trường miền Nam. Sau thắng lợi vang dội trong trận Đông Hà - Lai Phước, Sư đoàn lại có gần một năm liên tục chiến đấu kiên cường với nhiều cách đánh sáng tạo, đặc biệt là hình thức chiến thuật phòng ngự cụm chốt liên hoàn nên đã góp phần cùng các đơn vị bạn bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Quảng Trị. Tổng cộng, sau gần một năm chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị với nhiều đợt kế tiếp, Sư đoàn đã đánh gần 800 trận lớn nhỏ từ một tổ, một tiểu đội đến tiểu đoàn, trung đoàn và sư đoàn tăng cường, diệt và bắt hơn 10.000 tên địch, phá hủy và thu 151 xe tăng thiết giáp, 17 khẩu pháo từ 105 ly đến 155 ly, bắn rơi 23 máy bay các loại. Tuy nhiên, tại Quảng Trị, Sư đoàn cũng chịu nhiều tổn thất lớn; kể từ khi bước vào chiến đấu cho đến khi kết thúc chiến dịch; hơn 70% cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn theo biên chế hy sinh và bị thương. Nhiều đại đội, tiểu đoàn phải thay thế cán bộ chỉ huy từ 6 tới 7 lần. Có đại đội khi kết thúc chiến dịch không còn lại một ai là cán bộ, chiến sĩ cũ có mặt từ đầu cuộc tiến công chiến lược (năm 1972). Sư đoàn 308 đã góp phần xứng đáng vào chiến công chung của quân và dân ta trên mặt trận Quảng Trị cũng như toàn chiến trường miền Nam, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút quân về nước, đưa sự nghiệp cách mạng miền Nam chuyển sang một giai đoạn mới.

Ngày 24/10/1973, trước yêu cầu của giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân đoàn 1 - quân đoàn chủ lực cơ động đầu tiên của Quân đội ta được thành lập. Sư đoàn 308 vinh dự được đứng trong đội hình Quân đoàn. Mùa xuân năm 1975, trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta Tổng tiến công và nổi dậy đập tan quân đội và chính quyền Sài Gòn. Sư đoàn 308 vừa triển khai lực lượng bảo vệ thủ đô Hà Nội và hậu phương miền Bắc, vừa sẵn sàng cơ động thần tốc bằng cả đường bộ, đường thủy và đường không vào chiến trường khi nhiệm vụ cần thiết. Sư đoàn đã giữ được bí mật tuyệt đối, hoàn thành nhiệm vụ của "Sư đoàn cận vệ" trong thế trận chung của cả nước và nhiệm vụ nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của địch. Có thể khẳng định, trong giai đoạn cuối của thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, được giao nhiệm vụ chiến đấu trong những chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược, Sư đoàn 308 đã vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, lập nên những chiến công oanh liệt đặc biệt đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm lực lượng dự bị chiến lược của Bộ, là "hướng tiến công thứ sáu" trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc, đưa đất nước ta bước vào một thời kỳ mới - thời kỳ cả nước cùng xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Sư đoàn 308, 9 đơn vị vinh dự được Chủ tịch Nước tuyên dương danh hiệu đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 1 đơn vị được tuyên dương danh hiệu đơn vị anh hùng trong thời kỳ đổi mới. 9 cá nhân được tuyên dương danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 28 Tháng 8 năm 1979, sư đoàn được chuyển thành sư đoàn bộ binh cơ giới đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.(Quyết định số 705/QĐ-TM do thượng tướng Lê Trọng Tấn thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội NDVN ký) Nhiệm vụ chính trị trung tâm hiện nay của Sư đoàn là: huấn luyện SSCĐ, huấn luyện chiến sĩ mới, huấn luyện dự bị động viên, làm nhiệm vụ đối ngoại quân sự, tổ chức quản lý, khai thác, bảo quản, giữ gìn một khối lượng lớn VKTBKT với nhiều chủng loại bảo đảm sức chiến đấu thường xuyên và lâu dài của Sư đoàn. Truyền thống Quân Tiên Phong được đúc kết trong 14 chữ vàng: "Tiên phong, anh dũng, đoàn kết, kỷ luật, thần tốc, Quyết chiến, Quyết thắng" Sở chỉ huy sư đoàn hiện nay đóng ở thị trấn Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội.

Chỉ huy và Lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ chỉ huy Đại đoàn đầu tiên là Vương Thừa Vũ Đại đoàn trưởng kiêm chính ủy, Đại đoàn phó: Cao Văn Khánh. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, tướng Vương Thừa Vũ là Đại đoàn trưởng, trung đoàn trưởng trung đoàn 102: Hùng Sinh, trung đoàn trưởng trung đoàn 88: Nam Hà, trung đoàn trưởng trung đoàn 36: Phạm Hồng Sơn.

Sư đoàn trưởng hiện nay là: Đại tá Trương Quang Hoài. Chính uỷ Sư đoàn: Đại tá Nguyễn Bá Thông.Phó Chính ủy: Đại tá Lê Quang Ngọc.

Thành phần khi thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trung đoàn 102 Trung đoàn được thành lập ngày 7 tháng 1 năm 1947, giữa cuộc chiến kéo dài 2 tháng tại Hà Nội mở đầu Toàn quốc kháng chiến, trên cơ sở Tiểu đoàn 301 cùng các đơn vị Vệ quốc đoàn và Tự vệ chiến đấu Liên khu 1 (thuộc 36 phố phường Hà Nội cũ), gồm khoảng 2.000 người. Các chỉ huy đầu tiên là: Trung đoàn trưởng Hoàng Siêu Hải, Chính uỷ Lê Trung Toản, Tham mưu trưởng Hoàng Phương. Tên gọi đầu tiên là Trung đoàn Liên khu I.Ngày 12 tháng 1 năm 1947, Hội nghị quân sự toàn quốc quyết định tặng Trung đoàn Liên khu I danh hiệu Trung đoàn Thủ Đô. Ngày 13-1, trung đoàn làm lễ tuyên thệ tại rạp hát Tố Như (nay là Rạp Chuông Vàng – Nhà hát cải lương Hà Nội số 72 phố Hàng Bạc quận Hoàn Kiếm)
  1. Trung đoàn 36 Bắc-Bắc (lấy tên địa phương nơi mình thành lập là Bắc Ninh-Bắc Giang): đóng ở gần khu công nghiệp Lương Sơn, huyện Lương Sơn-Hòa Bình.
  2. Trung đoàn 88 Tu Vũ (lấy tên từ trận đánh cứ điểm Tu Vũ - trận mở màn chiến dịch Hoà Bình năm 1952):Trung đoàn được thành lập ngày 1/7/1949, tại xóm Gò Pháo, xã Tân Cương (T.P Thái Nguyên). Trung đoàn 88 gồm các Tiểu đoàn 23, 29, 28, 322. Trung đoàn trưởng: Nguyễn Thái Dũng, Chính ủy: Đặng Quốc Bảo. Ngay sau khi thành lập, Trung đoàn đã lập công xuất sắc trong 10 chiến dịch lớn do Bộ Tổng tư lệnh mở trên các chiến trường chính Bắc Bộ trong kháng chiến chống Thực dân Pháp, trong đó có chiến dịch Hòa Bình từ tháng 12/1951 đến tháng 2/1952, tiêu diệt cụm cứ điểm Tu Vũ, đánh địch trên đường số 6, bao vây tiến tới giải phóng T.X Hòa Bình. Sau chiến thắng này, Trung đoàn được Bác Hồ đặt tên "Trung đoàn Tu Vũ". Hiện đóng quân ở địa bàn thuộc xã Nhuận Trạch huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình. Địa bàn giáp ranh với huyện Chương Mỹ TP Hà Nội.

Ngoài ra còn có

  • Tiểu đoàn 11 - Phủ Thông. Sau này, khi Đại đoàn 312 được thành lập, Tiểu đoàn này chuyển sang làm chủ công cho trung đoàn 141 Ba Vì của sư đoàn này.

Khoảng năm 1950 lực lượng sư đoàn khoảng 15.400 người, gồm có

  • 3 trung đoàn bộ binh.
  • 1 tiểu đoàn pháo 75 mm.
  • 1 tiểu đoàn SKZ 120 mm.
  • 1 tiểu đoàn phòng không.
  • 1 đại đội thông tin liên lạc.
  • 1 đại đội công binh.
  • 1 đại đội vận tải.
  • 2 đại đội tải thương.
  • 1 trường quân chính

Một trung đoàn bộ binh có 3.911 người, gồm:

  1. 3 tiểu đoàn bộ binh + 1 đại đội pháo 70.
  2. 1 đại đội cối 81mm (6 khẩu).
  3. 1 đại đội SKZ 60 (9 khẩu).
  4. 1 đại đội phòng không 12,7mm (6 khẩu).
  5. 1 đại đội trinh sát.
  6. 1 trung đội công binh.

Một tiểu đoàn bộ binh gồm 855 người, gồm:

  • 3 đại đội bộ binh.
  • 1 đại đội trợ chiến.

vũ khí cộng đồng có 6 súng cối 81, 6 đại liên, 6 BZK.

Một đại đội bộ binh có quân số 160 người, vũ khí gồm 2 cối 60mm, 9 trung liên, 33 tiểu liên, 60 súng trường.

Thành phần hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Trung đoàn 36 bộ binh[sửa | sửa mã nguồn]

Còn có danh hiệu là Trung đoàn Bắc Bắc.

Ngày 10 tháng 1 năm 1946 lực lượng vũ trang hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang được lệnh hợp nhất thành một đơn vị chủ lực, lấy tên là Chi đội Bắc Bắc. Chi đội Bắc Bắc là đơn vị chủ lực thuộc chiến khu 12. Hoạt động trên địa bàn hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chi đội Bắc Bắc là một trong những chi đội đầu tiên được lệnh đã kịp thời hành quân vào Nam cùng lực lượng tại chỗ đánh ngăn chặn quân Pháp ở mặt trận Nha Trang, Khánh Hòa những tháng đầu năm 1946. Ngày 22 tháng 5 năm 1946 chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành sắc lệnh số 71/SL chuyển Vệ quốc đoàn thành Quân đội quốc gia Việt Nam. Biên chế thống nhất theo từng Trung đoàn, Tiểu đoàn, đại đội. Thi hành Sắc lệnh số 71/SL về Quy tắc Quân đội quốc gia.Ngày 22 tháng 8 năm 1946 tại trại lính cũ của đội quân lê dương của Pháp ở Đáp Cầu Chi đội vệ quốc đoàn Bắc Bắc làm lễ chính thức chuyển tên gọi thành Trung đoàn Bắc Bắc với 3 Tiểu đoàn 54, 55, 56 và một số đơn vị trực thuộc đóng tại thành Bắc Ninh, Bắc Giang và trại lính Đáp Cầu. Trung đoàn lúc này chưa có số hiệu vẫn gọi là Trung đoàn Bắc Bắc.

Ngày 30 tháng 9 năm 1949 mặt trận 3 (Còn gọi là mặt trận Trung du) được thành lập. Trung đoàn Bắc Bắc được đặt dưới sự chỉ huy của Ban chỉ huy mặt trận 3. Tên Trung đoàn bắt đầu được gọi theo phiên hiệu mới là Trung đoàn 36, từ giai đoạn này phạm vi chiến đấu của Trung đoàn không chỉ có 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang mà còn bao gồm cả Phúc Yên và một phần Vĩnh Yên trên địa bàn Trung du. Theo quy định của Bộ Tổng tư lệnh Trung đoàn 36 gồm có:

- Tiểu đoàn 80 (tức Tiểu đoàn 55) nay là Tiểu đoàn 1 - Tiểu đoàn 84 (từ Trung đoàn 121 của Phúc Yên chuyển sang nay là Tiểu đoàn 2 - Tiểu đoàn 89 (Gồm các đại đội hoạt động ở nam phần Bắc Ninh) nay là Tiểu đoàn 3. Sau khi bộ đội địa phương Trung du trưởng thành. Trung đoàn 36 đã ổn định độ hình ngày 16 tháng 3 năm 1950 Bộ Tổng Tư Lệnh quyết định điều Trung đoàn 36 về Đại đoàn 308.

Trung đoàn 88 bộ binh[sửa | sửa mã nguồn]

Trung đoàn 102 bộ binh cơ giới[sửa | sửa mã nguồn]

Trung đoàn 58 pháo binh[sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị khác[sửa | sửa mã nguồn]

Các tiểu đoàn trực thuộc:

  1. Tiểu đoàn 14 Cối 100
  2. Tiểu đoàn 15 DKZ 75.
  3. Tiểu đoàn 16 phòng không.
  4. Tiểu đoàn 17 công binh.
  5. Tiểu đoàn 18 thông tin.
  6. Tiểu đoàn 24 quân y.
  7. Tiểu đoàn 25 vận tải.

Các đại đội trực thuộc:

  1. Đại đội 20 Trinh sát.
  2. Đại đội 26 sửa chữa.
  3. Đại đội 29 Bảo quản.
  4. Trung đội 23 vệ binh.

Sư đoàn được trang bị trong biên chế các loại xe tăng T-54/55, xe bọc thép chiến đấu BMP-1, xe bọc thép chở quân BTR-152, xe bọc thép trinh sát BRDM-2, pháo phản lực BM-13/14....

Chỉ huy[sửa | sửa mã nguồn]

Các Tư lệnh (Sư đoàn trưởng) Sư đoàn qua các thời kỳ. Chức danh Tư lệnh Sư đoàn được dùng trên cơ sở quy định tại sắc lệnh 14-SL ngày 12 tháng 3 năm 1949 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến trước 1980.

  • Vương Thừa Vũ – Tư lệnh kiêm Chính uỷ 1949-1954
  • Phạm Hồng Sơn – Tư lệnh 1955-1958
  • Vũ Yên - Tư lệnh Sư đoàn 1954-1955; 1959-1963; 1966-1968.
  • Nguyễn Thái Dũng – Tư lệnh Sư đoàn 1963-1966
  • Nguyễn Hữu An - Tư lệnh Sư đoàn 1969-1971, 1972
  • Trương Đình Mậu - Tư lệnh Sư đoàn 1971-1972
  • Nguyễn Thế Bôn - Tư lệnh Sư đoàn 1972- 1974
  • Mạc Đình Vịnh - Tư lệnh Sư đoàn 1974 -1978
  • Mai Thuận - Sư đoàn trưởng kiêm Chính ủy 1978-1979
  • Phạm Duy Tân - Sư đoàn trưởng 1979-1983
  • Nguyễn Hải Như - Sư đoàn trưởng 1983-1985
  • Đỗ Trung Dương - Sư đoàn trưởng 1985-1987
  • Trần Hạnh - Sư đoàn trưởng 1987-1993
  • Nguyễn Xuân Sắc - Sư đoàn trưởng 1993-1995
  • Phan Khuê Tảo - Sư đoàn trưởng 1995-1998
  • Nguyễn Đình Chiến - Sư đoàn trưởng 1998-2001
  • Nguyễn Hữu Mạnh - Sư đoàn trưởng 2001-2003
  • Nguyễn Văn Đoàn - Sư đoàn trưởng 2003-2009
  • Phạm Văn Sinh - Sư đoàn trưởng 4.2009-
  • Thượng tá Doãn Thái Đức - Sư đoàn trưởng
  • Đại tá Trương Quang Hoài - Sư đoàn trưởng

Các Chính ủy, phó Sư đoàn trưởng chính trị- Bí thư Đảng ủy Sư đoàn qua các thời kỳ.

  • Vương Thừa Vũ – Chính uỷ Sư đoàn 1949-1951
  • Song Hào - Chính uỷ Sư đoàn 1951-1954
  • Đặng Quốc Bảo - Chính uỷ Sư đoàn 1958-1963
  • Lê Linh - Chính uỷ Sư đoàn 1963-1966
  • Nguyễn Kiện - Chính uỷ Sư đoàn 1966-1969
  • Hoàng Phương - Chính uỷ Sư đoàn 1969-1970
  • Nguyễn Hùng Phong - Chính uỷ Sư đoàn 1970-1973
  • Hoàng Kim - Chính uỷ Sư đoàn 1974-1977
  • Mai Thuận - Chính uỷ Sư đoàn 1978-1979
  • Lê Quang Phước - Chính uỷ Sư đoàn 1979-1980
  • Tạ Như Đôn - Chính uỷ Sư đoàn 1980-1984
  • Nguyễn Dụ -Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 1984-1985
  • Đại tá Hoàng Ngọc Chiêu - Phó Sư đoàn trưởng Chính trị BTĐU Sư đoàn 1985-1987
  • Đại tá Vũ Xuân Sinh- Phó Sư đoàn trưởng Chính trị BTĐU Sư đoàn 1987-1988
  • Đại tá Lê Sỹ Thái- Phó Sư đoàn trưởng Chính trị BTĐU Sư đoàn 1988-1990, 1991-1992
  • Đại tá Ngô Lương Hanh - Phó Sư đoàn trưởng Chính trị BTĐU Sư đoàn 1990-1991, 1992-1995
  • Đại tá Mai Quang Phấn- Phó Sư đoàn trưởng Chính trị BTĐU Sư đoàn 1999-2002
  • Đại tá Mai Văn Lý - Phó Sư đoàn trưởng Chính trị BTĐU Sư đoàn 2002-2004
  • Đại tá Nguyễn Anh Tuấn - Phó Sư đoàn trưởng Chính trị 2005-2006 Chính ủy Sư đoàn 2006- 2010
  • Đại tá Lê Đình Quyền - Chính ủy Sư đoàn 2010- 2012
  • Đại tá Nguyễn Bá Thông - Chính ủy Sư đoàn (2012-6.2014)
  • Đại tá Nguyễn Công Hòa - Chính ủy Sư đoàn (7.2012- )

Các chiến dịch, trận đánh[sửa | sửa mã nguồn]

Qua hai cuộc kháng chiến Sư đoàn đã tham gia 16 chiến dịch lớn. Trong kháng chiến chống Pháp Sư đoàn tham gia 13 chiến dịch:

  • Sông Thao Hè 1949.
  • Sông Lô, Hè 1949.
  • Đường số 4 thu đông 1949.
  • Lao-Hà (tức là chiến dịch Lê Hồng Phong I)Xuân 1950.
  • Chiến dịch Biên giới (Lê Hồng Phong II)Thu đông 1950.
  • Trung du (Trần Hưng Đạo)Đông Xuân 1950-1951.
  • Đường số 18 (Hoàng Hoa Thám)Xuân Hè 1951.
  • Hà - Nam - Ninh (Quang Trung) Hè 1951.
  • Hoà Bình Đông Xuân 1951-1952.
  • Tây Bắc Thu Đông 1952.
  • Chiến dịch Thượng Lào Xuân-Hè 1953.
  • Chiến dịch Điện Biên Phủ Đông Xuân 1953-1954.
  • Chiến dịch Bắc Giang hè 1954.

Trong kháng chiến chống Mỹ Sư đoàn tham gia 3 chiến dịch

  • Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh hè 1968.
  • Chiến dịch Đường 9 Nam Lào, Xuân Hè 1971.
  • Chiến dịch Trị Thiên - 1972.

Trong kháng chiến chống Pháp, sư đoàn tổng cộng đã đánh 102 trận đáng kể, gồm:

  • 49 trận tiêu diệt cứ điểm.
  • 46 trận vận động.
  • 5 trận phục kích giao thông.
  • 2 trận tập kích diệt tàu chiến và trận địa pháo binh.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • [1] Trung đoàn 36 Bắc Bắc

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]