Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tổng cục Kỹ thuật
Hoạt động 10/9/1974 (&0000000000000040.00000040 năm, &0000000000000103.000000103 ngày)
Quốc gia  Việt Nam
Phục vụ Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
Phân loại Tổng cục (Nhóm 3)
Chức năng Là cơ quan kỹ thuật đầu ngành
Quy mô 17.000 người
Bộ phận của Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Bộ Quốc phòng (Việt Nam)
Bộ chỉ huy Số 5, Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội
Khẩu hiệu Chủ động, Sáng tạo, Tự lực, Tự cường
Lễ kỷ niệm ngày 10 tháng 9 năm 1974
Thành tích Gold Star Order.png Hochiminh Order.png Military Exploit Order.png
Các tư lệnh
Chủ nhiệm Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg Nguyễn Châu Thanh
Chính ủy Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg Hà Minh Thám
Chỉ huy
nổi tiếng
Các tướng lĩnh tiêu biểu:
Huy hiệu
Phù hiệu Vietnam People's Army Technology.jpg

Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng Việt Nam [1]thành lập ngày 10 tháng 9 năm 1974 [2] là cơ quan quản lý kỹ thuật đầu ngành của Bộ Quốc phòng có chức năng tổ chức, quản lý, nghiên cứu đảm bảo vũ khí và phương tiện, trang bị kỹ thuật chiến đấu cho các quân, binh chủng của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày đầu thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10 tháng 9 năm 1974, theo Nghị quyết của Quân ủy Trung ương (số 39/QUTW ngày 5 tháng 4), Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 211/CP thành lập Tổng cục Kỹ thuật thuộc Bộ Quốc phòng với nhiệm vụ giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chỉ đạo các công tác quản lý, bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật cho các lực lượng vũ trang, nghiên cứu KHKT quân sự và trực tiếp quản lý các xí nghiệp quốc phòng. Trong đó, Tổng cục có biên chế gồm: Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Hậu cần, Cục Quản lý xe máy, Cục Quản lý vũ khí-khí tài-đạn dược, Cục Quản lý kỹ thuật-sản xuất, Cục Quản lý xí nghiệp, các phòng quản lý trang bị khí tài đặc thủng, vật tư, tài vụ và Văn phòng, Viện thiết kế, Viện kỹ thuật quân sự, các trường đào tạo cán bộ trung cấp và công nhân kỹ thuật, các xí nghiệp sản xuất quốc phòng. Trung tướng Đinh Đức Thiện đảm nhiệm chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật với các phó chủ nhiệm: Trần Sâm, Trần Đại Nghĩa, Vũ Văn Đôn, Nguyễn Văn Tiên.[3]

Ngày 14 tháng 9 năm 1974, thực hiện kế hoạch về sản xuất bổ sung vũ khí, trang bị kỹ thuật nhằm đáp ứng yêu cầu bức thiết của chiến trường miền Nam. Tổng cục Kỹ thuật tổ chức Hội nghị bàn về chủ trương, biện pháp lãnh đạo thực hiện. Đảng ủy Tổng cục tập trung bàn biện pháp sản xuất các loại súng bộ binh, đạn và súng cối, đạn pháo, pháo. Tổng cục đã tổ chức lực lượng đi thu hồi nguyên liệu, vật tư ở các tỉnh phía Bắc, ở chiến trường miền Nam, bảo đảm cho việc sản xuất, phục hồi.[4] Bộ Chính trị ra Nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ công tác quân sự năm 1975-1976, Bộ Quốc phòng trong đó có Tổng cục Kỹ thuật xác định nhiệm vụ bảo đảm vũ khí trang bị kỹ thuật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ cho các chiến trường và các đơn vị chiến đấu, sẵn sàng chiến đầu ở miền Bắc. Chú trọng xây dựng cơ quan, cơ sở lớn mạnh về mọi mặt.[5]

Trong Chiến dịch Tây Nguyên và Nam Trung Bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10 tháng 1 năm 1975, thành lập Trung đoàn Ô tô vận tải (T255A). Tổng cục Kỹ thuật điều trang bị, vật chất cho Đoàn T255A, khoảng 1000 người. Ngày 25 tháng 1 năm 1975, Đoàn T255A lên đường vào chiến trường miền Nam gấp rút vận chuyển lực lượng, vũ khí, vật chất, hậu cần chuẩn bị cho Chiến dịch Tây Nguyên.[6] Những thời gian đầu của năm 1974, khi Tổng cục mới được thành lập, còn gặp nhiều khó khăng nhưng Tổng cục đã hoàn thành nhiệm vụ trên các mặt bảo đảm chi viện cho chiến trường miền NamĐoàn 559; tạo được sự chuyển biến trong việc quản lý trang bị và cơ sở vật chất kỹ thuật; tạo được hệ thống bảo đảm kỹ thuật cho phía trước, bảo đảm được yêu cầu sẵn sàng chiến đấu. Sang năm 1975, Tổng cục tiếp tục đẩy mạnh sản xuất vũ khí, khí tài, đạn dược, giữ gìn tốt trang bị, thúc đẩy mọi mặt công tác.[7] Từ cuối tháng 1 đầu tháng 2 năm 1975, Tổng cục tiếp tục tổ chức các tổ, đội, trạm sửa chữa cơ động khẩn trương hành quân vào chiến trường miền Nam. Các phân đội được trang bị đầy đủ cơ động vào phục vụ Chiến dịch Tây Nguyên. Các tổ, đội, trạm sửa chữa cơ động phối hợp với cơ quan hậu cần kỹ thuật của Mặt trận Tây Nguyên, bảo dưỡng, sửa chữa và đồng bộ các vũ khi, súng, pháo.[8]

Ngày 28 tháng 3 năm 1975, Tiền phương Tổng cục Hậu cần-Tổng cục Kỹ thuật tại Tây Nguyên được thành lập do Đại tá Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật chỉ huy. Tiền phương chỉ đạo các đơn vị kỹ thuật hậu cứ ở Tây NguyênĐoàn 559, chỉ đạo thu hồi và trực tiếp thu hồi trang bị chiến đâu,cơ sở vật chất kỹ thuật của ta và của địch ở Tây Nguyên, theo dõi, chỉ đạo thực hiện kế hoạch đảm bảo trang bị, kỹ thuật cho các đơn vị ở Mặt trận Trị-Thiên-huế phát triển tiến công địch trong chiến dịch giải phóng HuếĐà Nẵng, cho các đơn vị tiến công giải phóng các tỉnh Nam Trung Bộ. Những tháng đầu năm 1975, các cơ quan của Tổng cục liên tiếp cử các đoàn cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật vào chiến trường miền Nam và Tiền phương Tổng cục ở Tây Nguyên để kiện toàn tổ chức cơ quan chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật ở Tiền phương Bộ Tổng Tư lệnh.[9]

Từ đầu tháng 3 năm 1975, quân và dân Mặt trận Trị-ThiênMặt trận Quân khu 5 đẩy mạnh tiến công địch, với 2 chiến dịch Bắc Hải Vân và Nam Hải Vân. Sau khi giải phong Buôn Ma Thuật, Bộ Tổng Tư lệnh phán đoán địch có thể sẽ co cụm chiến lược. Do đó đã chỉ thị cho Mặt trận Trị-Thiên nhanh chóng tổ chức lực lượng tiến công chia cắt giữa Huế với Đà Nẵng để bao vây cô lập địch. Bộ Chính trị nhận định nhiệm vụ trước mắt là nhanh chóng tiêu diệt Quân đoàn 1 của địch, giải phóng thành phố HuếĐà Nẵng và các tỉnh Trung Bộ. Thực hiện việc đó, các đơn vị ở hậu phương của Tổng cục tiếp tục tăng cường lực lượng cán bộ, nhân viên kỹ thuật để sửa chữa vũ khí, khí tài, xe máy, xe tăng, xe thiết giáp phục vụ chiến dịch. Khẩn trương huy động lực lượng để thành lập tổ, đội, trạm sửa chữa cơ động chi viện chiến trường Trị-Thiên.[10] Ngày 26 tháng 3 năm 1975, Tổng cục chỉ đạo Đoàn 559 và lực lượng kỹ thâutj của các đơn vị trên địa bàn Quân khu 4, các nhà máy, xí nghiệp ở hậu phương bổ sung lực lượng vũ khí, trang bị cho Quân khu 5 và Quân khu Trị-Thiên. Ngày 19 tháng 3 năm 1975, ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị sau đó là Huế. Ta thu toàn bộ vũ khí, trang bị cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh khác của địch.[11] Ngày 27 tháng 3 năm 1975, Chủ nhiệm Tổng cục quyết định thành lập Đoàn tiếp quản thu hồi của Tổng cục. Đoàn gồm 20 cán bộ và nhân viên; đã nhanh chóng hành quân vào chiến trường Trị-Thiên-Huế chỉ đạo tiếp quản cơ sở vật chất, thu hồi vũ khí trang bị kỹ thuật ở 3 nơi vừa mới giải phóng.[12]

Sau khi tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Huế ở phía bắc và tỉnh Quảng Ngãi, thị xã Tam Kỳ ở phía nam được giải phóng, Bộ Tổng Tư lệnh lệnh cho Quân đoàn 2Quân khu 5 nhanh chóng tiến công giải phòng Thành phố Đà Nẵng. Ngày 25 tháng 3 năm 1975, Bộ Chỉ huy chiến dịch được thành lập. Đồng chí Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh chiến dịch, Thượng tướng Chu Huy Mân làm Chính ủy chiến dịch. Đồng chí Đinh Thiện, Phó Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần làm Chủ nhiệm Hậu cần-Kỹ thuật chiến dịch. Chiến dịch Đà Nẵng diễn biến rất nhanh chóng, Tổng cục phải khẩn trương huy động lực lượng kỹ thuật tại chỗ, kết hợp với điều động gấp cán bộ, nhân viên kỹ thuật, các đội sửa chữa cơ động trên các hướng khác để tập trung bảo đảm kỹ thuật phục vụ các đơn vị tiến công trong hành tiến. Sau 3 ngày tiến công, ngày 29 tháng 3 năm 1975, thành phố Đà Nẵng được giải phóng, khu liên hợp quân sự lớn nhất ở miền Nam của địch bị dập tan. [13]Toàn bộ quân địch ở Đà Nẵng, trong đó Sở Chỉ huy Quân khu 1 và Quân đoàn 1 của quân đội Sài Gòn bị ta tiêu diệt và làm tan rã. Ta thu toàn bộ vũ khí trang bị và cơ sở vật chất của chúng gồm: 129 máy bay, 179 xe tăng, xe thiết gíáp, 327 khẩu pháo, 47 tàu xuồng, 1084 xe quân sự....[14]

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định. Sau đó đổi tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Cơ quan bảo đảm hậu cần-kỹ thuật của chiến dịch được thành lập trên cơ sở lực lượng tiền phương hậu cần-kỹ thuật của các đơn vị và lực lượng hậu cần-kỹ thuật Miền. Trung tướng Đinh Đức Thiện được cử làm Phó Tư lệnh, Đại tá Bùi Phùng là Chủ nhiệm Hậu cần-kỹ thuật chiến dịch. Khi Chiến dịch Hồ Chí Minh cần gấp một số lượng lớn các loại đạn pháo, chỉ trong thời gian ngắn, Tổng cục đã huy động 300 xe ô tô của các cơ sở ở hậu phương vận chuyển gấp hàng nghìn tấn đạn pháo cớ lớn và phụ tùng, vật tư kỹ thuật vào chiến trường. Đồng thời cử 66 đoàn, gồm hơn 3.000 cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên tăng cường cho các tổ đội, trạm sửa chữa cơ động tham gia phục vụ chiến dịch.[15]

Trong giai đoạn chuẩn bị kỹ thuật cho Chiến dịch Hồ Chí Minh, Bộ Tham mưu Tổng cục chỉ đạo các cục chuyên ngành và các đơn vị khẩn trương bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật cho các lực lượng tham gia chiến dịch với chủ trương ưu tiên cho các quân đoàn cơ động, các quân chủng Phòng không-không quân, Hải quân, các binh chủng... bảo đảm cho bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương các tỉnh, thành phố xung quanh Sài Gòn-Gia Định. Quân đoàn 1, trước khi tham gia chiến dịch được Cục Quân khí bổ sung 9 cán bộ và 55 nhân viên kỹ thuật. Tổng cục chi viện lực lượng để tổ chức bảo dưỡng, kiểm tra kỹ thuật và sửa chữa 100% vũ khí, khí tài, đạn dược, xe máy, xe tăng, xe thiết giáp của quân đoàn trước khi hành quân vào chiến trường miền Nam. Quân đoàn 2 được tăng cường trạm T153 của Tổng cục, tăng cường 2 đội sửa chữa cơ động, một đội 30 người, cùng các xe công trình, dụng cụ, trực tiếp phục vụ trên hai hướng tiến công của Quân đoàn trong chiến dịch. Quân đoàn 4, được Tổng cục tăng cưởng Xưởng OX1 và OX2, mỗi đội từ 15 đến 20 cán bộ và nhân viên kỹ thuật.[16] Ngoài ra, Tổng cục còn huy động thêm 570 ô tô của các nhà máy, xí nghiệp ở hậu phương tham gia vận chuyển vũ khí trang bị kỹ thuật, vật chất hậu cần cơ động theo các hướng bảo đảm trực tiếp cho các đơn vị trong chiến dịch.

Những ngày đầu và giữa tháng 4 năm 1975, Tổng cục tiếp tục tổ chức các đoàn vận chuyển vật tư trang bị, vật chất, hậu cần và lực lượng sửa chữa cơ động vào tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Cục Hậu cần tích cực chuẩn bị đầy đủ lương thực, thực phẩm, cơ số thuốc và dụng cụ y tế bảo đảm cho lực lượng của Tổng cục và các đơn vị phối thuộc. Cục Quản lý xe cử 2 đoàn vào giao 43 xe vận tải và 62 lái xe bổ sung cho chiến trường Nam Bộ.... Sau Chiến dịch Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, ta thu được số lượng lớn pháo 105mm, 155mm của địch, nhưng hầu hết bị địch phá hủy lớp trước khi rút chạy. [17]Trước tình hình đó, Tổng cục kịp thời chỉ đạo Cục Quản lý xe, Cục Quân giới cấp bổ sung 100 bộ lốp ô tô "Giải phóng" để thay thế lốp pháo 105mm, 20 bộ lốp xe ỦRAL để thay thế lốp pháo 155mm. Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Tổng cục thành lập Tiền phương Tổng cục Kỹ thuật ở phía Nam, do Đại tá Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm Tổng cục phụ trách.[18] Thời gian này, nhu cầu cán bộ rất lớn và khẩn trương nên Tổng cục đã điều động 811 cán bộ đi chiến trường, 59 cán bộ cho các cơ sở miền Bắc.

Ngày 25 tháng 4 năm 1975, năm cánh quân chủ lực, gồm 4 quân đoàn và Đoàn 232 (tương đương Quân đoàn) với khối lượng binh khí kỹ thuật rất lớn gồm: 516 khẩu pháo mặt đất, 550 tên lửa phòng không, phi đội máy bay Ả37, 320 xe tăng và xe thiết giáp, 1.600 xe công trình, hơn 10.000 xe vận tải, 60.000 tấn vật chất, cùng các đơn vị chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đã cơ động áp sát thành phố Sài Gòn-Gia Định. Cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi, Tổng cục đã kịp thời chỉ đạo các chuyên ngành, cơ quan, đơn vị kỹ thuật khẩn trương tiếp quản cơ sở kỹ thuật, thu hồi vũ khí trang bị của địch.[19]

Những năm đầu thống nhất đất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 5 năm 1975, Tổng cục tổ chức, chỉ đạo và hướng dẫn các đơn vị tiếp quản cơ sở kỹ thuật, thu hồi vũ khí trang bị của ta và của địch ở chiến trường miền Nam. Tổng cục cử các Đoàn vào thu hồi. Sau ngày 1 tháng 5 năm 1975, Tổng cục tiếp nhận 2.600 người trở lại làm việc tại các cơ sở ở phía Nam, góp phần sửa chữa bảo dưỡng, đồng bộ vũ khí trang bị kỹ thuật hệ 2, cấp phát, bổ sung và đưa vào dự trữ tại các kho của Tổng cục.[20] Đầu tháng 6 năm 1975, số lượng vũ khí, đạn dược tồn kho trên truyến chi viện chiến lược đường Trường Sơn vẫn còn nhiều, Tổng cục đã khảo sát và lập phương án xây dựng các kho dự trữ vũ khí, trang bị kỹ thuật ở Tây Nguyên, Quảng Trị, Huế để từng bước hình thành hệ thống kho vũ khí trang bị kỹ thuật theo khu vực.[21]

Ngày 23 tháng 8 năm 1975, Tổng cục thành lập Cơ quan đại diện của Tổng cục ở phía Nam, do Đại tá Nguyễn Văn Tiên, Phó Chủ nhiệm Tổng cục phụ trách. Có nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo công tác quản lý VKTBKT của các quân khu, quân đoàn và cơ sở kỹ thuật trực thuộc Tổng cục ở phía Nam. Sau một năm, Tổng cục đã thu hồi đưa về kho chiến lược hơn 43.000 tấn vũ khí, khí tài, đạn dược, đưa đi sửa chữa hơn 3.000 xe ô tô, 5.000 cụm máy.... Trong thời gian ngắn, Tổng cục và các đơn vị phía Nam đã tiếp quản nhiều cơ sở kỹ thuật, thu hồi lượng lớn vũ khí trang bị của địch, để quản lý tốt đòi hỏi Tổng cục phải đẩy mạnh nghiên cứu khoa học.[22] Cũng trong tháng 8 năm 1975, Tổng cục được Nhà nước giao sản xuất một số mặt hàng kinh tế như: đúc phôi bánh răng, bánh xe gòng, phụ tùng thiết bị mỏ, phụ tùng ô tô, máy nén khí,... đặc biệt là nghiên cứu, sản xuất tiền kim khí, phục vụ nhu cầu lưu hành tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.[23]

Giữa tháng 1 năm 1976, Chủ nhiệm Tổng cục quyết định đổi tên các phân viện trực thuộc Tổng cục: Viện Thiết kế quân giới thành Phân viện Thiết kế vũ khí, khí tài; Viện Thiết kế và Công nghệ Xe-Máy thành Phân viện Thiết kế Cơ giới; Viện Công nghệ quân giới thành Phân viện Công nghệ. Tổng cục tổ chức thành 24 kho vũ khí, đạn; 9 kho xe-máy; 13 xí nghiệp sửa chữa; 07 Nhà máy. Tổng cục chỉ đạo các xí nghiệp chuyển hướng sang sản xuất phụ tùng, vật tư kỹ thuật, tạo điều kiện để chuyển mạnh sang tổ chức sửa chữa cụm, sửa chữa lớn, cung cấp các cụm máy và phụ tùng vật tư kỹ thuật cho các đơn vị.[24]

Đầu tháng 7 năm 1976, Tổng cục xây dựng phương án tổ chức của Tổng cục trình Bộ Quốc phòng phê duyệt. Phương án chẩn chính gồm có các Cục (Quản lý Vú khí-Khí tài-Đạn dược, Xe-Máy, Tăng-Thiết giáp, Trang bị và Khí tài đặc chủng, Kế hoạch Cộng nghiệp, Kỹ thuật sản xuất, Kế hoạch Vật tư, Lao động tiền lương, Tài vụ, Đào tạo-huấn luyện, Kiến thiết cơ bản); ba vùng bảo đảm (Tây Nguyên, Nam Bộ và miền Bắc); các Viện (Thiết kế vũ khí, Thiết kế cơ giới, Thiết kế cộng nghệ, Thiết kế đo lường); các Trường (Trung học Kỹ thuật, Trung học Kinh tế, Công nhân Kỹ thuật, Bổ túc cán bộ).[25] Ngày 17 tháng 7 năm 1976, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 255/QĐ-QP chuyển Viện Kỹ thuật quân sự và Phòng Quản lý nghiên cứu kỹ thuật thuộc Tổng cục Kỹ thuật về trực thuộc Bộ Quốc phòng.[26] Kết hợp với việc chấn chỉnh tổ chức, Tổng cục ra Chỉ thị về công tác quản lý và bảo vệ kho. Sau chiến tranh, một khối lượng lớn trang bị, vũ khí mà ta thu được của địch đó là nguồn dự trữ rất quý để bảo vệ Tổ quốc trong thời bình. Vì vậy, Tổng cục chỉ đạo toàn quân thực hiện Tổ chức kiểm tra, chấn chỉnh công tác nhà kho, giữ gìn bảo quản, rà soát số lượng, chất lượng việc coi giữ bảo quản.[27]

Chiến tranh biên giới Tây Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Từ đầu năm 1977, Lực lượng phản động Pôn-pốt, Iêng-xa-ri được các thế lực phản động nước ngoài hậu thuẫn đã tiến hành các hoạt động quân sự xâm lược lãnh thổ nước ta. Chúng huy động một sư đoàn chủ lực tiến công các đồn biên phòng và 13 xã biên giới thuộc tỉnh An Giang, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Để bảo vệ biên giới phía Tây Nam, Tổng cục Kỹ thuật xác định bảo đảm đầy đủ, kịp thời và đồng bộ vũ khí trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang các tỉnh biên giới Tây Nam sẵn sàng chiến đấu.[28]

Đến hết tháng 7 năm 1977, Tổng cục giao cho Cục Quản lý Vũ khí-Khí tài-Đạn dược tổ chức xong 2 trạm sửa chữa của Quân đoàn 4, củng cố xây dựng các trạm xưởng của quân khu và bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Nhanh chóng tạo nguồn dự trữ vũ khí, đạn tại các kho của Cục ở phía Nam, chuẩn bị đủ vật tư, phụ tùng và bộ phận thay thế vũ khí, khí tài. Do nhu cầu sử dụng vũ khí, khí tài ở biên giới Tây Nam đến hết năm 1977 đã hết 2.500 tấn, chiếm 73% khối lượng đạn của các đơn vị mang theo nên năm 1978, lượng cấp phát cho chiến đấu là rất lớn, đến hết tháng 9 năm 1978 là 10.000 tấn.[29] Từ tháng 5 năm 1978, Tổng cục tiếp nhận khối lượng lớn vũ khí trang bị trong Kế hoạch viện trợ VT78 của Liên Xô và Tổng cục đã chi viện ngay cho chiến trường ở biên giới Tây Nam. (16.000 tấn vũ khí, đạn dược, 88 tấn phụ tùng, dự trữ ở phía bắc 7.600 tấn).[30]

Từ tháng 12 năm 1977, Tổng cục thành lập Chỉ huy Tiền phương Tổng cục Kỹ thuật trong Bộ Tư lệnh Tiền phương Bộ Quốc phòng ở biên giới Tây Nam. Lúc đó, chỉ huy Tiền phương của Tổng cục là Đại tá Nguyễn Văn Tiên. Đến tháng 4 năm 1978, Chỉ huy Tiền phương Tổng cục được chuyển thành Sở chỉ huy Tiền phương Tổng cục Kỹ thuật ở phía Nam nhằm trực tiếp chỉ đạo bảo đảm trang bị, kỹ thuật cho các đơn vị chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam. Tiếp đó, Tổng cục thành lập Trung đoàn Vận tải 32 phục vụ thu hồi, vận chuyển vũ khí trang bị về kho, nhà máy, trạm, xưởng để bảo quản, sửa chữa và đồng bộ, vận chuyển vũ khí đạn dược đến các đơn vị tuyến trước. Ngoài ra, Tổng cục còn tổ chức 12 đội sửa chữa cơ động để sửa chữa vũ khí trang bị.[31]Tháng 10 năm 1978, chiến dịch tổng phản công giải phóng Cam-pu-chia diễn ra. Theo đó, Tổng cục phải chuẩn bị 1.000 xe ô tô vận tải, 500 xe tăng và xe thiết giáp, bổ sung cơ số đạn, vũ khí cho các đơn vị tham gia phản công. Tính chung ra, Tổng cục đã cấp phát bổ sung gần 52.000 súng bộ binh, 160 khẩu pháo, cối, DKZ, hơn 19.000 tấn đạn, bom mìn các loại. Ngày 26 tháng 12 năm 1978, ta phối hợp với Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia tổng tấn công và nổi dậy trong cả nước. Cho đến ngày 7 tháng 1 năm 1979, đã giải phóng được thành phố Phnom Penh theo đúng kế hoạch.[32]

Kiện toàn tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng 10 năm 1978, thành lập trường Hạ sĩ quan Kỹ thuật trên cơ sở sát nhập Trường Sĩ quan kỹ thuật với Trường Sơ cấp kỹ thuật và được đặt tên là Trường Kỹ thuật Vin-hem-Pích (nay là trường Đại học Trần Đại Nghĩa). Ngày 26 tháng 10 năm 1978, thành lập trường Trung cấp kỹ thuật, Trường Trung học Kinh tế, Trường Công nhân kỹ thuật và Trường Bổ túc Cán bộ thuộc Tổng cục. Ngày 16 tháng 12 năm 1978, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 900/QĐ-QP điều Viện Kỹ thuật quân sự trực thuộc Bộ Quốc phòng về trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật.[33]

Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 940/QP quy định tổ chức biên chế của Tổng cục Kỹ thuật gồm 13 Cục (Bộ Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Văn phòng, Quản lý Vũ khí-Khí tài-Đạn dược, Quản lý xe máy, Tăng Thiết giáp, Quản lý xí nghiệp, Quản lý kinh tế, Huấn luyện Đào tạo, Quản lý Khoa học kỹ thuật, Cung ứng Vật tư, Cơ quan đại diện ở phía Nam); 1 viện, 4 phân viện, 8 trường, 28 xí nghiệp, 2 trung đoàn vận tải, 5 phòng ban trực thuộc Tổng cục (Phòng Tài vụ Vật giá, Ban Thanh tra, Văn phòng Ủy ban Kiểm tra kỷ luật, Phòng Quân pháp, Viện kiểm sát quân sự). Quân số của Tổng cục lục này hơn 70.000 người.[34]

Ngày 24 tháng 2 năm 1979, Bộ Quốc phòng thành lập Cục Kỹ thuật ở các quân khu, quân đoàn, binh chủng; thành lập Phòng Kỹ thuật ở Sư đoàn, Lữ đoàn và tương đương; Ban Kỹ thuật ở trung đoàn và tướng đương.[35] Ngành Kỹ thuật quân đội kiện toàn hệ thống quản lý, chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật ở 3 cấp (chiến lược là Tổng cục Kỹ thuật, chiến thuật là Cục Kỹ thuật thuộc các quân khu, quân đoàn, binh chủng và chiến dịch là Ban kỹ thuật thuộc sư đoàn...). Sau khi kiện toàn, từ năm 1979, cơ quan Tổng cục gồm (Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục hậu cần, Văn phòng, Cục Quản lý Vũ khí-Khí tài-Đạn dược, Cục Trang bị kỹ thuật đặc chủng, Cục Đơn vị, Cục Kỹ thuật sản xuất, Cục Lao động tiền lương, Cục Kế hoạch Vật tư, Cục huấn luyện, Cục Kiến thiết cơ bản, Viện Kiểm sát, Ban Thanh tra, Ủy ban kiểm tra kỷ luật, Phòng Quân pháp); ở cơ sở gồm (18 xín ghiệp sản xuất, 11 xí nghiệp sửa chữa, đoàn, tổng đội, trung đoàn, kho, viện, phân viện, trường).[36]

Ngày 14 tháng 11 năm 1979, Bộ Quốc phòng chuyển nhiệm vụ chỉ đạo, quản lý bảo đảm trang bị, kỹ thuật các loại xe tăng, thiết giáp từ Bộ Tư lệnh Tăng-Thiết giáp về Tổng cục và tiến hành đổi tên Cục Đơn vị thành Cục Tăng-Thiết giáp trực thuộc Tổng cục.[37] Từ ngày 1 tháng 1 năm 1980, Trường Đại học Kỹ thuật quân sự là đầu mối trực thuộc Tổng cục, đến tháng 1 năm 1982, lại trở thành đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng.

Ngày 28 tháng 2 năm 1981, Bộ Quốc phòng thành lập Trường Sĩ quan Chỉ huy kỹ thuật ô tô (trên cơ sở trường Trung cấp Kỹ thuật xe máy) và Trường Sĩ quan kỹ thuật Vũ khí Đạn (trên cơ sở Trường Trung cấp Kỹ thuật quân khí).[38]

Ngày 29 tháng 4 năm 1981, Bộ Tổng Tham mưu ra Quyết định số 120/QĐ kiện toàn tổ chức biên chế theo đó, Tổng cục bao gồm: 13 Cục và tương đương, 5 Tổng kho, 18 Kho trực thuộc Cục chuyên ngành, 30 Nhà máy, 8 Viện và trung tâm, 13 Trường, Đoàn 387.

Tháng 3 năm 1984, sau khi kiện toàn tổ chức, Tổng cục có 9 cục và cơ quan tương đương, 11 phòng ban trực thuộc, 8 trường, 5 viện nghiên cứu, 2 trung tâm, 11 nhà máy sửa chữa, 18 nhà máy sản xuất, 6 đơn vị vận tải.

Từ ngày 31 tháng 10 đến 2 tháng 11 năm 1986, Đảng ủy Quân sự Trung ươngBộ Quốc phòng triệu tập Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Thủ trưởng các Tổng cục và cơ quan Bộ Quốc phòng họp bàn về việc kiện toàn tổ chức của Tổng cục; chuyển cơ chế quản lý chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật theo cấp sang cơ chế quản lý chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật theo chuyên ngành; thành lập Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng để quản lý, chỉ đạo các Nhà máy sản xuất vũ khí trang bị kỹ thuật.

Thời kỳ đổi mới đất nước (1987-1993)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau tháng 3 năm 1989, khi Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng được thành lập và nhận chức năng quản lý các xí nghiệp quốc phòng từ Tổng cục Kỹ thuật, sau đó gọi là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Kinh tế.

Ngày 24 tháng 4 năm 1989, Đại tướng Lê Đức Anh, Bộ truởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định số 130/QĐ-QP quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Kỹ thuật từ đây Tổng cục thực hiện theo cơ chế mới là cơ quan quản lý, chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật trong toàn quân của Quân đội. Theo đó, tổ chức của Tổng cục gồm (Cục Kế hoạch bảo đảm kỹ thuật, Cục Quản lý Khoa học Kỹ thuật, Cục Tổ chức cán bộ huấn luyện, Văn phòng, Trung tâm thông tin khoa học kỹ thuật quân sự).

Ngày 8 tháng 11 năm 1989, thành lập Phòng Điều tra hình sự thuộc Tổng cục.

Xây dựng chính quy hiện đại (1993-nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

TT Chức vụ Họ tên Đảm nhiệm Chức vụ trước Ghi chú
1 Chủ nhiệm Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg Nguyễn Châu Thanh Từ 2008 Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu 7, Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật
2 Chính ủy Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg Hà Minh Thám Từ 2011 Chính ủy Quân đoàn 3, Phó Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật
3 Tham mưu trưởng Vietnam People's Army Major General Left.jpg Phạm Dũng Tiến Từ 2008 Cục trưởng Cục Kỹ thuật Binh chủng
4 Phó Chủ nhiệm Vietnam People's Army Major General Left.jpg Vũ Xuân Bình Từ 2008 Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng PKKQ
5 Phó Chủ nhiệm Vietnam People's Army Major General Left.jpg Nguyễn Công Thành Từ 2010 Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Hải quân
6 Phó Chủ nhiệm Vietnam People's Army Major General Left.jpg Trịnh Đình Tư Từ 2013 Phó Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật
7 Phó Chủ nhiệm Vietnam People's Army Major General Left.jpg Hồ Công Tráng Từ 2013 Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu 7
8 Phó Chính ủy Vietnam People's Army Major General Left.jpg Nguyễn Hữu Chính Từ 2013 Chính ủy Cục Kỹ thuật Binh chủng, Chủ nhiệm Chính trị Tổng cục

Cơ quan trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Văn phòng Tổng cục Thành lập: 10/9/1974 (&0000000000000040.00000040 năm, &0000000000000103.000000103 ngày)
  • Thanh Tra Tổng cục Thành lập: 7/11/1976 (&0000000000000038.00000038 năm, &0000000000000045.00000045 ngày)
  • Ủy ban Kiểm tra Đảng
  • Phòng Tài chính Thành lập: 10/9/1974 (&0000000000000040.00000040 năm, &0000000000000103.000000103 ngày)
  • Phòng Khoa học Quân sự Thành lập: 8/6/1993 (&0000000000000021.00000021 năm, &0000000000000197.000000197 ngày)
  • Phòng Thông tin Khoa học Quân sự Thành lập: 7/8/1968 (&0000000000000046.00000046 năm, &0000000000000137.000000137 ngày)
  • Phòng Điều tra Hình sự (Thành lập 8/11/1989)
  • Phòng Kinh tế (Thành lập 20/8/1994)
  • Tạp chí Kỹ thuật và Trang bị Thành lập: 5/6/2000 (&0000000000000014.00000014 năm, &0000000000000200.000000200 ngày)
  • Bộ Tham mưu
Thành lập: 10/9/1974 (&0000000000000040.00000040 năm, &0000000000000103.000000103 ngày)
Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Phạm Dũng Tiến
  • Cục Chính trị
Thành lập: 10/9/1974 (&0000000000000040.00000040 năm, &0000000000000103.000000103 ngày)
Cục trưởng: Thiếu tướng Phạm Văn Lập
  • Cục Hậu cần
Thành lập: 20/11/1994 (&0000000000000020.00000020 năm, &0000000000000032.00000032 ngày)[39]
Cục trưởng: Đại tá Tạ Văn Thuyên
Thành lập: 16/9/1951 (&0000000000000063.00000063 năm, &0000000000000097.00000097 ngày)
Cục trưởng: Thiếu tướng Trần Trọng Tuấn
Chính ủy: Đại tá Nguyễn Văn Mỹ
Thành lập: 18/4/1955 (&0000000000000059.00000059 năm, &0000000000000248.000000248 ngày)
Cục trưởng: Thiếu tướng Phạm Văn Khánh
Chính ủy: Đại tá Trần Duy Hưng
Thành lập: 10/12/1999 (&0000000000000015.00000015 năm, &0000000000000012.00000012 ngày)
Cục trưởng: Thiếu tướng Lê Xuân Phương
Chính ủy: Đại tá Bùi Văn Tuất

Đơn vị cơ sở trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập: 14/7/1974 (&0000000000000040.00000040 năm, &0000000000000161.000000161 ngày)
Trụ sở: Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội
Viện trưởng: Đại tá Trần Hoài Nam
Thành lập: 27/8/1978 (&0000000000000036.00000036 năm, &0000000000000209.000000209 ngày)
Trụ sở: 198, Nguyễn Oanh, Gò Vấp, Hồ Chí Minh
Hiệu trưởng: Thiếu tướng Nguyễn Văn Hưng
Chính ủy: Đại tá Trần Viết Triền
Thành lập: 25/11/1951 (&0000000000000063.00000063 năm, &0000000000000027.00000027 ngày)
Trụ sở: Kim Sơn, Sơn Tây, Hà Nội
Thành lập: 24/3/1967 (&0000000000000047.00000047 năm, &0000000000000273.000000273 ngày)
Trụ sở: Gia Khánh, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc
Thành lập: 17/10/1979 (&0000000000000035.00000035 năm, &0000000000000066.00000066 ngày)
Trụ sở: đường Nguyễn Xiển, TP. Nha Trang, Khánh Hòa
Thành lập: 7/4/2004 (&0000000000000010.00000010 năm, &0000000000000259.000000259 ngày)
Trụ sở: Ngõ 228, phố Lê Trọng Tấn, Hà Nội
Thành lập: 15/5/1975 (&0000000000000039.00000039 năm, &0000000000000221.000000221 ngày)
Trụ sở: Số 18, đường Phan Văn Trị, Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh
Thành lập: 1/1/1969 (&0000000000000045.00000045 năm, &0000000000000355.000000355 ngày)
Trụ sở: Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội
Giám đốc: Đại tá Phạm Minh Tuấn
Chính ủy: Đại tá Nguyễn Tiến Dũng
Thành lập: 25/5/1950 (&0000000000000064.00000064 năm, &0000000000000211.000000211 ngày)
Trụ sở: Kim Sơn, Sơn Tây, Hà Nội
Giám đốc: Đại tá Nguyễn Duy Chiến
Chính ủy: Đại tá Vũ Bá Hòa
Thành lập: 20/4/1968 (&0000000000000046.00000046 năm, &0000000000000246.000000246 ngày)
Trụ sở: TT. Đông Anh, Đông Anh, Hà Nội
Giám đốc: Đại tá Lê Xuân Khanh
Chính ủy: Đại tá Phạm Trang Nhung
Thành lập: 7/12/1996 (&0000000000000018.00000018 năm, &0000000000000015.00000015 ngày)
Trụ sở: Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội
Giám đốc: Đại tá Cao Quý Hà

Khen thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống cơ quan Kỹ thuật trong Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ngành Kỹ thuật Quân đội Nhân dân Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]
  • Tổng cục Kỹ thuật thuộc Bộ Quốc phòng.
  • Cục Kỹ thuật thuộc các Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chủng, Tổng cục và tương đương.
  • Phòng Kỹ thuật thuộc các Sư đoàn, Lữ đoàn, Vùng Cảnh sát biển, Bộ CHQS tỉnh, thành phố trực thuộc TW, Bộ CHBP tỉnh, thành phố trực thuộc TW và tương đương.
  • Ban Kỹ thuật thuộc các Trung đoàn, Ban chỉ huy quân sự quận, huyện, thị xã và tương đương.

Chủ nhiệm Tổng cục qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ tên
Năm sinh-năm mất
Thời gian đảm nhiệm Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Đinh Đức Thiện
(1914-1986)
1974-1975 Thiếu tướng (1974) Thượng tướng (1986),
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (1982-1987)
2 Lê Văn Tri
(1920-2006)
1977-1987 Trung tướng (1982) Nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân
3 Hoàng Văn Thái

(1920-2000)

1987-1988 Trung tướng (1982) Quyền Chủ nhiệm Tổng cục
4 Phan Thu
(1931-)
1988-1989 Trung tướng (1990) Quyền Chủ nhiệm Tổng cục
5 Đào Đình Luyện
(1929-1999)
1989-1992 Thiếu tướng (1977)
Trung tướng (1983)
Thượng tướng (1988)
Tổng Tham mưu trưởng (1991-1999)
6 Trương Khánh Châu
(1934-)
1992-1997 Thiếu tướng (1988)
Trung tướng (1992)
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (1996-2002) Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (1973)
7 Nguyễn Hoa Thịnh
(1940-)
1997-2001 Thiếu tướng (1995)
Trung tướng (2000)
Giám đốc Trung tâm Khoa học và Công nghệ Quân sự (2002-2007)
Chủ tịch Hội Cơ học Việt Nam (2007-nay)
Phó Giáo sư (1994)
Giáo sư (1991)
Nhà giáo Nhân dân (1990)
8 Đỗ Đức Pháp
(1945-)
2001-2005 Thiếu tướng
9 Trương Quang Khánh
(1953-)
2005-2007 Trung tướng (2007)
Thượng tướng (2011)
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (2009-nay)
10 Nguyễn Châu Thanh
(1955-)
2008-nay Trung tướng (2010)

Chính ủy Tổng cục qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ tên
Năm sinh-năm mất
Thời gian đảm nhiệm Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Đinh Đức Thiện
(1914-1986)
1974-1975 Thiếu tướng (1974) Trung tướng (1984), Thượng tướng (1986)
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (1982-1986)
Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Tổng cục
2 Lê Văn Tri
(1920-2006)
1977-1985 Thiếu tướng Trung tướng (1982)

Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật

Bí Thư Đảng ủy Tổng cục
3 Hoàng Văn Thái
(1920-2000)
1985-1987 Trung tướng (1980) Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật (1987-1989) Bí thư Đảng ủy Tổng cục
4 Lương Hữu Sắt
(1927-)
1989-1993 Trung tướng Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Bí thư Đảng ủy Tổng cục
5 Trương Khánh Châu
(1934-)
1994-1994 Trung tướng (1992) Thứ trưởng Bộ Quốc phòng (1996-2002) Bí thư Đảng ủy Tổng cục
6 Hoàng Anh Tuấn
(1944-)
1994-2005 Thiếu tướng (1998) Phó Chủ nhiệm Tổng cục về Chính trị Bí thư Đảng ủy Tổng cục (1994-2005)
7 Nguyễn Mạnh Đẩu
(1948-)
2005-2007 Trung tướng (2005)
8 Nguyễn Hữu Thìn
(1951-)
2007-2011 Thiếu tướng (2004)
Trung tướng (2008)
Nguyên Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 2 Nguyên Phó Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật (2006-2007)
9 Hà Minh Thám
(1955-)
2011-nay Trung tướng (2011) Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (1989)

Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ tên
Năm sinh-năm mất
Thời gian đảm nhiệm Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Trần Sâm
(1918-2009)
1974-1975 Trung tướng (1974) Thượng tướng (1986)
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
Phó Bí thư Đảng ủy Tổng cục (1974-1975)
2 Phạm Như Vưu 1978-1985 Đại tá
Thiếu tướng
Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng
3 Phan Thái 1985-1987 Thiếu tướng (1984) Tham mưu trưởng
4 Phạm Thanh Liêu 1987-1994 Đại tá Cục trưởng Cục Kế hoạch
5 Đỗ Đức Pháp 1994-2000 Thiếu tướng Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng
Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật (2002-2005)
Phó Bí thư Đảng ủy Tổng cục (2002-2005)
Nguyên Cục trưởng Cục Quân khí
6 Nghiêm Sỹ Chúng 2000-2005 Thiếu tướng Nguyên Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu 1
7 Nguyễn Châu Thanh 2005-2007 Thiếu tướng Trung tướng Nguyên Cục trưởng Cục Kỹ thuật, Quân khu 7
8 Phạm Dũng Tiến 2007-nay Thiếu tướng (2009) Nguyên Cục trưởng Cục Kỹ thuật Binh chủng

Phó Chủ nhiệm Tổng cục qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ tên
Năm sinh-năm mất
Thời gian đảm nhiệm Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Trần Đại Nghĩa
(1913-1997)
1974-1987 Thiếu tướng (1948) Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam
2 Nguyễn Văn Tiên
(1924-2003)
1974-1987 Trung tướng Tư lệnh Quân chủng PKKQ
3 Vũ Văn Đôn 1974-1987 Thiếu tướng
4 Hoàng Văn Thái
(1915-1986)
1975-1987 Trung tướng Bí thư Đảng ủy Tổng cục (1985-1987)
5 Bùi Đức Tạm 1976-1987 Thiếu tướng
6 Nguyễn Duy Thái
(1914-1995)
1978-1987 Thiếu tướng (1985) Thứ trưởng Bộ Cơ khí luyện kim
Thứ trưởng Bộ Lao động
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
7 Trần Thanh Từ 1981-1987 Trung tướng Nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 3
8 Lê Văn Chiểu
(1926-)
1981-1987 Thiếu tướng (1984) Phó Chủ nhiệm Tổng cục CNQP
9 Lương Hữu Sắt
(1927-)
1981-1987
1989-1994
Trung tướng Bí thư Đảng ủy Tổng cục (1989-1993)
10 Nguyễn Quỳ 1989-1994 Thiếu tướng
11 Lê Mỹ Huyên 1993-2000 Thiếu tướng Phó Bí thư Đảng ủy Tổng cục (1997-2000)
12 Võ Minh Cẩm
(1948-)
2000-2008 Thiếu tướng (2003) Nguyên Phó Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng PKKQ
13 Đinh Danh Nghiêm 2000-2008 Thiếu tướng (2003) Nguyên Cục trưởng Cục Quân khí (-2000)
14 Bế Quốc Hùng
(1949-)
2004-2010 Chuẩn Đô đốc (2003)
15 Nguyễn Minh Đức 2007-2011 Thiếu tướng (2006) Nguyên Cục trưởng Cục Quân khí (2000-2007)
16 Vũ Xuân Bình 2008-nay Thiếu tướng (2009) Nguyên Cục trưởng Cục Kỹ thuật, Quân chủng PKKQ
17 Đoàn Nhật Tiến
(1955-)
2009-2010 Thiếu tướng (2009) Trung tướng (2014), Giám đốc Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự (2010-nay) Nguyên Phó Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật (2007-2009)
18 Nguyễn Quang Bắc 2010-2013 Thiếu tướng (2007)
19 Nguyễn Công Thành 2010-nay Thiếu tướng (2010) [40][41] Nguyên Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân chủng Hải quân
20 Hồ Công Tráng 2013-nay Thiếu tướng (2013) [42][43] Nguyên Cục trưởng Cục Kỹ thuật, Quân khu 7
21 Trịnh Đình Tư 2013-nay Thiếu tướng (2013) [44][45][46] Nguyên Phó Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật

Phó Chính ủy qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

TT Họ tên
Năm sinh-năm mất
Thời gian đảm nhiệm Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Nguyễn Hữu Thìn 2006-2007 Thiếu tướng (2004) Trung tướng (2008)
Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật (2007-2011)
Bí thư Đảng ủy Tổng cục (2008-2011)
2 Hoàng Bằng[47] 2007-2010 Thiếu tướng (2009) Trung tướng (2014)
Chính ủy Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự
Nguyên Chủ nhiệm Chính trị Tổng cục CNQP
3 Hà Minh Thám
(1955-)
2010-2011 Thiếu tướng (2008) Trung tướng (2011)
Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật (2011-nay)
Bí thư Đảng ủy Tổng cục (2011-nay)

Nguyên Chính ủy Quân đoàn 3

4 Thái Xuân Dương 2011-2013 Thiếu tướng (2011)
5 Nguyễn Hữu Chính 2013-nay Thiếu tướng (2013) Chủ nhiệm Chính trị Tổng cục Kỹ thuật (2011-2013)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), NXB Quân đội Nhân dân năm 2014
  2. ^ Kỷ niệm 64 năm thành lập ngành Quân giới Việt Nam (15/9/1945 – 15/9/2009).
  3. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 30
  4. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 34
  5. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 44
  6. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 45
  7. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 47
  8. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 55
  9. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 61
  10. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 63
  11. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 64
  12. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 65
  13. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 67
  14. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 68
  15. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 72
  16. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 75
  17. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 77
  18. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 78
  19. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 83
  20. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 95
  21. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 96
  22. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 98
  23. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 101
  24. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 104
  25. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 105
  26. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 106
  27. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 109
  28. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 121
  29. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 124
  30. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 125
  31. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 134
  32. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 140
  33. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 128
  34. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 130
  35. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 156
  36. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 159
  37. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 161
  38. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), tr. 170
  39. ^ “Cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì”. 
  40. ^ “ế mạc hội thi tàu tốt cấp BTL Cảnh sát biển Lần thứ nhất - năm 2014”. 
  41. ^ “Đoàn Đặc công 5 tổ chức sơ kết cuộc vận động 50 về quản lý, khai thác vũ khí thiết bị kỹ thuật”. 
  42. ^ “Đoàn công tác Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng làm việc tại BĐBP Đăk Nông 2014”. 
  43. ^ “Quân đoàn 2 sơ kết 5 năm thực hiện Cuộc vận động 50 2014”. 
  44. ^ “Bế mạc Hội thi nhà kho quân khí tốt, chủ nhiệm kho quân khí giỏi toàn quân năm 2014”. 
  45. ^ “Tổng cục Kỹ thuật trao Giấy chứng nhận các chức danh sĩ quan”. 
  46. ^ “Triển khai 7 giải pháp nâng cao chất lượng công tác xuất bản”. 
  47. ^ “Tổ chức giao lưu Khát vọng tuổi trẻ 2010”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]