Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự là một viện nghiên cứu khoa học đa ngành trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại Viện Kỹ thuật Quân sự 1 (Viện Nghiên cứu Quân giới đổi tên năm 1960), Viện Kỹ thuật Quân sự 2 (tiếp nhận Viện Nghiên cứu Kỹ thuật Quân sự của Việt Nam Cộng hòaSài Gòn năm 1975) và sáp nhập các viện nghiên cứu khác thuộc Bộ Tổng Tham mưu, các Tổng cục và binh chủng kỹ thuật.

Viện Khoa học và Công nghệ quân sự có nhiệm vụ tổ chức nghiên cứu khoa học kỹ thuật, công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến phục vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

  • Trụ sở chính: số 17 phố Hoàng Sâm, Nghĩa Ðô, Cầu Giấy, Hà Nội (Điện thoại: <a href="tel:069 516 032">069 516 032</a>).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1947, thành lập Nha nghiên cứu kỹ thuật thuộc Cục Quân giới, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia Việt Nam. Kỹ sư, thiếu tướng Trần Đại Nghĩa được bổ nhiệm làm Cục trưởng kiêm Giám đốc đầu tiên của Nha nghiên cứu kỹ thuật Quân giới. Đây là cơ quan nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự đầu tiên của Việt Nam và là tổ chức tiền thân của Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự, Viện Thiết kế Vũ khí, Viện Thuốc phóng- Thuốc nổ và các Viện, Phân viện nghiên cứu của Quân đội Việt Nam.
  • Năm 1950, Nha nghiên cứu kỹ thuật Quân giới đổi tên thành Viện Nghiên cứu Quân giới trực thuộc Tổng cục Cung cấp, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Quốc gia Việt Nam. Viện trưởng là Kỹ sư Nguyễn Trinh Tiếp, Viện phó là Kỹ sư Hoàng Đình Phu và Kỹ sư Phạm Đồng Điện.
  • Năm 1960, Cục Nghiên cứu Kỹ thuật (Viện Kỹ thuật Quân sự), trực thuộc Tổng cục Hậu cần, Bộ Quốc phòng Việt Nam được thành lập trên cơ sở Viện Nghiên cứu Quân giới. Cục trưởng là Thiếu tướng Trần Sâm, phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm nhiệm; Cục phó là Đại tá, kỹ sư Hoàng Đình Phu.
  • Ngày 10 tháng 9 năm 1974, Thực hiện Nghị quyết của Quân ủy Trung ương (số39/QUTW ngày 5 tháng 4), Hội đồng Chính phủ ra Nghị định (số 221/CP) thành lập Tổng cục Kỹ thuật thuộc Bộ Quốc phòng. Viện Kỹ thuật Quân sự trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng Việt Nam.
  • Năm 1987, Viện Kỹ thuật Quân sự chuyển sang trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam.
  • Ngày 10 Tháng 09 năm 1999, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trung tâm Khoa học kỹ thuật và Công nghệ quân sự trực thuộc Bộ Quốc phòng trên cơ sở sắp xếp và tổ chức lại Viện Kỹ thuật quân sự và các Viện Kỹ thuật khác của Bộ Quốc phòng. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trung tướng, phó giáo sư, Viện sĩ Trương Khánh Châu được kiêm nhiệm Giám đốc Trung tâm (1999-2002).
  • Năm 2008, Trung tâm đổi tên thành Viện Khoa học và Công nghệ quân sự.

Thành tựu khoa học kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Nha Nghiên cứu Kỹ thuật Quân giới (sau đó là Viện nghiên cứu quân giới), dưới sự chỉ đạo của các kỹ sư vũ khí tài năng như: Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Trinh Tiếp, Ngô Gia Khảm...đã nghiên cứu thiết kế và chế tạo ra: súng Bodoca, súng SKZ, đại bác DKZ, đạn bay... góp phần vào các chiến dịch chống Pháp thắng lợi của quân đội nhân dân Việt Nam.

Viện Kỹ thuật Quân sự 1 Hà Nội đã tham gia nhiều nhiệm vụ và đề tài kỹ thuật góp phần vào thắng lợi của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Viện Thiết kế Vũ khí đã chủ trì nhiều đề tài cấp nhà nước và đề tài cấp bộ về thiết kế, chế tạo súng bộ binh như: súng trung đại liên PKMS, súng 12,7 mm, pháo tàu, pháo lựu chống xe tăng, súng SKZ, đại bác DKZ,...

Tập thể Viện đã được phong tặng danh hiệu đơn vị anh hùng. Nhiều tập thể và cá nhân được trao tặng các giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước, giải thưởng VIFOTEX và được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và giải thưởng tuổi trẻ sáng tạo [1].

1.Phá thủy lôi từ tính và bom từ trường, đảm bảo giao thông 1967-1972 của Viện Kỹ thuật quân sự, Bộ Tư lệnh công binh, Bộ Tư lệnh Hải Quân, Viện Kỹ thuật Bộ Giao thông vận tải, các cục: Đường bộ, Đường sông, Đường biển, cảng Hải Phòng, Ty đảm bảo hàng hải, Tổ GKI Đại học Bách khoa Hà Nội.
2.Nghiên cứu chống nhiễu trong cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở miền Bắc, 1968, 1969, 1970, 1972 của Bộ Tư lệnh phòng không, Viện Kỹ thuật quân sự.
3.Một số vũ khí đặc biệt trong chiến tranh chống Mỹ (A12, DKB nối tầng, các loại vũ khí phá chướng ngại FR, thủy lôi APS), 1960-1972 của Viện Kỹ thuật quân sự.
  • Các công trình được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005.
  • Cụm công trình nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ xây dựng công trình phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, giai đoạn 1956-1975.

Tác giả: KS. Nguyễn Trọng Quyển, KS. Bùi Danh Chiêu, KS. Nguyễn Quán Hồng, KS. Lương Lâm, KS. Nguyễn Cao Đàm, TS. Chu Việt Cường, TS. Vũ Quý Khôi, KS. Nguyễn Bá Thiện, TS. Trần Xuân Nam, KS. Nguyễn Thanh Tâm, KS. Phạm Hoàng Vân, KS. Đào Văn Huệ, KS. Trịnh Minh Thanh, KS. Phan Lưu Long, KS. Nguyễn Cát, KS.Nguyễn Giáo, TS. Nguyễn Quang Hưng, TS. Nguyễn Hữu Phúc, GS.TS. Nguyễn Mạnh Kiểm.[cần dẫn nguồn]

  • Mới đây,sơn hấp thụ sóng ra-đa,là loại vật liệu đặc biệt dùng để sơn phủ lên bề mặt các mục tiêu quân sự nhằm bảo vệ mục tiêu trước sự phát hiện, định vị của ra-đa đối phương dược các nhà khoa học thuộc Viện Hóa học-Vật liệu (Viện Khoa học và Công nghệ quân sự) vừa nghiên cứu chế tạo thành công loại sơn hấp thụ sóng ra-đa có ký hiệu PD/RAP-MEH sử dụng để sơn phủ các loại VKTBKT nhằm giảm thiểu thiết diện phản xạ hiệu dụng, nâng cao khả năng ngụy trang của VKTBKT đối với các thiết bị trinh sát, phát hiện và điều khiển sử dụng bức xạ sóng ra-đa trong dải băng X (từ 8 đến 12 GHz).

Sơn PD/RAP-MEH được chế tạo từ loại vật liệu tổn hao tổ hợp điện từ tổng hợp trên cơ sở composit của polypyrol và bari ferit. Sơn có màu đen. Một số thông số kỹ thuật chủ yếu của sơn PD/RAP-MEH gồm: Độ nhớt quy ước: 65; thời gian khô bề mặt: 2 giờ, thời gian khô cấp 1: 8 giờ; hàm lượng chất rắn 73,2%; độ cứng: 0,23; độ bền uốn: 2mm.

Khả năng hấp thụ sóng ra-đa trong khoảng 8 đến 12 GHz (ứng với độ dày màng sơn 1mm) lớn hơn 94%. Thời gian sống của sơn sau khi pha trộn từ 2,5 đến 3 giờ...

Thành tựu công nghệ quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phát triển và đổi mới công nghệ mạ, nhúng kẽm bảo vệ, chống ăn mòn các kết cấu thép trong môi trường khí quyển Việt Nam được nhận Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2005. (Tác giả: GS.TSKH. Nguyễn Đức Hùng, KS. Lê Quang Tuấn, ThS. Ngô Hoàng Giang, TS. Nguyễn Văn Quỳnh.)
  • Nghiên cứu chế tạo thuốc hoả thuật chịu ẩm cao cho sản xuất vũ khí và công nghệ đánh giá nhanh chất lượng thuốc phóng bằng metyl tím được nhận Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2005. (Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Công Hoè, KS. Nguyễn Văn Chấn, ThS. Hoàng Phùng, TS. Phạm Quang Định, ThS. Trần Minh Công, ThS. Nguyễn Hướng Đoàn, KS. Lê Hồng Thái, KS. Lê Hoàn.).
  • Nghiên cứu chế tạo các phương tiện phát khói ngụy trang dùng trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và tác chiến A2. (Tác giả: ThS. Lê Văn Bàn, CN. Nguyễn Đức Liêm, KS. Trần Văn Nghị, KS. Trần Đông Sơ, KS. Tống Duy Lục, TS. Nguyễn Văn Minh, KS. Bùi Tấn Phụ, TS. Lê Ngọc Định, KS. Vũ Văn Khay, CN. Trần Đức Tuần, KS. Lê Anh Sơn, KS. Phạm Văn Hoàn, KS. Vũ Tiến Diệm, KS. Nguyễn Văn Bình.

Đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Các chuyên ngành đào tạo Tiến sĩ:
  1. Toán ứng dụng (Toán học tính toán; Lý thuyết Xác xuất và Thống kê)
  2. Cơ sở toán học của tin học (Tin học lý thuyết)
  3. Vật lý kỹ thuật (Cơ sở kỹ thuật vô tuyến và điện tử; Quang học và quang điện tử; Vật lý y-sinh học)
  4. Hoá học (Hoá hữu cơ; Hoá lý thuyết và Hoá lý)
  5. Kỹ thuật hoá học (Công nghệ điện hoá và bảo vệ kim loại)
  6. Cơ học kỹ thuật (Động lực học và độ bền máy)
  7. Cơ học kỹ thuật (Khí động học)
  8. Cơ khí động lực (Kỹ thuật máy bay và thiết bị bay)
  9. Lý thuyết điều khiển và điều khiển tối ưu
  10. Điều khiển các thiết bị bay
  11. Tự động hoá
  12. Kỹ thuật Điện tử
  13. Hệ thống Viễn thông
  14. Kỹ thuật Rada-dẫn đường

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Ban giám đốc[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Khoa học và Đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chủ tịch Hội đồng Khoa học: Đại tá, PGS-TS Nguyễn Minh Tuấn
  • Thư ký Hội đồng Khoa học: Đại tá, PGS-TS Trần Đức Thuận.

Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Mã số: ISSN- 1859-1043. Tổng biên tập: Đại tá, PGS-TS. Hồ Quang Quý.

Các phòng, ban chức năng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phòng chính trị:
  • Chủ nhiệm: Đại tá, KS. Trần Đức Long;
  • Phó chủ nhiệm: Thượng tá, Khổng Trọng Khoa.
  • Phòng Tham mưu - Kế hoạch:
  • Trưởng phòng: Đại tá TS Phan Tương Lai;
  • Phó trưởng phòng: Đại tá, TS Trần Minh Công.
  • Văn phòng:
  • Chánh văn phòng: Thượng tá ThS. Nguyễn Văn Hồng;
  • Phó Chánh văn phòng: khuyết.
  • Phòng Đào tạo:
  • Trưởng phòng: Thượng tá, TS Nguyễn Trang Minh
  • Phó phòng: Trung tá, TS. Bùi Ngọc Mỹ
  • Phòng Thông tin KHQS:
  • Trưởng phòng: Thượng tá, ThS Đỗ Văn Trưởng;
  • Phó phòng: Đại tá, Lê Nữ Huy Phương.
  • Phòng Kỹ thuật:
  • Chủ nhiệm: Đại tá Trần Duy Quân;
  • Phó chủ nhiệm: Thượng tá ThS. Lê Công Trình.
  • Phòng Tài chính:
  • Trưởng phòng: Thượng tá, Ths. Lê Quang Trung;
  • Phó phòng: Thiếu tá, Ths Lưu Việt Cường
  • Phòng Hậu cần:
  • Chủ nhiệm:
  • Phó chủ nhiệm: Đại tá Ngô Xuân Quyền.
  • Thanh tra quốc phòng:
  • Chánh thanh tra: Đại tá Trịnh Hữu Tấn.
  • Uỷ ban Kiểm tra:
  • Phó chủ nhiệm chuyên trách: Đại tá Trịnh Ngọc Hồng.

Các Viện, Trung tâm nghiên cứu và Công ty[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1. Viện Tên lửa: Phố Hoàng Sâm, Hà Nội
    • Viện trưởng: Đại tá, PGS, TS Nguyễn Văn Chúc;
    • Phó Viện trưởng: Đại tá, TS Đặng Hồng Triển;
    • Phó Viện trưởng: Đại tá, KS Dương Quốc Khánh;
    • Chính trị viên: Đại tá, TS Trịnh Hồng Anh.
  • 2. Viện Ra-đa: Phố Hoàng Sâm, Hà Nội
    • Viện trưởng: Đại tá, TS Trần Văn Hùng;
    • Phó Viện trưởng: 1. Đại tá, TS Lê Vĩnh Hà; 2. Thiếu tá, TS Vũ Tuấn Anh
  • 3. Viện Điện tử: Phố Hoàng Sâm, Hà Nội
    • Viện trưởng: Đại tá, TS Lê Kỳ Biên;
    • Phó Viện trưởng: Thượng tá, TS Lê Thanh Hải; Trung tá, Ths Vũ Lê Hà
  • 4. Viện Công nghệ thông tin (MITI): Phố Hoàng Sâm, Hà Nội
    • Viện trưởng: Đại tá, Ths Lê Quang Đức;
    • Chính trị viên: Đại tá, KS, Nguyễn Chí Đức.
    • Phó Viện trưởng: Đại tá, TS Nguyễn Mạnh Linh
    • Phó Viện trưởng: Đại tá, KS Bùi Ngọc Quang
  • 5. Viện Tự động hóa kỹ thuật quân sự (CAPIT): 89B, phố Lý Nam Đế, Hà Nội
    • Viện trưởng: Đại tá, TS Nguyễn Vũ.
    • Chính trị viên: Thượng tá, Vương Đức Thấn (nguyên Trưởng ban Tuyên huấn).
    • Phó viện trưởng: Thượng tá, ThS Nguyễn Trung Kiên.
  • 6. Viện Hóa học và Vật liệu: Phố Hoàng Sâm, Hà Nội
    • Viện trưởng: Đại tá, Tiến sĩ Ngô Hoàng Giang
    • Chính ủy: Thượng tá, ThS Dương Nhật Dân (nguyên Trưởng ban Cán bộ)
    • Phó Viện trưởng: Đại tá, PGS, TS Chu Chiến Hữu, Đại tá Tiến sĩ Lê Quang Tuấn
  • 7. Viện Vật lý Kỹ thuật:
Viện trưởng: Đại tá, TS Chu Xuân Quang.
Phó Viện trưởng: Thiếu tá, TS Nguyễn Thu Cầm
  • 8. Viện Công nghệ mới: Phố Hoàng Sâm, Hà Nội
    • Viện trưởng: Đại tá, TS Tô Văn Thiệp;
    • Phó Viện trưởng: Thiếu tá, TS Nguyễn Văn Hoàng
  • 9. Viện Vật lý- Y- Sinh học: Thành phố Hồ Chí Minh
Viện trưởng: Trung tá, Ks. Huỳnh Việt Dũng;
Phó viện trưởng: Thượng tá, CN. Nguyễn Ngọc Thuận.
  • 10. Viện Nhiệt đới- Môi trường (còn có tên Viện Kỹ thuật nhiệt đới và Bảo vệ môi trường): Thành phố Hồ Chí Minh
    • Viện trưởng: Đại tá, PGS, TS Trần Minh Chí
    • Phó Viện trưởng: Đại tá, PGS. TS Phùng Chí Sỹ.
  • 11. Trung tâm Công nghệ Cơ khí chính xác: Hoài Đức, Hà Nội
Giám đốc: Đại tá, ThS Bùi Đức Tiến;
  • 12. Công ty TECARPRO [3]: 18A Cộng Hoà - P.12 - Q Tân Bình - TP Hồ Chí Minh
    • Chủ tịch HDTV - Tổng Giám đốc: Đại tá Lê Việt
    • Bí thư Đảng ủy/Thành viên HĐTV - PTGĐ: Đại tá Nguyễn Mạnh Quân
  • 13. Công ty Điện tử - Tin học - Hóa chất [4](ELINCO)
Giám đốc: Đại tá, Đỗ Quang Tảo
  • 14. Công ty Phát triển phần mềm và Hỗ trợ công nghệ (MISOFT)[5]:11 Phan Huy Chú - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
Giám đốc: Đại tá Vũ Quốc Thành
  • 15. Tập đoàn Hà Đô[6]: số 8 Láng Hạ, Quận Ba Đình, Hà Nội.
    • Chủ tịch Hội đồng quản trị: Đại tá Nguyễn Trọng Thông
    • Tổng giám đốc: Đại tá Nguyễn Đức Toàn.
  • 16. Văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chánh văn phòng: Đại tá, TS Phan Thành Công.

Các nhà khoa học, nhà quản lý khoa học tiêu biểu và công trình nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Đại Nghĩa: Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, Giải thưởng Hồ Chí Minh, kỹ sư vũ khí, Giám đốc đầu tiên của Nha nghiên cứu Quân giới (1947-1951) (tiền thân của Viện Kỹ thuật Quân sự, Viện Vũ khí).
  • Nguyễn Trinh Tiếp: nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Quân giới (1951-1953), giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ.
  • Phạm Đồng Điện: nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Kỹ Thuật Quân giới (1951-1956), Giáo sư, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
  • Trần Sâm: Thượng tướng, Viện trưởng đầu tiên của Viện Kỹ thuật Quân sự (1960-1963), nguyên Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 4, Bộ trưởng Bộ Vật tư.
  • Hoàng Đình Phu: Đại tá, nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kĩ thuật Nhà nước, nguyên Viện trưởng Viện Kỹ thuật Quân sự (1963-1976), chủ trì và tham gia các đề tài về chế tạo bozoka, SKZ, ĐKZ... thời chống Pháp, các đề tài về phá bom từ trường, thủy lôi và phối hợp với các cơ sở nghiên cứu khác thời chống Mỹ. [7]
  • Phan Thu: Trung tướng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Giáo sư, Giải thưởng Hồ Chí Minh, tham gia và chủ trì các đề tài chống nhiễu và phá bom từ trường thời kháng chiến chống Mỹ
  • Trần Thức Vân: Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ, Giải thưởng Hồ Chí Minh, các đề tài về chống nhiễu
  • Trương Khánh Châu: Trung tướng, Phó Giáo sư, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Hàng không Nga, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, công trình chế tạo máy bay hạng nhẹ cho phi công tập nhảy dù.
  • Nguyễn Văn Đệ: Đại tá, Kỹ sư, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đề tài cải tiến dàn Tên lửa thời chống Mỹ, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ 3.
  • Quách Đăng Triều: Giáo sư, TSKH, Viện trưởng Viện Hóa học Việt Nam, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nguyên là nghiên cứu viên Viện Hóa học thuộc Viện Kỹ thuật Quân sự 1 [8],
  • Nguyễn Lãm: Đại tá, Giáo sư, Tiến sĩ, nguyên Giám đốc Trung tâm Toán - Máy tính.
  • Vũ Công Lập: Đại tá, TSKH, nguyên Giám đốc Trung tâm Vật lý Y Sinh học, Phó Viện trưởng Viện KTQS II, Người sáng lập, phát triển Ngành Vật lý Y Sinh học ở Việt Nam (Ngày thành lập 07/10/1989.
  • Nguyễn Quang A: Giáo sư, TSKH, Giám đốc Công ty 3C, nguyên Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam, nguyên là nghiên cứu viên Trung tâm Toán - Máy tính thuộc Viện Kỹ thuật Quân sự 1
  • Lê Mỹ Tú: Đại tá, Giáo sư.TSKH, nguyên Giám đốc Học viện Kỹ thuật Mật mã, nguyên là nghiên cứu viên Viện Kỹ thuật Quân sự 1 Hà Nội.
  • Nguyễn Đức Hùng: Giáo sư, TSKH hoá học, nguyên Viện trưởng Viện hoá học quân sự, Phó Viện trưởng Viện Kỹ thuật Quân sự
  • Cao Tiến Huỳnh: Giáo sư, TSKH Tự động hoá, nguyên Viện trưởng Viện Tự động hoá KTQS, giải thưởng Hồ Chí Minh.
  • Đỗ Ngọc Khuê: Giáo sư, TSKH hoá học, nguyên Phó Viện trưởng Viện Công nghệ mới.
  • Trần Hữu Phát: Giáo sư, TSKH vật lý, nguyên Viện trưởng Viện KH&KT Hạt nhân.
  • Trần Bá Chữ: Giáo sư, TSKH vật lý, nguyên Phân viện trưởng Phân Viện Vật lý kỹ thuật
  • Nguyễn Thiện Nhân: Giáo sư Kinh tế, Tiến sĩ Điều khiển học, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo, Phó Thủ tướng, nguyên nghiên cứu viên phòng Mô hình hóa - mô phỏng, Viện Tên lửa.
  • Hoàng Kim Giao: Liệt sĩ (hy sinh ngày 29-12-1967 tại xã Nam Hưng, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, giải thưởng Hồ Chí Minh, nguyên nghiên cứu viên.
  • Trần Việt Thanh: Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nguyên trợ lý kỹ thuật B20-Viện Kỹ thuật Quân sự.
  • Nguyễn Thanh Hòa: Thứ trưởng thường trực Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam, nguyên trợ lý kỹ thuật B20-Viện Kỹ thuật Quân sự.
  • Cao Ngọc Xuyên: Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách Quốc hội khóa XII, nguyên trợ lý kế hoạch, Phòng Kế hoạch (B1) Viện Kỹ thuật Quân Sự
  • Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương, nguyên Trưởng phòng nghiên cứu Trung tâm Toán máy tính (B19)Viện Kỹ thuật quân sự

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]