Quân chủng Phòng không-Không quân (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quân chủng Phòng không-Không quân Quân đội Nhân dân Việt Nam
Quân kỳ Quân đội Nhân dân Việt Nam

Quân kỳ của Quân chủng Phòng không-Không quân Nhân dân Việt Nam
Hoạt động 22/10/1963 -
Quốc gia Việt Nam
Quy mô 30.000 người
551 máy bay đang hoạt động
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Chiến tranh biên giới Tây Nam
Chiến tranh biên giới phía Bắc
Các tư lệnh
Tư lệnh Phương Minh Hòa
Chính ủy Nguyễn Văn Thanh
Huy hiệu
Dấu tròn Roundel of the Vietnamese Air Force.svg
Phù hiệu Vietnam People's Air Force insignia.png
Huy hiệu Air Force wings.jpg
Phi cơ sử dụng
Cường kích Su-22
Tiêm kích Su-30, Su-27, MiG-21
Tuần tra Ka-27, Ka-25
Do thám M-400, An-30
Huấn luyện Yak-52, L-39
Vận tải An-38, M-28, An-24, UH-1, Mi-8, Mi-17

Quân chủng Phòng không-Không quân là một trong ba quân chủng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trực thuộc Bộ Quốc phòng, có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ vùng trời trên lãnh thổ Việt Nam.

Lược sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Sự ra đời của đơn vị pháo phòng không đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến tận năm 1950, dù phần nào có những lực lượng mạnh để thực hiện tiến công chiến lược, các đơn vị của Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn gần như bất lực trước các hoạt động trinh sát hoặc tấn công từ trên không của người Pháp. Ngày 9 tháng 3 năm 1949, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra quyết định thành lập Ban Nghiên cứu Không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu để nghiên cứu các phương pháp chống trả.

Chỉ đến khi sau Chiến dịch Biên giới thu đông 1950, Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu có được những viện trợ quý giá từ chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó có những khẩu đội súng phòng không 12,7mm. Lực lượng Không quân Pháp sau những bất ngờ đầu tiên, vẫn duy trì được ưu thế. Tuy nhiên, không lâu sau, tháng 5 năm 1951, người Việt đã cho thành lập Đại đội 612, đơn vị phòng không đầu tiên sử dụng 4 khẩu 37mm. Ban Nghiên cứu Không quân được giải thể và hầu hết cán bộ của Ban được chuyển thuộc vào đơn vị phòng không đang được thành lập. Đến đầu năm 1953, họ đã có 8 tiểu đoàn phòng không, với 500 súng máy phòng không 12,7mm và 4 pháo cao xạ 37mm.

Ngày 1 tháng 4 năm 1953, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhân danh Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã ký quyết định số 06/QĐ thành lập Trung đoàn Pháo cao xạ 367[1]. Đây là Trung đoàn pháo Cao xạ chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ban chỉ huy Trung đoàn đầu tiên gồm Lê Văn Tri – Trung đoàn trưởng, Nguyễn Quang Bích - Trung đoàn phó, Đoàn Phụng - Chính ủy, Ngô Từ Vân - Phó chính ủy. Ngày 1 tháng 4 cũng trở thành ngày truyền thống của lực lượng phòng không Việt Nam.

Sau 8 tháng huấn luyện tại Trung Quốc, ngày 1 tháng 12 năm 1953, toàn bộ đội hình Trung đoàn cùng khí tài đã về nước và tập kết ở tây bắc thị xã Tuyên Quang. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung đoàn 367 trong đội hình Đại đoàn Công Pháo 351 đã góp phần không nhỏ vào việc hạn chế sự tấn công từ trên không cũng như việc tiếp tế - chuyển quân của người Pháp.

Hình thành Bộ Tư lệnh phòng không và Cục Không quân[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại đoàn Công pháo 351 được giải thể. Bộ Tổng tư lệnh ra Nghị định số 34/NĐA nâng cấp Trung đoàn Phòng không 367 lên thành Đại đoàn pháo cao xạ hỗn hợp 367 trực thuộc Bộ chỉ huy Pháo binh vào ngày 21 tháng 9 năm 1954. Hoàng Kiện làm Đại đoàn trưởng, Đoàn Phụng làm Chính ủy, Lê Văn Tri làm Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng. Đại đoàn được biên chế các cơ quan tham mưu, chính trị, cung cấp và ba trung đoàn 681, 685, 689, trang bị pháo 88mm và 40mm. Theo quyết định của Bộ Tổng tham mưu, để giữ bí mật lực lượng, các trung đoàn 681, 685, 689 được gọi là các tiểu đoàn 12, 13, 14[2]. Sau khi được tổ chức và huấn luyện ở Vai Cầy, Thái Nguyên, đêm ngày 16 tháng 12 năm 1955, Đại đoàn 367 hành quân về tiếp quản Hà Nội.

Bên cạnh đó, ngày 3 tháng 3 năm 1955, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 15/QĐA thành lập Ban nghiên cứu Sân bay trực thuộc Tổng Tham mưu trưởng. Ngày này về sau được lấy làm ngày thành lập Không quân Nhân dân Việt Nam. Một năm sau đó, liên tục các đoàn cán bộ, chiến sĩ thuộc Ban nghiên cứu sân bay được cử đi nước ngoài học tập. Ngày 26 tháng 1 năm 1956, Việt Nam tiếp nhận 5 máy bay đầu tiên do Trung Quốc viện trợ gồm 2 Li-2 và 3 Aero 45. Ngày 24 tháng 2 năm 1956, 2 đoàn học viên lái máy bay gồm Đoàn học máy bay tiêm kích MiG-17, gồm 50 học viên, do Phạm Dưng làm Đoàn trưởng và Đoàn học máy bay ném bom Tu-2, gồm 30 học viên, do Đào Đình Luyện làm Đoàn trưởng, học tại Trường Không quân số 2 ở Trường Xuân, Trung Quốc[3]. Trong Đoàn học Tu-2 có sáu học viên dẫn đường trên không (chuyên dẫn đường trên các loại máy bay và trực thăng) đầu tiên là: Đinh Huy Cận, Lê Thế Hưng, Nguyễn Văn Kính, Lê Liên, Lương Nhật Nguyễn và Nguyễn Cảnh Phiên.

Ngày 21 tháng 3 năm 1958, Trung đoàn ra đa cảnh giới đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được thành lập với tên gọi Trung đoàn đối không cần vụ 260[4]. Cùng ngày hôm đó, Bộ Quốc phòng cũng ra Nghị định 047/NĐ thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không trên cơ sở của Sư đoàn Phòng không 367 và Trung đoàn đối không cần vụ. Trong những năm sau đó, các trung đoàn pháo phòng không được thành lập, trang bị các loại pháo 57 mm và 100 mm. Bên cạnh đó, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ được đi học sử dụng vũ khí tên lửa phòng không tại các trung tâm huấn luyện quân sự của Liên XôLeningrad, Kiev, Odessa, Minsk... để chuẩn bị cho việc hình thành các đơn vị tên lửa phòng không sau này.

Ngày 24 tháng 1 năm 1959, Bộ Quốc phòng ra nghị định thành lập Cục Không quân trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu trên cơ sở hợp nhất các tổ chức và lực lượng của Ban Nghiên cứu sân bay và Cục Hàng không dân dụng Việt Nam. Đại tá Đặng Tính được bổ nhiệm làm Cục trưởng, Thượng tá Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy, Trung tá Hoàng Ngọc Diêu làm Tham mưu trưởng.

Sau một năm huấn luyện, ngày 1 tháng 3 năm 1959, Trung đoàn đối không cần vụ 260 bắt đầu phát sóng. Ngày này về sau được lấy làm ngày truyền thống của Bộ đội Ra-da.

Ngày 22 tháng 4 năm 1959, Cục Không quân ra quyết định thành lập Đại đội bay gồm: Ban chỉ huy đại đội, 3 Chủ nhiệm Dẫn đường, Thông tin và Máy (kỹ thuật hàng không); 1 trung đội bay Il-14, 1 trung đội bay Li-2, 1 trung đội bay An-2 và 1 trung đội máy gồm tất cả nhân viên kỹ thuật trên không (cơ giới) và mặt đất của các loại máy bay.

Ngày 1 tháng 5 năm 1959, Trung đoàn không quân vận tải đầu tiên, Trung đoàn 919, được thành lập. Đến ngày 20 tháng 8, Trung đoàn Huấn luyện không quân 910 cũng được thành lập.[5]

Ngày 1 tháng 5 năm 1960, 6 sĩ quan[6] và một chiến sĩ Lê Thành Chơn được triệu tập về Trường Văn hóa quân đội ở Lạng Sơn để ôn văn hóa và học tiếng Trung Quốc, chuẩn bị để đào tạo sĩ quan dẫn đường (hoa tiêu) trong lực lượng không quân. Cuối năm 1961, toàn bộ các học viên dẫn đường tốt nghiệp và về nước.

Ngày 30 tháng 5 năm 1963, Trung đoàn không quân tiêm kích 921, mật danh là Đoàn Sao Đỏ, được thành lập tại Trung Quốc, do Trung tá Đào Đình Luyện làm Trung đoàn trưởng, Thiếu tá Đỗ Long làm Chính ủy, Thiếu tá Trần Mạnh làm Trung đoàn phó, Thiếu tá Trần Văn Thọ làm Tham mưu trưởng[7].

Ngày 10 tháng 7 năm 1963, một đơn vị đặc biệt mang phiên hiệu Trung đoàn 228B (trùng tên với trung đoàn cao xạ 228 để giữ bí mật) được thành lập. Về thực chất đây là đơn vị các cán bộ nòng cốt để xây dựng Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên.

Thành lập Quân chủng[sửa | sửa mã nguồn]

Quân chủng Phòng không-Không quân Việt Nam được thành lập ngày 22 tháng 10 năm 1963 trên cơ sở sáp nhập Bộ Tư lệnh Phòng không và Cục Không quân.

Ngày 7 tháng 1 năm 1965, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 03/QĐ-QP thành lập Trung đoàn cao xạ 236 ("Đoàn Sông Đà"). Thực chất, đây là trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên thuộc Bộ tư lệnh Phòng không - Không quân. Các cán bộ của trung đoàn đều từ đoàn 228B chuyển sang.

Ngày 6 tháng 8 năm 1964, trung đoàn tiêm kích 921 trở về nước. sau 1 năm huấn luyện, ngày 3 tháng 4 năm 1965, trung đoàn xuất kích đánh thắng trận đầu, bắn rơi 2 máy bay F-8 của Hải quân Mỹ. Ngày hôm sau, tiếp tục bắn hạ thêm 2 máy bay F-105 của Không quân Mỹ.

Ngày 22 tháng 4 năm 1965, lập Trung đoàn tên lửa 238 ("Đoàn Hạ Long") được thành lập. Ngày 19 tháng 5 năm 1965, thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội (từ tháng 3 năm 1967 đổi là Sư đoàn phòng không 361) và Bộ Tư lệnh Phòng không Hải Phòng (từ tháng 3 năm 1967 đổi là Sư đoàn phòng không 363).

Ngày 4 tháng 8 năm 1965, Trung đoàn không quân tiêm kích thứ 2 là Trung đoàn 923, mật danh Đoàn Yên Thế, được thành lập, gồm 2 đại đội 17 phi công MiG-17, do Trung tá Nguyễn Phúc Trạch làm Trung đoàn trưởng, Trung tá Nguyễn Ngọc Phiếu làm Chính ủy. Không quân Việt Nam được trang bị thêm một số máy bay MiG-17F có bộ phận tăng lực.

Ngày 13 tháng 11 năm 1965, thành lập Trung đoàn tên lửa 257 ("Đoàn Cờ Đỏ"). Nay thuộc Sư đoàn phòng không 361.

Ngày 20 tháng 4 năm 1966, thành lập Trung đoàn ra đa 293, thuộc sư đoàn phòng không 361.

Ngày 30 tháng 5 năm 1966, thành lập 3 trung đoàn tên lửa phòng không 261 ("Đoàn Thành Loa"), 263, 267, thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng. Nay thuộc Sư đoàn phòng không 367.

Ngày 15 tháng 6 năm 1966, thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không Quân khu 4.

Ngày 21 tháng 6 năm 1966, thành lập Sư đoàn phòng không 367. Tiền thân là trung đoàn pháo cao xạ 367, thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1953, chuyển thành Đại đoàn pháo cao xạ 367 ngày 21 tháng 9 năm 1954, trước đây thuộc Bộ Tư lệnh Pháo binh, sau này tách ra đặt dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Phòng không (1958).

Ngày 23 tháng 6 năm 1966, thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Bắc, đến 16 tháng 3 năm 1967 đổi tên thành Sư đoàn phòng không 365.

Ngày 23 tháng 3 năm 1967, thành lập các Binh chủng Ra-đa, Tên lửa Phòng không và Không quân.

Mig-21 trên đường bay

Ngày 24 tháng 3 năm 1967, Sư đoàn không quân Thăng Long (phiên hiệu là Sư đoàn 371) tức Bộ tư lệnh không quân được thành lập, gồm các trung đoàn 921, 923, 919 và đoàn bay Z. Đây là Sư đoàn Không quân đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 1 năm 1968, thành lập Sư đoàn phòng không 375 thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 4.

Ngày 27 tháng 5 năm 1968, thành lập Sư đoàn phòng không 377.

Tháng 3 năm 1972, thành lập Trung đoàn không quân thứ 3, Trung đoàn 927 ("Đoàn Lam Sơn").

Ngày 29 tháng 3 năm 1973, thành lập Sư đoàn phòng không 673 tại Trị-Thiên.

Tách - nhập Quân chủng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian từ 16 tháng 5 năm 1977 đến 3 tháng 3 năm 1999, Quân chủng Phòng không-Không quân tách ra thành hai Quân chủng Phòng không và Không quân riêng biệt. Việc chia tách này phần nào áp đặt theo mô hình tổ chức của Liên Xô, vốn có lãnh thổ rộng lớn và tiềm lực quân sự mạnh, không phù hợp với đặc thù Việt Nam, có lãnh thổ nhỏ hẹp và tiềm lực quân sự yếu. Chính vì vậy, sau khi Liên Xô tan rã, mô hình 2 quân chủng cũng không còn phù hợp, cần tinh giản và gọn nhẹ trong bộ máy quản lý. Từ tháng 3 năm 1999, lại sáp nhập lại thành Quân chủng Phòng không - Không quân.

Lãnh đạo Quân chủng Phòng không Không quân[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Văn phòng
  • Thanh tra
  • UBKT Đảng
  • Phòng Tài chính
  • Phòng Khoa học Quân sự
  • Phòng Thông tin KHQS
  • Phòng Điều tra hình sự
  • Phòng Cứu hộ cứu nạn
  • Phòng Kinh tế
  • BỘ THAM MƯU
  • CỤC CHÍNH TRỊ
  • CỤC HẬU CẦN
  • CỤC KỸ THUẬT
  • Cục Phòng không Lục quân

Các nhánh trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Quân chủng Phòng không-Không quân Việt Nam về cơ bản phân chia 2 hai lực lượng chính là Phòng không và Không quân. Mỗi lực lượng chính có những nhánh chuyên môn kỹ thuật bao gồm:

Phòng không có các nhánh:

  • Lực lượng Tên lửa Phòng không: được thành lập ngày 24 tháng 3 năm 1967. Ngày truyền thống: 24 tháng 7 năm 1965 (ngày ra quân bắn rơi một tốp 3 chiếc máy bay F-4C của Mỹ).
  • Lực lượng Pháo Phòng không: lễ kỷ niệm 1 tháng 4 năm 1953, ngày thành lập Trung đoàn 367, trung đoàn pháo Cao xạ chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
  • Lực lượng Ra-đa Phòng không: lễ kỷ niệm 21 tháng 3 năm 1958, ngày thành lập Trung đoàn đối không cần vụ 260, Trung đoàn ra đa cảnh giới đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngày truyền thống: 1 tháng 3 năm 1959 (ngày phát sóng ra đa lần đầu tiên)

Các đơn vị chủ lực:

    • Sư đoàn Phòng không 361 (Đoàn phòng không Hà Nội): thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1965
    • Sư đoàn Phòng không 363 (Đoàn phòng không Hải Phòng): thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1965
    • Sư đoàn Phòng không 365 (Đoàn phòng không Bắc Thái): thành lập ngày 23 tháng 6 năm 1966
    • Sư đoàn Phòng không 367 (Đoàn phòng không thành phố Hồ Chí Minh): thành lập ngày 21 tháng 9 năm 1954.
    • Sư đoàn Phòng không 375 (Đoàn phòng không Đà Nẵng): thành lập ngày 07 tháng 02 năm 1968
    • Sư đoàn Phòng không 377 (Đoàn phòng không Khánh Hòa): thành lập ngày 27 tháng 5 năm 1968.

Không quân có các nhánh:

  • Lực lượng Không quân Tiêm kích: lễ kỷ niệm 30 tháng 5 năm 1963, ngày thành lập Trung đoàn không quân tiêm kích 921, Trung đoàn tiêm kích đầu tiên.
  • Lực lượng Không quân Tiêm kích-bom
  • Lực lượng Không quân vận tải: lễ kỷ niệm: ngày 1 tháng 5 năm 1959, ngày thành lập Trung đoàn 919, Trung đoàn không quân vận tải đầu tiên.
  • Lực lượng Không quân trinh sát
  • Lực lượng Nhảy dù

Các đơn vị chủ lực:

Đơn vị cơ sở trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh đạo qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Quân chủng Phòng không (1958-1963)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tư lệnh
STT Họ tên Thời gian tại chức Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Hoàng Kiện 11/1958-12/1962
2 Phùng Thế Tài 12/1962-10/1963
  • Chính ủy
STT Họ tên Thời gian tại chức Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Đoàn Phụng 1958-1963

Quân chủng Phòng không - Không quân (1963-1977)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tư lệnh
STT Họ tên Thời gian tại chức Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Phùng Thế Tài 1963-1967 Thượng tá 1958, Đại tá 1967 Thượng tướng (1986), Phó Tổng tham mưu trưởng Huân chương Hồ Chí Minh
2 Đặng Tính 1967-1969 Đại tá 1958 Chính ủy Đoàn 559 kiêm Chính ủy Quân chủng
3 Lê Văn Tri 1969-1977 Thiếu tướng 1974 Trung tướng (1982), Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Huân chương Độc lập hạng Nhất
  • Chính ủy
STT Họ tên Thời gian tại chức Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Đặng Tính 1963-1971 Đại tá 1958 Chính ủy Đoàn 559 kiêm Tư lệnh Quân chủng (1967-1969)
2 Hoàng Phương 1971-1977 Thiếu tướng 1974 Trung tướng (1982), Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Huân chương Quân công hạng Nhất

1977-1999[sửa | sửa mã nguồn]

Quân chủng Không quân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tư lệnh
STT Họ tên Thời gian tại chức Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Đào Đình Luyện 1977-1986 Thiếu tướng 1977, Trung tướng 1983 Thượng tướng (1988), Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam Kiêm Chính ủy Quân chủng (1977-1980)
2 Trần Hanh 1986-1989 Thiếu tướng 1984 Trung tướng (1989), Chủ tịch Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1967)
3 Phạm Thanh Ngân 1989-1996 Thiếu tướng 1988, Trung tướng 1992 Thượng tướng (1999), Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1969)
4 Nguyễn Văn Cốc 1996-1997 Thiếu tướng 1990 Trung tướng (1999), Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng Quyền Tư lệnh, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1969)
5 Nguyễn Đức Soát 1997-1999 Thiếu tướng 1994 Trung tướng (1999), Phó Tổng Tham mưu trưởng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1973)
  • Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân chủng, Phó tư lệnh Chính trị
STT Họ tên Thời gian tại chức Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Đào Đình Luyện 1977-1980 Thiếu tướng 1977 Thượng tướng (1988), Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam Kiêm Tư lệnh Quân chủng
2 Chu Duy Kính 1980-1987 Đại tá 1974, Thiếu tướng 1984 Trung tướng (1989), Tư lệnh Quân khu Thủ đô Huân chương Độc lập hạng Nhất
3 Phạm Thanh Ngân 1987-1989 Thiếu tướng 1988 Thượng tướng (1999), Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1969)
4 Phạm Tuân 1989-1996 Thiếu tướng 1989 Trung tướng (1999), Tổng cục trưởng Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Huân chương Hồ Chí Minh, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1973)
5 Hán Vĩnh Tưởng 1996-1999 Thiếu tướng 1994 Trung tướng (2002), Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân Huân chương Quân công hạng Ba

Quân chủng Phòng không[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tư lệnh
STT Họ tên Thời gian tại chức Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Hoàng Văn Khánh 1977-1983 Thiếu tướng 1979 Trung tướng (1986) Huân chương Độc lập hạng Nhì
2 Trần Nhẫn 1983-1995 Thiếu tướng 1983, Trung tướng 1989 Huân chương Quân công hạng Nhì
3 Ngô Huynh 1995-1999[8] Thiếu tướng 1990 Huân chương Quân công hạng Ba
  • Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân chủng, Phó tư lệnh Chính trị
STT Họ tên Thời gian tại chức Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Nguyễn Xuân Mậu 1977-1980 Thiếu tướng 1979 Trung tướng (1986), Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Quân ủy Trung ương Huân chương Độc lập hạng Nhất
2 Đinh Phúc Hải 1980-1989 Thiếu tướng Huân chương Quân công hạng Nhì
3 Vũ Trọng Cảnh 1985-1992 Thiếu tướng 1984, Trung tướng 1990 Huân chương Quân công hạng Nhì
4 Nguyễn Văn Phiệt 1992-1999 Thiếu tướng 1990, Trung tướng 1999 Phó tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1973)

1999-nay: Quân chủng Phòng Không - Không Quân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tư lệnh
STT Họ tên Thời gian tại chức Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Nguyễn Đức Soát 1999-2002 Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1973)
2 Nguyễn Văn Thân 2002-2006 Trung tướng
3 Lê Hữu Đức 2006-2010 Thiếu tướng, Trung tướng (2008), Thượng tướng (2011) Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đương nhiệm
4 Phương Minh Hòa 2011-nay Trung tướng 2008
  • Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân chủng, Phó tư lệnh Chính trị
STT Họ tên Thời gian tại chức Cấp bậc tại nhiệm Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Nguyễn Văn Phiệt 1999-2001 Trung tướng 1999 Phó tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1973)
2 Hán Vĩnh Tưởng 2001-2004 Thiếu tướng 1994, Trung tướng 2002 Phó Tư lệnh Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân Huân chương Quân công hạng Ba
3 Nguyễn Mạnh Hải 2004-2005 Thiếu tướng Bí thư Đảng ủy Quân chủng Huân chương Quân công hạng Ba
4 Phương Minh Hòa 2005-2011 Thiếu tướng 2004, Trung tướng 2008 Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân
5 Nguyễn Văn Thanh 2011-nay Thiếu tướng 2009 Trung tướng 2012 Chính ủy Quân chủng Phòng không - Không quân

Phong tặng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Công nghệ cho Đề tài Chống nhiễu của máy bay Mỹ.
  • Anh hùng Lực lượng Vũ trang năm 2010.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trung đoàn có 6 Tiểu đoàn pháo Cao xạ 37mm, nên được lấy phiên hiệu là 367.
  2. ^ Đến năm 1958, trung đoàn 681 đổi tên thành trung đoàn 220, trung đoàn 685 đổi tên thành trung đoàn 250, trung đoàn 689 đổi thành trung đoàn 240.
  3. ^ Về sau, Đào Đình Luyện chuyển sang làm Đoàn trưởng Đoàn học máy bay MiG-17 và Phạm Dưng làm Đoàn trưởng Đoàn học máy bay Tu-2
  4. ^ Đến tháng 9 năm 1960, Trung đoàn đổi phiên hiệu thành Trung đoàn ra đa tình báo 300, từ tháng 5 năm 1961 mang tên Trung đoàn ra đa 291 (còn gọi là "Đoàn Ba Bể"). Nay thuộc Sư đoàn phòng không 365.
  5. ^ Tuy Trung đoàn 919 tổ chức lễ thành lập ngày 1 tháng 5 nhưng tới ngày 30 tháng 9 năm 1959, Bộ Quốc phòng mới chính thức ra nghị định số 429/NĐ thành lập cả Trung đoàn 919 và 910.
  6. ^ Gồm Nguyễn Văn Chuyên, Trần Quang Kính, Bùi Quang Liên, Đào Ngọc Ngư, Trần Hán Thức và Trần Kim Tuấn.
  7. ^ Theo Quyết định số 18/QĐ, thay mặt Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Trung tướng Hoàng Văn Thái, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng ký. Tuy nhiên, mãi đến ngày 6 tháng 8 năm 1964, trung đoàn mới trở về nước.
  8. ^ Qua đời ngày 10 tháng 2 năm 1999 khi đang tại nhiệm.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]