Nguyễn Văn Cốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Văn Cốc trên máy bay

Nguyễn Văn Cốc (1942-) là một phi công Việt Nam nổi tiếng với thành tích kỷ lục bắn hạ 11 máy bay Mỹ (bao gồm 2 máy bay không người lái trinh sát) trên bầu trời Bắc Việt Nam. Ông trở thành một Trung tướng của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Anh hùng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Cuộc đời và chiến công[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh tháng 12 năm 1942[1], quê tại xã Bích Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Thân sinh của ông là Nguyễn Văn Bảy, Chủ tịch Mặt trận Việt Minh huyện Việt Yên, Bắc Giang, bị quân Pháp giết chết vào năm 1947.

Năm 1961, khi đang học lớp 8, trường Ngô Sĩ Liên tại thị xã Bắc Giang, ông trúng tuyển kỳ thi chọn đào tạo phi công. Ông nhập ngũ và được đưa đi huấn luyện tại Trường dự khóa bay ở sân bay Cát Bi (Hải Phòng)[2]. Tháng 8 năm 1962, ông cùng đoàn huấn luyện phi công 120 người sang đào tạo tại Trường Không quân ở Liên Xô.

Tháng 11 năm 1964, ông là một trong 17 phi công MiG-17 trong tổng số 23 phi công tốt nghiệp khóa đào tạo[3]. Sau khi về nước, ông được phiên chế về Đại đội 1, Trung đoàn 921 (Đoàn Không quân Sao Đỏ). Nhưng không lâu sau, lại được chọn để đi học chuyển loại máy bay MiG-21 ở Liên Xô một năm. Ông được kết nạp Đảng Lao động Việt Nam năm 1966, khi đang học tại Liên Xô. Ông trở lại về đoàn Sao Đỏ vào đầu năm 1967.

Trong đội hình biên đội MiG-21 hai chiếc, ông được phân công ở vị trí số 2 với mục đích bảo vệ cho số 1 tiêu diệt đối phương. Ngày 30 tháng 4 năm 1967, ông xuất kích trong biên đội do phi công Nguyễn Ngọc Độ (cũng là một ace của Việt Nam) làm biên đội trưởng. Trận không chiến diễn ra với các máy bay F-105 Thunderchief trên bầu trời Hòa Bình, Sơn La. Gặp thời cơ thuận lợi, sau khi biên đội trưởng bắn hạ một F-105, ông cũng chớp thời cơ bắn hạ thêm một chiếc F-105 nữa. Cả hai chiếc MiG đều về an toàn. Đây là chiếc máy bay đầu tiên ông bắn hạ, mở đầu cho thành tích của người phi công trong các cuộc không chiến trên bầu trời Bắc Việt Nam.

Theo nguyên tắc chiến thuật phi đội hai chiếc của MiG-21, số 2 chỉ có nhiệm vụ yểm trợ, quan sát đối phương giúp cho số 1 vào công kích. Nguyễn Văn Cốc cải tiến chiến thuật, cùng tham gia tiêu diệt máy bay đối phương, do đó, hiệu suất phi đội tăng lên. Trước kia do chỉ có số 1 công kích, tối đa phi đội chỉ bắn hạ được 2 máy bay đối phương (vì MiG-21 chỉ mang được 2 tên lửa). Theo chiến thuật cải tiến, phi đội của ông cao điểm có thể bắn hạ được 3 máy bay đối phương. Để đạt được điều này, số 2 phải phán đoán và hành động chớp thời cơ rất nhanh. Do chiến thuật cải tiến này, ông được đồng đội đặt cho biệt danh là Chim cắt số 2.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi phi công Nguyễn Văn Cốc tại Đại hội Anh hùng-chiến sĩ thi đua Quân chủng Phòng không-Không quân năm 1969

Với chiến thuật cải tiến, chỉ riêng trong năm 1967, ông đã bắn rơi 6 máy bay đối phương. Trong tổng số 9 chiếc, có 6 chiếc ông bắn hạ ở vị trí số 2. Từ đó, chiến thuật cải tiến được đưa vào huấn luyện và đem lại hiệu quả tốt giúp không quân Việt Nam nâng cao hiệu suất trong một thời gian, khiến cho các phi công Mỹ cũng phải khâm phục.

Ngày 18 tháng 6 năm 1969, ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Việt Nam, với thành tích bắn hạ 9 máy bay Mỹ chỉ trong 2 năm. Trên chiếc MiG-21 PF, số máy bay ông bắn hạ được phía Việt Nam công bố gồm 9 chiếc, trong đó có 2 F-4, 5 F-105 và 2 máy bay trinh sát không người lái. Phía Mỹ cũng thừa nhận số máy bay bị ông bắn hạ gồm 7 chiếc, trong đó có 2 F-4D, 1 F-4B, 2 F-105F, 1 F-105D và 1 F-102A. Trong toàn bộ các cuộc không chiến trên bầu trời Bắc Việt Nam, ông có số bắn hạ máy bay cao nhất của cả Việt Nam và Mỹ. Ngoài ra, ông còn hỗ trợ đồng đội bắn hạ thêm 9 máy bay nữa. Khi đó, ông mới vừa 27 tuổi, hàm Đại úy Không quân.

Ông từng phải nhảy dù hai lần. Một lần vào ngày 2 tháng 1 năm 1967, trong chiến dịch Bolo, ông bị bắn rơi khi vừa cất cánh do thiếu kinh nghiệm và chưa kịp phản ứng trước đối phương (trong trận này, phía Việt Nam bị bắn hạ 6/8 MiG-21 khi chưa kịp phát hiện đối phương. Cả 6 phi công kịp thời nhảy dù an toàn. Phía Mỹ không mất một chiếc nào). Một lần khác ông phải bắt buộc nhảy dù sau khi máy bay hết dầu lúc không chiến.

Sau năm 1969, ông được yêu cầu không tham gia chiến đấu nữa mà chuyển sang huấn luyện cho các phi công mới. Điều này cũng phù hợp với ý đồ giữ gìn các phi công xuất sắc (flying ace) của không quân Việt Nam thời bấy giờ (phi công MiG-17 Nguyễn Văn Bảy, còn gọi là Bảy A, cũng được rút ra trong đợt này).

Làm lãnh đạo trong Quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi rút ra khỏi đơn vị chiến đấu, ông công tác trong Binh chủng Không quân. Tháng 8 năm 1970, ông là Đại đội phó Đại đội 1, Trung đoàn Không quân 921. Tháng 9 năm 1972, ông được cử đi học sĩ quan chỉ huy không quân tại Học viện Không quân Gagarin (Liên Xô). Mãi sau 1976, ông mới về nước và tiếp tục công tác trong Quân chủng Không quân vừa được thành lập. Tháng 10 năm 1977, ông được cử làm Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371, Quân chủng Không quân. Tháng 3 năm 1978, ông được thăng làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 921. Tháng 8 năm 1979, ông là Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 371.

Tháng 8 năm 1981, ông được chuyển làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370. Một năm sau, tháng 8 năm 1982, ông được chuyển về lại Sư đoàn Không quân 371 với chức vụ Sư đoàn trưởng. Tháng 5 năm 1988, ông được thăng làm Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, đến tháng 8 năm 1990, là Phó tư lệnh Quân chủng Không quân, hàm Thiếu tướng. Tháng 6 năm 1996, ông giữ chức quyền Tư lệnh Quân chủng Không quân.

Tháng 12 năm 1997, ông được điều sang làm Phó Tổng Thanh tra Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ tháng 10 năm 1998 đến năm 2002, Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng, hàm Trung tướng (từ 1999).

Năm 2003, ông nghỉ hưu. Năm 2004, ông bị chấn thương cột sống do bị ngã cầu thang.

Tuyên dương[sửa | sửa mã nguồn]

Ông được nhà nước Việt Nam tuyên dương:

  • Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam
  • 1 Huân chương Quân công hạng ba
  • 2 Huân chương Chiến công hạng nhì
  • 5 Huân chương Chiến công hạng ba
  • Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng ba.
  • Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba.
  • Huy chương Quân kỳ quyết thắng.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1966, ông làm quen với bà Đới Thu Hương, người Thanh Hóa, diễn viên của Đoàn văn công Quân chủng Phòng không - Không quân. Tuy nhiên, mãi đến năm 1974, ông bà mới làm đám cưới. Trước nghỉ hưu, bà là Thượng tá, Giám đốc Thư viện Quân chủng Phòng không không quân. Ông bà có với nhau 2 người con. 1 con trai và một con gái

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]