Nguyễn Văn Bảy (A)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Văn Bảy
Tiểu sử
Biệt danh Bảy A
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh

1936

Lai Vung, Đồng Tháp
Binh nghiệp
Thuộc Roundel of the Vietnamese Air Force.svg Không quân Nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1954-1990
Cấp bậc DaitaQDND.gif Đại tá
Tham chiến Kháng chiến chống Pháp
Kháng chiến chống Mỹ
Khen thưởng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Huân chương Hồ Chí Minh
Huân chương Chiến công hạng Nhì
Huân chương Chiến công hạng Ba.

Nguyễn Văn Bảy (born 1936), còn gọi Bảy AĐại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, phi công không quân nhân dân Việt Nam. Ông là một trong mười sáu phi công Việt Nam đạt cấp "Ách" trong kháng chiến chống Mỹ.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Văn Bảy tên thật là Nguyễn Văn Hoa là con thứ bảy trong gia đình. Do người Nam Bộ hay gọi theo thứ tự nên dần cái tên Nguyễn Văn Bảy thành tên chính.[1]

Khoảng năm 1953, do không chịu lấy vợ theo ý gia đình, Nguyễn Văn Bảy bỏ trốn vào bộ đội. Năm 1954, ông theo các đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam tập kết ra miền Bắc.[1]

Năm 1960, Nguyễn Văn Bảy được chuyển binh chủng từ bộ binh sang không quân, theo học lớp lái máy bay phản lực ở Liên Xô. Trước đó, ông học chưa hết lớp 3, phải học ở Trường bổ túc văn hóa Lạng Sơn và được phổ cập một lèo từ lớp 4 lên lớp 10. Ban đầu Nguyễn Văn Bảy học lái máy bay Yak-52, sau đó chuyển dần lên Mig-15, Mig-17.

Tháng 4 năm 1965, lớp đào tạo hoàn thành tốt nghiệp trở về nước, đáp máy bay xuống sân bay Gia Lâm.[2]

Trong thời gian 1965-1968, ông tham chiến trên mặt trận không đối không và bắn hạ tổng cộng bảy máy bay Mỹ gồm hai chiếc F-105 và năm chiếc F-4, được xếp hạng "Ách".

Tháng 4 năm 1966, ông tổ chức đám cưới với bà Trần Thị Niên là đồng hương, học sinh miền Nam tập kết ở sân bay Cát Bi. Sau đám cưới 45 phút thì chú rể lại lên máy bay xuất kích.[3]

Ngày 1 tháng 1 năm 1967, Nguyễn Văn Bảy được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Khi đó, ông mới là Thượng úy, Đại đội phó Đại đội 1 không quân, thuộc Trung đoàn 923, Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân, Đảng viên Đảng Lao động Việt Nam.[2]

Thời gian sau đó, ông dần được thăng lên hàm Đại tá và giữ nhiều chức vụ trong Quân chủng như Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 937, Phó Tư lệnh Sư đoàn 372, Phó tham mưu trưởng Quân chủng Không quân.[1]

Năm 1975, ông tiếp quản sân bay Cần Thơ và tham gia điều hành các sân bay khác ở miền Nam như Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Cần Thơ và chỉ huy làm nhiệm vụ tại Campuchia.[1]

Năm 1986, máy bay trực thăng chở ông gặp tai nạn khi phi công bất cẩn bất cẩn quệt phải ngọn cây gần sân vận động Bạc Liêu.[1] Đó là dịp Tết, ông thay mặt Quân chủng dùng trực thăng chở đào Nhật Tân tặng cho các đơn vị Phòng không - Không quân phía Nam.[3]

Năm 1989, nghỉ hưu, ông làm Trưởng ban liên lạc cựu chiến binh Không quân tại Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1990, ông về xã Tân Phú Đông, thị xã Sa Đéc, sống cảnh điền viên cùng gia đình[2]. Năm 2009 thì gia đình ông chuyển về quê là ấp Hậu Thành, xã Hòa Thành, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp làm nghề nông.[1]

Năm 2010, ông ra Hà Nội dự Đại lễ nghìn năm Thăng Long, tham dự chương trình Thăng Long hồn thiêng sông núi – Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người.[4]

Năm 2011, ông lại được lên báo khi trồng được củ khoai mỳ nặng 22,5 kg và được người dân trong vùng vui mừng nói: Anh hùng không quân bắn máy bay Mỹ và trồng khoai mỳ cũng anh hùng.[5]

Các cuộc không chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Lần đầu xuất trận[sửa | sửa mã nguồn]

10h ngày 19 tháng 6 năm 1965, biên đội Mig-17 của Nguyễn Văn Bảy cất cánh. 10h10 thì Không quân Việt Nam phát hiện máy bay Mỹ trên bầu trời Yên Thế và quyết định tấn công. Lực lượng Mỹ dựa vào số đông phản kích. Trận này máy bay của ông bị 82[6] (có nguồn nói 84 [1]) vết thủng, có những vết thủng rất lớn, nhưng ông dùng tay che và cho máy bay hạ cánh an toàn.[3] Đây được xem là kỳ tích khi hiếm có phi công nào trên thế giới mà máy bay bị thương gần nát khúc đuôi vẫn còn bình tĩnh và tự tin đưa nó về hạ cánh an toàn.[6]

Chiến thắng đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21 tháng 6 năm 1966, biên đội bốn chiếc Mig-17 của Trung đoàn không quân tiêm kích 923 phát hiện một máy bay trinh sát RF-8A được hộ vệ bởi F-8 Crusader (Hiệp sỹ thánh chiến) của phi đội 211 Hoa Kỳ. Trận này biên đội Mig-17 bị bắn rơi hai chiếc. Nhưng phía Hoa Kỳ lại bị hạ một chiếc F-8E và một chiếc RF-8A. Chiếc F-8E do Cole Black điều khiển bị bắn hạ với sự đóng góp của Nguyễn Văn Bảy. Còn chiếc RF-8A do Leonard Eastman lái thì bị biên đội trưởng Phan Thành Trung tiêu diệt. Phi công Cole Black bị bắt làm tù binh tại nhà tù Hỏa Lò.[7]

Võ Nhai[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 6 năm 1966, trên bầu trời Võ Nhai (Bắc Thái), phát hiện hai máy bay Không lực Hoa Kỳ đang bám đuổi máy bay của Không quân Nhân dân Việt Nam. Nguyễn Văn Bảy cùng một đồng chí bất ngờ lao thẳng vào đội hình đối phương và bám riết nổ súng, một máy bay Mỹ bốc cháy, rớt tại chỗ. Trận này biên đội của Nguyễn Văn Bảy bắn rớt hai máy bay Mỹ, riêng ông hạ một chiếc, đó là chiếc F-4C của thiếu tá Mỹ John Roberton.

Việt Trì[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 6 năm 1966, trên bầu trời Việt Trì (Vĩnh Phú), biên đội máy bay Việt Nam bị máy bay Mỹ với số lượng đông hơn nhiều lần bám đuổi. Nguyễn Văn Bảy quay lại đối đầu và bắn hạ một máy bay.[1]

Đức Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 6 năm 1966, đơn vị Nguyễn Văn Bảy không chiến với tốp Thần sấm F-105D đang đánh vào kho xăng Đức Giang (Hà Nội). Trận này Nguyễn Văn Bảy hạ chiếc chỉ huy của Thiếu tá Murphy Neal Jones.[2]

Nam Hà[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 9 năm 1966, tại vùng trời khu vực Cầu Giẽ - Phủ Lý giáp ranh giữa Hà TâyNam Hà, phát hiện thấy hai máy bay F-8 sau khi ném bom định lẫn vào mây mù bỏ trốn. Phi công Nguyễn Văn Bảy và Võ Huy Mẫn đuổi theo hạ hai chiếc này. Sau trận này, Hồ Chủ tịch đã trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho hai phi công.[2]

Chí Linh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 9 năm 1966, mười sáu máy bay F-4F-105 tiến vào vùng trời Chí Linh (Hải Dương), chia nhiều tốp, nhiều tầng, nhiều hướng bao vây biên đội bốn máy bay Việt Nam. Trong trận chiến này, cả biên đội Việt Nam hạ ba chiếc F-4 trong đó Nguyễn Văn Bảy hạ một chiếc, hạ cánh an toàn.[1]

Kiến An[sửa | sửa mã nguồn]

Mờ sáng 21 tháng 9 năm 1966, biên đội bốn chiếc Mig-17 do Nguyễn Văn Bảy chỉ huy đã được lệnh chuyển từ Gia Lâm xuống sân bay Kiến An. Theo phương án, không quân Mỹ sẽ đánh đường số 1 từ biển bay vào hướng Quảng Ninh,Bắc Giang, MiG-17 cất cánh bí mật tiếp cận. Sau đó mười sáu chiếc F-105 cộng với tám chiếc F-4 tiêm kích bao vây Nguyễn Văn Bảy và Võ Huy Mẫn, còn Đỗ Huy Hoàng bị bắn rơi nhảy dù, chiếc Mig còn lại lạc đường. Phát hiện chiến thuật của quân Mỹ, Nguyễn Văn Bảy thông báo với Võ Huy Mẫn hai chiếc F-4 bay úp và Võ Huy Mẫn nhanh chóng hạ một chiếc. Ngay lúc đó, một chiếc F-105 bắn tên lửa vào chiếc MiG-17 của Võ Huy Mẫn trong khi phía trước chiếc MiG-17 là 1 chiếc F-4. Nguyễn Văn Bảy ra lệnh cho MiG-17 của Võ Huy Mẫn ra khỏi tầm ảnh hưởng, hai quả tên lửa của Mỹ lao rất nhanh vào chiếc F4 phía trước, chiếc F4 của Mỹ gãy đôi.[6]

Hải Phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24 tháng 4 năm 1967, từ sân bay dã chiến Kiến An, đơn vị Nguyễn Văn Bảy chiến đấu với tốp máy bay Mỹ đánh cảng Hải Phòng. Chiếc Mig-17 của ông tiếp cận và bắn hạ chiếc F-8C do Thiếu tá hải quân E.J.Tucker lái. Khi những máy bay hộ tống quay lại định trả thù, thì Nguyễn Văn Bảy bay ngoặt tránh đòn lao máy bay hạ gục một chiếc F-4H.[2]

Số bảy gắn với cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ông từng kể rằng: Tao toàn gặp số bảy: Tên Bảy, con thứ 7, đi bộ đội lúc 17 tuổi, học văn hóa 7 ngày lên 7 lớp, 7 lần bắn rơi 7 máy bay Mỹ bằng máy bay Mig 17, được phong Anh hùng năm 1967...[2]

Nhầm lẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Một số báo chí thường nhầm lẫn phi công Nguyễn Văn Bảy quê Đồng Tháp, tức Bảy A là người đã tham gia trận chiến không đối hải với chiến hạm Highbee của Hải quân Hoa Kỳ. Người tham gia trận chiến đó cũng là một phi công tên là Nguyễn Văn Bảy quê ở Cà Mau, tức Bảy B, hy sinh năm 1972.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]