Yakovlev Yak-130

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Yak-130
Jak-130 0649.jpg
Kiểu Máy bay huấn luyện quân sự
Hãng sản xuất Yakovlev
Chuyến bay đầu tiên 26 tháng 4-1996
Được giới thiệu 2003
Hãng sử dụng chính Flag of Russia.svg Không quân Nga

Yakovlev Yak-130 là một máy bay huấn luyện được OKB Yakovlev và thuộc Nga và hãng Aermacchi hợp tác thiết kế chế tạo. Sau khi các công ty thiết kế không thống nhất được với nhau về các mặt phát triển của máy bay, 2 công ty đã dựa trên mẫu thiết kế ban đầu để phát triển hai mẫu khác nhau. Phiên bản của Aermacchi là M-346, còn của Yakovlev là Yak-130. Trước đây nó cũng còn được biết đến với cái tên Yak-AT (AT-chữ viết tắt của máy bay huấn luyện cao cấp).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mẫu thử nghiệm ban đầu của Yak-130

Máy bay huấn luyện không chiến Yak-130 đã giành chiến thắng trong cuộc cạnh tranh giành hợp đồng cung cấp máy bay huấn luyện cho Không quân Nga vào tháng 4 2002. Yak-130 cũng đang được tích cực tiếp thị cho xuất khẩu bởi Yakovlev, công ty Irkut, và Rosoboronexport.

Không quân Nga đang có kế hoạch trang bị 300 chiếc Yak-130 trong tương lai, mà chúng còn có thể triển khai như một máy bay tấn công hạng nhẹ hoặc như một máy bay huấn luyện cho máy bay chiến đấu thế hệ thứ 4 và 5. Một đơn đặt hàng mua 12 chiếc từ Không quân Nga để thay thế cho những chiếc Aero L-39 Albatros đã lỗi thời. Những chiếc máy bay này sẽ bắt đầu hoạt động trong Không quân Nga vào năm 2007 tại Học viện huấn luyện phi công quân sự ở Krasnodar.

Việc sản xuất theo dây chuyền Yak-130 được diễn ra ở SOKOL tại Nizhny Novgorod, cũng được biết đến với tên gọi NAZ Sokol, loạt máy bay đầu tiên xuất xưởng vào tháng 5 2003. Một loạt những chuyến bay thử nghiệm đã bắt đầu vào tháng 4 2004 và hoàn thành vào đầu năm 2006.

Không quân Nga chính thức thử nghiệm Yak-130 vào tháng 5, 2005. Những cuộc thử nghiệm đầy đủ đối với máy bay huấn luyện chiến đấu cao cấp này bao gồm bổ nhào quay tròn và chiến thuật không chiến, chúng sẽ kết thúc trong năm 2007 trước khi được giao hàng cho Không quân Nga.

Vào tháng 3 2006, người Nga đã thông báo rằng Algérie cũng đã đặt mua 16 chiếc Yak-130 để phục vụ trong không quân của họ.

Ngày 29 tháng 5 năm 2010, 1 chiếc Yak-130 rơi xuống đất khi đang cất cánh ở trung tâm huấn luyện hàng không Lipetsk. Không có ai bị thương trong vụ tai nạn này.[1]

Thiết kế và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Yak-130-01

Một chương trình hợp tác phát triển máy bay huấn luyện giữa công ty Yakovlev của NgaAermacchi của Ý bắt đầu vào năm 1993 và chiếc máy bay thử nghiệm đầu tiên dùng để thao diễn có tên gọi Yak / AEM-130D đã bay lần đầu vào năm 1996. Vào năm 1999, quan hệ đối tác đã đổ vỡ và từ mẫu thiết kế ban đầu, 2 công ty đã phát triển chúng thành các thiết kế riêng biệt, Yakovlev đã phát triển thành Yak-130, còn Aermacchi phát triển thành M346

Vào quý 2 năm 2003, mẫu thử nghiệm Yak-130 đã hoàn thành thành công 450 chuyến bay, bao gồm bay thao diễn tính linh hoạt với góc tấn công (AoA) là 42°.

Yak-130 có thể chịu gia tốc trọng trường từ +8g đến -3g và nó có khả năng thực hiện những chuyến bay thao diễn đặc biệt huấn luyện phi công đối với máy bay chiến đấu hiện nay và các mẫu máy bay đang phát triển, bao gồm Su-30, MiG-29, Mirage, F-15, F-16, Eurofighter Typhoon, F-22F-35.

Một vài phiên bản khác của Yak-130 cũng đang được tính toàn, gồm máy bay huấn luyện trên tàu sân bay, một máy bay trinh sát hạng nhẹ và máy bay chiến đấu không người lái.

Yak-130 được sản xuất hàng loạt có một vài điểm khác biệt đối với máy bay thử nghiệm thao diễn là Yak-130D, với trọng lượng nhỏ hơn, phần mũi được thiết kế hoàn chỉnh cho radar, chiều dài thân máy bay ngắn hơn và diện tích cánh cũng nhỏ hơn.

Yak-130 có thiết kế cánh cụp tối ưu, được chế tạo bằng hợp kim nhẹ với những bề mặt được làm bằng sợi carbon. Nó được bảo vệ bằng loại giáp Kevlar với các phần trọng yếu, gồm động cơ, buồng lái và ngăn chứa hệ thống điện tử hàng không.

Cánh cụp được thiết kế tối ưu nhằm tận dụng lực nâng của cánh và cánh đuôi đặt thấp hơn cánh chính, làm cho mọi chuyển động của máy bay linh hoạt hơn và giúp cho phi công có thể lựa chọn góc tấn công lớn. Để hạ cánh tại những sân bay có đường băng ngắn, máy bay được trang bị với những bộ phận ở cánh, nhằm giảm quãng đường hạ cánh.

Những cánh tà có tên Fowler được lắp ở các cánh, nó có thể chuyển động về phía sau và lên xuống để tăng lực nâng và tạo lực cản khi máy bay hạ cánh. Khung máy bay được thiết kế với tuổi thọ 30 năm với 10.000 giờ bay hoặc 20.000 lần hạ cánh.

Miêu tả thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Buồng lái[sửa | sửa mã nguồn]

Buồng lái của Yak-130

Yak-130 có buồng lái tiêu chuẩn 2 chỗ ngồi và được trang bị hê thống điều áp không khí, nó được trang bị loại ghế phóng NPO Zvezda K-36LT3.5 zero-zero. Phi công có một tầm nhìn toàn diện qua vòm kính che buồng lái. Phi công ngồi phía trước có một tầm nhìn qua mũi máy bay là -16°. Phi công ngồi sau là -6°. Yak-130 là máy bay đầu tiên của Nga được sản xuất với một bộ hệ thống điện tử hàng không tín hiệu số. Hệ thống điện tử này theo tiêu chuẩn Mil Standard 1553 và có thể được làm phù hợp đáp ứng các yêu cầu của khách hàng.

Máy bay có buồng lái với vòm che hoàn toàn bằng thủy tinh chống đạn. Cả 2 phi công đều được trang bị hệ thống tầm nhìn ban đêm và 3 màn hình hiển thị đa chức năng tinh thể lỏng 6x8 in. Phi công phía trước có thể sử dụng hệ thống hiện thị tầm nhìn phía trước trên mũ để chỉ thị mục tiêu. Buồng lái được hệ thống cảnh báo giọng noí, MS bên trong và giao tiếp bên ngoài được công ty AA.S. Popov GZAS Joint Stock cung cấp.

Hệ thống điều khiển lái số fly-by-wire được sử dụng để điều chỉnh độ ổn định và những đặc trưng điều khiển, hệ thống an toàn bay tương tự như MiG-29, Su-27, Su-30, F-15, F-16, F-18, Mirage 2000, Dassault Rafale, Eurofighter TyphoonF-35.

Phi công lựa chọn mô hình phần mềm của hệ thống mô phỏng điều khiển trên máy tính của Yak-130 để lựa chọn bài tập bay. Ngoài ra phi công còn có thể lựa chọn kiểu bay trong khi đang bay. Hệ thống có thể bỏ ghi nhận những sai lầm của phi công, từ đó đánh giá rút ra kết luận về chuyến bay, điều này giúp ích rất nhiều cho việc rèn luyện kỹ năng bay ở phi công.

Hệ thống điện tử hàng không với kiến trúc mở gồm 2 máy tính và một bộ đa hợp trao đổi thông tin 3 kênh. Bộ dẫn đường bao gồm những con quay laser và hệ thống định vị toàn cầu GLONASS/NAVSTAR

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay huấn luyện chiến đấu Yak-130 có thể mô phỏng các chiến thuật của các máy bay chiến đấu khác nhau. Nó có một giá treo ở giữa thân và các giá treo khác ở trên cánh để mang vũ khí, bình thường thì nó có 6 điểm treo vũ khí, nhưng khi cần thiết có thể tăng lên 8 giá treo với 2 điểm ở đầu cánh, tổng trọng tải vũ khí mà nó có thể mang là 3.000 kg.

Máy bay có thể mang vũ khí, thùng nhiên liệu phụ, hệ thống do thám và hệ thống tác chiến điện tử cho chiến tranh điện tử bao gồm radar gây nhiễu và hệ thống đối phó hồng ngoại.

Một hệ điện tử hàng không có cấu trúc mở trên Yak-130 cho phép nó có thể sử dụng rộng rãi các vũ khí của phương Tây và tên lửa dẫn đường bao gồm AIM-9L Sidewinder, Magic 2AGM-65 Maverick.

Yak-130 còn có thể sử dụng tên lửa dẫn đường bằng laser Vikhr, tên lửa không đối không dẫn đường bằng hồng ngoại R-73 (tên hiệu NATO AA-11 Archer) và tên lửa không đối đất dẫn đường bằng laser Kh-25ML (NATO AS-10 Karen). Ngoài ra nó còn có thể mang bom dẫn đường KAB-500Kr.

Máy bay được trang bị với một khẩu pháo 30mm GSh-301 hoặc pháo GSh-23 được đặt dưới thân. Ngoài ra còn có thể mang rocket không điều khiển B-8M và B-18, 250 kg bom thường và 50 kg bom chùm.

Radar[sửa | sửa mã nguồn]

Yak-130 được trang bị với một radar Osa hoặc Oca với dải băng tần từ 8 GHz đến 12.5 GHz được phát triển bởi NIIP Zhukovsky. Radar này có khả năng theo dõi 8 mục tiêu cùng lúc, đồng thời tấn công 4 mục tiêu ở mọi góc độ trên không hoặc 2 mục tiêu dưới đất cùng lúc. Phạm vi dò tìm mục tiêu với diện tích bề mặt phản xạ 5m² là 40 km đối với ở phía sau và 85 km ở phía trước. Và radar tự động khóa mục tiêu trong khi bám sát là 65 km.

Yak-130 còn có thể trang bị radar Kopyo (Spear), hệ thống tìm kiếm và theo dõi bằng tia hồng ngoại.

Đối phó điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Để hoạt động trong môi trường chiến tranh điện tử, Yak-130 được trang bị các loại pháo sáng và mảnh kim loại nhỏ nhằm gây nhiễu, radar cảnh báo và gây nhiễu tích cực

Động cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có tỷ số lực đẩy/trọng lượng lớn khoảng 0.85. Nó được trang bị 2 động cơ phản lực cánh quạt đẩy Klimov RD-35, lực đẩy 2.200 kg mỗi chiếc. Máy bay hiện nay còn được tính đến trang bị với 2 động cơ kinh tế hơn là AI-222-25, lực đẩy mỗi chiếc là 2.500 kg và được phát triển bởi Motor Sich, Zaporozh'e Progress và Moscow Salyut Motor Building Production Enterprise trong chương trình hợp tác giữa NgaUkraina. Phiên bản xuất khẩu của Yak-130 có thể được trang bị động cơ Povazske Strojarne DV-2SM, nhưng nếu có yêu cầu của người mua máy bay này sẽ được trang bị động cơ Saturn AL-55‎.

Thùng nhiên liệu bên trong, gồm 2 thùng trong cánh và 1 thùng ở giữa thân, tổng trọng lượng mang lên tới 1.750 kg nhiên liệu. Với thùng nhiên liệu phụ có thể mang thêm, máy bay sẽ chứa được 2.650 kg nhiên liệu. Máy bay còn có thể tiếp nhiên liệu trên không khi bay. Tùy theo nhu cầu của từng khách hàng, Yak-130 có thể trang bị hệ thống tiếp nhiên liệu trên không.

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • Yak-130/Aermacchi - mẫu thử nghiệm huấn luyện.
  • Yak-130-01 - Máy bay chiến đấu và huấn luyện hợp tác giữa Nga-Italy. 90% là các kết cấu từ Yak-130. Hệ thống điện tử được cung cấp bởi "Elektroavtomatika", SPB, Nga. Sản xuất ở "Sokol".

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Thông số kỹ thuật (Yak-130)[sửa | sửa mã nguồn]

Yak-130D.svg

Đặc điểm riêng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phi đoàn: 2
  • Chiều dài: 11.49 m (37 ft 8 in)
  • Sải cánh: 9.72 m (31 ft 10 in)
  • Chiều cao: 4.76 m (15 ft 7 in)
  • Diện tích : 23.52 m² (253.2 sq ft)
  • Trọng lượng rỗng: 4.600 kg (10.141 lb)
  • Trọng lượng cất cánh: 6.350 kg (14.000 lb)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 10.290 kg (22.685 lb)[2]
  • Động cơ: 2× Klimov RD-35, lực đẩy 21.58 kN (4.852 lbf) mỗi chiếc

Hiệu suất bay[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có cùng sự phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có tính năng tương đương[sửa | sửa mã nguồn]