Sukhoi Su-30
| Su-30 | |
|---|---|
| 1 chiếc Su-30 của Không quân Nga | |
| Kiểu | Máy bay tiêm kích tấn công chiếm ưu thế trên không |
| Hãng sản xuất | Sukhoi |
| Chuyến bay đầu tiên | tháng -1989 |
| Được giới thiệu | 1996 |
| Tình trạng | Đang hoạt động |
| Hãng sử dụng chính | |
| Chi phí máy bay | 33 đến 45 triệu USD |
| Được phát triển từ | Sukhoi Su-27 |
| Những phương án tương tự | Sukhoi Su-30MKI Sukhoi Su-30MKK |
Sukhoi Su-30 (tên ký hiệu của NATO: "Flanker-C") là máy báy quân sự linh hoạt được phát triển bởi Công ty hàng không Sukhoi của Nga và đưa vào hoạt động năm 1996. Nó là loại máy bay chiến đấu đa chức năng tốc độ siêu âm có thể đảm nhiệm cả nhiệm vụ chiếm ưu thế trên không và nhiệm vụ cường kích (tấn công mặt đất).
Đây là một phiên bản hiện đại hóa của Su-27UB và có vài phiên bản khác. Seri Su-30K và Su-30MK đều có những thành công trong thương mại. Sự khác nhau về tên gọi là do các phiên bản được sản xuất bởi 2 công ty con đang có sự cạnh tranh - KNAAPO và IRKUT Corporation, cả 2 đều nằm dưới sự điều khiển của tập đoàn Sukhoi. KNAAPO sản xuất Su-30MKK và Su-30MK2, chúng được thiết kế và bán cho Trung Quốc và Việt Nam. Irkut sản xuất seri Su-30MK tầm xa đa chức năng, mà bao gồm cả Su-30MKI, một mẫu máy bay được phát triển cho Không quân Ấn Độ và những thiết kế từ Su-30MKI, như Su-30MKM, Su-30MKA và Su-30MKV được xuất khẩu cho riêng Malaysia, Algérie và Venezuela (M-Malaysia, A-Algeria và V-Venezuela).
Mục lục |
Phát triển [sửa]
Mẫu máy bay tiêm kích đánh chặn tầm xa Su-27PU [sửa]
Trong khi nguyên bản gốc Su-27 có tầm hoạt động khá tốt, nó vẫn bị coi là không có đủ tầm hoạt động để thực hiện các nhiệm vụ phòng không của PVO Strany (từ viết ngắn cho "Protivovozdushnaya Oborona" — "Phòng Không"), các hoạt động phòng không bao trùm lên toàn bộ lãnh thổ rộng lớn của Liên Xô. Do đó, việc phát triển bắt đầu vào năm 1986 đối với Su-27PU, một phiên bản cải tiến của Su-27 có khả năng hoạt động như một máy bay tiêm kích đánh chặn tầm xa hay sở chỉ huy trên không. Phiên bản huấn luyện chiến đấu Su-27UB hai chỗ được lựa chọn như một nền tảng cơ sở cho Su-27PU, vì nó có hiệu suất và đặc tính của một chiếc Su-27 một chỗ, và khi thực hiện các nhiêm vụ tầm xa đòi hỏi phải có 2 phi công, điều này giúp cho hiệu suất tác chiến của máy bay tăng lên. Mẫu thuyết trình "chứng minh khái niệm" bay vào ngày 6 tháng 6, 1987, và chuyến bay này đã thành công, dẫn đến việc phát triển tiếp theo trên 2 nguyên mẫu Su-27PU. Chiếc Su-27PU đầu tiên bày tại Irkutsk vào ngày 31 tháng 12, 1989, và chiếc đầu tiên trong 3 chiếc tiền sản xuất đã bay vào ngày 14 tháng 4, 1992.
- Để Su-27UB thích nghi trong vai trò mới, máy bay được trang bị hệ thống tiếp nhiên liệu trên không có thể mở ra thu lại, để tăng thêm tầm hoạt động, cần tiếp nhiên liệu nằm ở bên trái mũi máy bay, để lắp thêm hệ thống này thì hệ thống IRST đã phải chuyển sang cạnh phải của máy bay.
- Hệ thống điện tử được thay đổi, được điều chỉnh sử dụng thiết bị truyền đạt thông tin riêng và dẫn đường để chỉ huy đội hình bay của máy bay đánh chặn Su-27 một chỗ. Buồng lái phía sau được trang bị màn hình hiển thị CRT khổ lớn, cung cấp thông tin hướng dẫn với các thông tin chiến thuật về mục tiêu và máy bay đang điều khiển. Hệ thống dẫn đường và fly-by-wire đã được nâng cấp. Nó trang bị một radar nâng cấp NIIP N001, cung cấp thông tin cho nhiệm vụ tấn công mặt đất, tìm đường và khả năng theo dõi tấn công nhiều mục tiêu cùng lúc trên không. Su-30 có một phanh hơi đằng sau buồng lái.
- Sukhoi đưa ra Su-27PU được sử dụng như một "máy bay chiến đấu kiểm soát trên không", một loại AWACS mini, với người lái sau sẽ sử dụng radar và hệ thống kết nối dữ liệu đẻ kiểm soát những máy bay chiến đấu khác. Tuy nhiên PVO không quan tâm đến việc mua SU-27PU.
- 5 chiếc Su-27PU đã được chế tạo, với tên gọi mới là "Su-30" cuối cùng được trang bị trong biên chế của PVO với vai trò máy bay huấn luyện. Những máy bay này được chuyển giao cho Trung đoàn không quân tiêm kích đánh chặn số 54 đóng tại căn cứ huấn luyện cao cấp tại Savostleyka bắt đầu vào năm 1996.
Theo một tạp chí nghiên cứu kỹ thuật của Đức, những chiếc Su-30 của Ấn Độ, phiên bản MKI là những máy bay tiêm kích-bom chiến đấu tốt nhất từng được chế tạo trên thế giới. Máy bay này đã thay đổi mọi sự cân bằng trong bối cảnh Nam Á, nhiều quốc gia rất quan tâm đến loại máy bay này.
Thiết kế [sửa]
Một phiên bản Su-30M đa chức năng 2 chỗ đã được đề nghị chuyển cho Không quân Nga sử dụng và có thể một vài chiếc khác cũng đã được sản xuất giữa những năm 1990 để đánh giá.
- Sukhoi đã được đề nghị một phiên bản xuất khẩu là Su-30MK, "MK" có nghĩa là "Modernizirovannyi Kommercheskiy" (Modernized Commercial - Thương mại hóa). Sukhoi đã mang một chiếc Su-30MK thao diễn đến Triển lãm hàng không Paris vào năm 1993.
- Một chiếc Su-30MK tối ưu hóa khả năng thao diễn, cũng đã được sản xuất lại từ chiếc Su-27PU sản xuất trước đó, nó xuất hiện vào năm 1994.
Máy bay chiến đấu đa chức năng linh hoạt [sửa]
Su-30MK có khả năng thực hiện các nhiệm vụ đa dạng khác nhau, trong bất kỳ điều kiện thời tiết, môi trường khắc nghiệt, bất kể ngày hay đêm và khoảng cách.
Đây là máy bay đa chức năng được trang bị đầy đủ phù hợp với toàn bộ một chuỗi những kịch bản chiến thuật và hoạt động chiến đấu, nó được thay đổi từ nhiệm vụ không chiến (bao gồm chiếm ưu thế trên không, phòng không, tuần tra trên không và hộ tống), thành tấn công mặt đất, chống hệ thống phòng không của địch (SEAD), ngăn chặn trên không, hỗ trợ mặt đất và tấn công mục tiêu trên biển. Đồng thời, Su-30MK có thể thực hiện chống gây nhiễu điện tử ECCM và cảnh báo sớm trên không, cũng như ra lệnh và điều khiển một nhóm thực hiện nhiệm vụ chung.
Góc tấn [sửa]
Hình dạng khí động học của Su-30MK cho phép nó dễ dàng thay đổi các động tác khi bay. Để tăng hiệu suất nâng và khả năng bay thao diễn của máy bay, cánh mũi đã được trang bị. Nó có thể tự động điều chỉnh độ lệch để đảm bảo khả năng kiểm soát bay tại những góc tấn lớn. Tuy nhiên, cánh mũi chỉ được trang bị trên một số phiên bản của Su-30 như Su-30MKI.
Động tác bay rắn hổ mang Pugachev [sửa]
Hình dạng khí động học tổng hợp, được kết hợp với khả năng kiểm soát điều chỉnh hướng phụt của động cơ, đã mang đến những khả năng thao diễn bay chưa từng có và những đặc trưng cất cánh và hạ cánh độc nhất vô nhị. Trang bị với hệ thống lái số fly-by-wire, Su-30MK có khả năng thực hiện vài động tác thao diễn mà chỉ có thể thực hiện được trên những máy bay chiến đấu hiện đại của Nga. Bao gồm động tác rắn hổ mang Pugachev và biểu diễn quay tròn, máy bay quay 360° trong khi đang bay lên hoặc lao xuống trên một mặt phẳng mà không bị mất độ cao. Trong động tác thao diễn bay bổ nhào quay tròn có điều khiển, máy bay thực hiện vài vòng quay đầy đủ trong mặt phẳng ngang, với tốc độ gần về không, lúc này động cơ bị tắt, sau đó nó được khởi động lại để lấy lại độ cao cho máy bay.
Động cơ [sửa]
Động cơ của máy bay là 2 động cơ phản lực cánh quạt tỷ lệ vòng thấp Saturn AL-31FP. Cung cấp lực đẩy sau khi đốt nhiên liệu lần 2 là 245 kN (25.000 kgf), đạt vận tốc Mach 2, nó có tốc độ 1.350 km/h tại độ cao thấp, và vận tốc leo cao là 230 m/s.
Nó có thể mang thông thường 5.270 kg nhiên liệu trong các thùng chứa (không tính nhiên liệu trong các thùng chứa phụ), Su-30MK có khả năng thực hiện liên tục nhiệm vụ trong 4.5 giờ trong phạm vi 3.000 km. Trong khi bay, nếu được tiếp nhiên liệu trên không thì nó có thể duy trì 10 giờ bay nhiệm vụ với tầm bay là 8.000 km trên độ cao hành trình từ 11 đến 13 km.
Khả năng bay xa đã tăng đáng kể những chọn lựa nhiệm vụ. Những sứ mệnh có thể thay đổi từ tuần tra, hộ tống thành đánh chặn tầm xa và những cuộc tấn công không đối đất.
Hệ thống điều khiển hướng phụt động cơ 2D [sửa]
Các miệng ống phụt của động cơ có thể uốn xuống hoặc bẻ lên, thay đổi hướng chênh lệch ±15° (với những trục quay được định vị tại vị trí góc 32° ở mỗi động cơ) cho phép điều khiển lực đẩy theo mọi hướng. Phụ thuộc vào động tác thao diễn sẽ được thực hiện, những góc lệch có thể được điều khiển để tạo lực đẩy như ý muốn, những miệng ống động cơ có thể được đồng bộ hóa hoặc khác với những thao tác của cánh đuôi nằm ngang của máy bay. Phiên bản Su-30MKI có hệ thống điều khiển hướng phụt động cơ 2D (2D TVC - 2D Thrust Vectoring Control) đầu tiên.
Phi hành đoàn [sửa]
Phi hành đoàn 2 người đã làm tăng đáng kể những khả năng chiến đấu, do phân công hơp lý công việc giữa các phi công. Trong khi phi công đầu tiên lái máy bay, điều khiển vũ khí và thực hiện các động tác thao diễn dogfight, phi công thứ 2 sử dụng các thiết bị điện tử để xác định mục tiêu cho các vũ khí dẫn đường không đối không và không đối đất tầm xa, theo dõi màn hình chiến thuật để đảm bảo nhận thức về vị trí của máy bay, thực hiện lệnh và điều khiển trong khi thực hiện nhiệm vụ theo nhóm.
Hệ thống điện tử [sửa]
- Radar: nó có thể lựa chọn 1 trong số các loại radar xung Doppler sau: N001VE, Phazotron N010 Zhuk-27, N011M BARS (radar quét mảng pha điện tử bị động). Có khả năng phát hiện và theo dõi mục tiêu lên đến 15 mục tiêu trên không, trong khi có thể đồng thời tấn công 4 mục tiêu trong số đó. Radar N011M BARS có thể dò tìm các mục tiêu lớn trên biển trong khoảng cách lên đến 400 km (248.5 mi), và các mục tiêu nhỏ trong khoảng cách 120 km (74.5 mi). Để so sánh, radar APG-63 trang bị cho F-15 Eagle của Mỹ chỉ có tầm khoảng 110–160 km tùy kích thước mục tiêu.
- Hệ thống điện tử khác bao gồm một hệ thống ngắm bắn và dẫn đường tích hợp, với một hệ thống dẫn đường con quay laser; hệ thống hiển thị trên mũ phi công, màn hình hiển thị trước buồng lái HUD, màn hình LCD hiển thị đa chức năng với khả năng hiển thị trộn lẫn hình ảnh; và một hệ thống GPS (tương thích GLONASS/NAVSTAR).
- Hệ thống tia hồng ngoại và laser để dò tìm và điều khiển vũ khí tấn công các mục tiêu kích thước nhỏ. Máy bay được cung cấp phương tiện chống gây nhiễu điện tử ECCM và đối phó với các thiết bị điện tử quang học.
- Máy bay có chế độ lái tự động trong mọi giai đoạn bay, gồm bay thấp trong mọi địa hình, bay riêng và theo nhóm chống lại mục tiêu trên không - mặt đất - trên biển. Hệ thống điều khiển tự động được kết nối với hệ thống dẫn đường để đảm bảo máy bay bay đúng đường, tự động tiếp cận địch, tìm được đường về căn cứ và hạ cánh tự động.
Các phiên bản Su-30 [sửa]
- Su-27PU
- Máy bay tiêm kích đánh chặn tầm xa dựa trên Su-27UB huấn luyện hai chỗ. Sau đổi tên thành Su-30.
- Su-30
- Máy bay thử nghiệm tĩnh với cánh mũi.
- Su-30K
- Phiên bản thương mại của Su-30 cơ bản. 50 chiếc đã được bán cho Ấn Độ và sau đó được nâng cấp thành Su-30MKI.
- Su-30KI
- Một phiên bản đề nghị của Sukhoi nâng cấp máy bay một chỗ Su-27S của Không quân Nga. Cũng có một phiên bản xuất khẩu trong kế hoạch cho Indonesia, 24 chiếc được đặt hàng nhưng sau đó hủy bỏ do khủng hoảng tài chính Châu Á 1997[1], chỉ là một mẫu máy bay ghế đơn trong gia đình Su-30.
- Su-30KN
- Phiên bản nâng cấp chiến đấu 2 chỗ của Su-27UB, Su-30 và Su-30K.
- Su-30M
- Về bản chất là Su-27PU nâng cấp, đây là máy bay đa chức năng đúng nghĩa đầu tiên trong gia đình Su-27.
- Su-30MK
- Phiên bản thương mại của Su-30M, được xuất hiện vào năm 1993.
- Su-30M2
- Su-30MK nâng cấp với cánh mũi và TVC.
- Su-30MKI
- Hợp tác phát triển với công ty Hindustan Aeronautics Limited của Ấn Độ để sản xuất máy bay Su-30MK cho Không quân Ấn Độ. Nó được trang bị động cơ đẩy vec-tơ (Thrust Vectoring Control (TVC)) và cánh mũi. Trang bị với một hệ thống điện tử phức hợp đa quốc gia từ Israel, Ấn Độ, Nga và Pháp.[2]
- Su-30MKK
- Phiên bản xuất khẩu cho Trung Quốc.
- Su-30MKM
- Phiên bản dựa trên MKI, đây là một phiên bản chuyên dụng cho Không quân Hoàng gia Malaysia với một số bộ phận tương tự như MKI, nhưng có hệ thống điện tử kết hợp giữa Pháp, Nam Phi và Nga. Nó có màn hình hiển thị trước mũi (HUD) hiện đại, hệ thống dẫn đường hồng ngoại tiên tiến (NAVFLIR) và thiết bị Damocles Laser Designation (LDP - thiết bị chỉ thị mục tiêu bằng laser) từ Thales Group của Pháp, cảm biến cảnh báo tên lửa MAW-300 (MAWS) và cảm biến cảnh báo laser (LWS) từ SAAB AVITRONICS (Nam Phi)[1], cũng như radar NIIP N011M BARS PESA, hệ thống tác chiến điện tử (EW), và buồng lái kính của Nga.[2]
- Su-30MKV
- Phiển bản xuất khẩu cho Venezuela có nhiều điểm giống với Su-30MK2. Có 2 chiếc được tham gia vào Lễ duyệt binh ở Caracas vào tháng 7-2006, những chiếc máy bay này được KNAAPO sản xuất và có số hiệu là 0460 và 1259. Venezuela xác nhận rằng những chiếc Su-30 được Venuela mua là Su-30MK2
- Su-30MK2
- Su-30MKK nâng cấp hệ thống điện tử cho phép hỗ trợ tên lửa chống tàu
- Su-30MK2V
- Phiên bản Su-30MK2 xuất khẩu cho Việt Nam với những cải tiến phụ cho phù hợp với nhu cầu tác chiến trên biển nhiệt đới .
- Su-30MK3
- Su-30MKK với radar Zhuk MSE và hỗ trợ tên lửa chống tàu Kh-59MK.
- Su-30MKA
- Phiên bản xuất khẩu cho Algérie có nhiều điểm tương tự như MKI, nhưng phần lớn hệ thống điện tử trang bị của Pháp và Nga. Nó sẽ được trang bị các thiết bị hiển thị phía trước buồng lái và đa chức năng từ Thales Group và Sagem của Pháp.
Các quốc gia sử dụng [sửa]
- Không quân Algeria sử dụng 44 chiếc Su-30MKA.
- Không quân Quân giải phóng Nhân dân (PLAAF) có 76 chiếc Su-30MKK (tiếng Nga: Modernizirovannyi Kommercheskiy Kitaya; Modernized Commercial China; Phiên bản thương mại hóa dành cho Trung Quốc). PLAAF cũng có các phi đội Su-27. Lô đầu tiên trong 38 chiếc được giao vào 20 tháng 12, 2000 và kết thúc vào năm 2001. Lô thứ hai trong 38 chiếc được đặt hàng năm 2001 và bắt đầu giao hàng năm 2003.
- Không quân Hải quân Quân giải phóng Nhân dân sử dụng 24 chiếc Su-30MK2. Những máy bay này được đặt mua vào tháng 1 năm 2003 và giao hàng vào tháng 8 năm 2004.
- Không quân Ấn Độ, sau những năm đàm phán đã quyết định đặt mua 50 máy bay Su-30 và giành được giấy phép từ Sukhoi và Nga để sản xuất thêm 140 chiếc Su-30MKI nữa tại Ấn Độ. Công ty Hindustan Aeronautics Limited (HAL) của Ấn Độ là hãng sản xuất Sukhoi Su-30 với quy mô lớn trên thế giới. Ấn Độ đang mong chờ sẽ có được 230 chiếc Su-30MKI. Hiện nay có 116 chiếc Sukhoi-30MKI đang hoạt động.
- Không quân Indonesia có 2 chiếc Su-27SK & 2 Su-30MK[3] và năm 2006 đã ký một thỏa thuận mua thêm 3 chiếc Su-27SKM và 3 Su-30MK2.[1]
- Không quân Hoàng gia Malaysia sau chuyến tham quan những chiếc Su-30MKI của Ấn Độ, đã ký một thỏa thuận mua 18 chiếc Sukhoi Su-30MKM (M-Malaysia) vào tháng 5, 2003. 2 chiếc Su-30MKM đầu tiên đã được chính thức chấp nhận tại Irkutsk vào 23 tháng 5 2007, sau đó những máy bay này đã đến căn cứ không quân Gong Kedak vào ngày 21 tháng 6. Phi đội đầy đủ gồm 18 máy bay sẽ hoạt động vào cuối năm 2008. Một phần của thỏa thuận, Nga sẽ gửi một phi hành gia của Malaysia đến ISS.
- Không quân Ugandan đặt mua 8 chiếc Su-30MK2 với tổng trị giá là 744 triệu USD.
- Không quân Nga có ít nhất 19 chiếc đang phục vụ.
- Không quân Venezuela và chính phủ Venezuela vào 14 tháng 6 2006, đã thông báo đặt mua 24 chiếc Su-30MK2. 2 chiếc Su-30MK2 đầu tiên đã được giao vào tháng 12, 2006 trong khi 8 chiếc khác được giao trong năm 2007, 10 chiếc khác được giao năm 2008 và 4 chiếc còn lại sẽ theo lịch trình sẽ giao cuối năm 2008.[4]
- Tới năm 2012, Không quân Nhân dân Việt Nam đã có 24 chiếc Su-30MK2V. Vào giữa tháng 6 năm 2012 có nguồn tin cho biết VN sẽ mua 18 chiếc Su-30KN nâng cấp từ Su-30K thiên về chiến đấu trên không , và đến năm 2025 VN sẽ cố gắng đạt được 72 chiếc Su-30 để thay thế cho các chiến đấu cơ già cỗi như MiG-21 và Su-22
Thông số kỹ thuật (Su-27PU/Su-30) [sửa]
Dữ liệu lấy từ KNAAPO Su-30MK page,[5] Sukhoi Su-30MK page,[6] Gordon and Davidson[7]
Đặc điểm riêng [sửa]
- Phi hành đoàn: 2
- Chiều dài: 21.935 m (72.97 ft)
- Sải cánh: 14.7 m (48.2 ft)
- Chiều cao: 6.36 m (20.85 ft)
- Diện tích cánh: 62.0 m² (667 ft²)
- Trọng lượng rỗng: 17.700 kg (39.021 lb)
- Trọng lượng cất cánh: 24.900 kg (54.900 lb)
- Trọng lượng cất cánh tối đa: 34.500 kg (76.060 lb)
- Động cơ: 2× động cơ phản lực cánh quạt đẩy tỷ lệ đường vòng thấp AL-31FL
- Lực đẩy: 7.600 kgf (74.5 kN, 16.750 lbf) mỗi chiếc
- Lực đẩy khi đốt nhiên liệu phụ trội: 12.500 kgf (122.58 kN, 27.560 lbf) mỗi chiếc
Hiệu suất bay [sửa]
- Vận tốc cực đại: Mach 2.0 (2.120 km/h, 1.320 mph)
- Tầm bay: 3.000 km (1.620 dặm)
- Trần bay: 17.300 m (56.800 ft)
- Vận tốc bay lên: 230 m/s (45.275 ft/min)
- Áp lực lên cánh: 401 kg/m² (82.3 lb/ft²)
- Lực đẩy/trọng lượng: 1.0
Vũ khí [sửa]
Su-27PU có 8 giá treo vũ khí, trong khi Su-30MK có 12 giá treo vũ khí: 2 giá treo ở đầu cánh 3 giá treo dưới mỗi cánh, dưới mỗi động cơ có 1, và 2 giá treo tại điểm tiếp giáp giữa động cơ và cánh. Mọi phiên bản có thể mang 8 tấn vũ khí.
- 1× pháo Gryazev-Shipunov GSh-30-1 30 mm 150 viên đạn
- Tên lửa không đối không: 6× R-27ER1 (AA-10C), 2× R-27ET1 (AA-10D), 6× R-73E (AA-11), 6× RVV-AE (AA-12)
- Tên lửa không đối đất: 6× Kh-31P/Kh-31A tên lửa chống radar, 6× Kh-29T/L tên lửa dẫn đường bằng laser, 2× Kh-59ME, 1x Kh-41
- Bom: 6× KAB 500KR, 3× KAB-1500KR, 8× FAB-500T, 28× OFAB-250-270
Sự kiện và tai nạn [sửa]
- 12 tháng 6, 1999 : Triển lãm hàng không Paris (Video)
- 10 tháng 6, 2006 : Le Bourget, Triển lãm hàng không Paris, Pháp, một chiếc Su-30MK của Nga bị rơi - cả hai phi công đều nhảy dù an toàn, không ai dưới mặt đất bị thương.[3]
Tham khảo [sửa]
- ^ a b http://www.milavia.net/aircraft/su-27/su-27_ops.htm
- ^ SU30MKI
- ^ Moscow Defense Brief
- ^ Air Forces Monthly, August issue.
- ^ Sukhoi Su-30MK, KNAAPO.
- ^ Su-30MK Aircraft performance page, Sukhoi.
- ^ Gordon and Davidson 2006, pp. 92, 95-96.
- Gordon, Yefim and Davidson, Peter. Sukhoi Su-27 Flanker, Specialty Press, 2006. ISBN 978-1-58007-091-1.
Liên kết ngoài [sửa]
- [4]
- Su-30MK page on Sukhoi.org
- Su-30 page on FAS.org
- Su-30 page on GlobalSecurity.org
- Su-30 page on Milavia.net
- Su-30MK page on Airforce-Technology.com
- Sukhoi Flankers - The Shifting Balance of Regional Air Power
- Su-27 Series at Greg Goebel's AIR VECTORS
- Su-30 page on Veniks Aviation
- Su-30 page on Fighter Tactics Academy site
- Asia's Advanced Flankers on ausairpower.net
- Sukhoi Su-30 Videos
- Video on YouTube
- Su-30 Videos
- Malaysian SU-30MKM
- Su-30 bay biểu diễn
Nội dung liên quan [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm hình ảnh và tài liệu về: Sukhoi Su-30 |
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Sukhoi Su-30. |
Máy bay có cùng sự phát triển [sửa]
Máy bay có tính năng tương đương [sửa]
Danh sách tiếp theo [sửa]
| Su-30 | - Su-32 - Su-33 - Su-34 | |
| Su-30MKI | ||
| Su-30MKK | ||
Xem thêm [sửa]
|
|||||||||||||||||||||||||||||
|
|||||||||||
- Máy bay Sukhoi
- Máy bay tiêm kích Liên Xô 1980–1989
- Máy bay cường kích Liên Xô 1980–1989
- Máy bay tác chiến điện tử Liên Xô 1980–1989
- Máy bay chiến đấu
- Máy bay quân sự
- Máy bay tiêm kích
- Máy bay tiêm kích đánh chặn
- Máy bay cường kích
- Máy bay tác chiến điện tử
- Tiếp nhiên liệu trên không
- Máy bay hai động cơ
- Máy bay phản lực
- Máy bay cánh trên
- Máy bay cánh mũi
- Máy bay chiến đấu Liên Xô và Nga