Saturn AL-31

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
AL-31
Mẫu AL-31FN
Kiểu Động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt
Quốc gia chế tạo  Nga
Lược sử hoạt động
Lắp đặt chủ yếu trong
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Arkhip Mikhailovich Lyul'ka
Năm thiết kế Đầu những năm 1970 - 1985
Nhà sản xuất NPO Saturn
Giai đoạn sản xuất 1981 - nay
Biến thể
  • AL-31F
  • AL-31FP
  • AL-31A Series 3
  • AL-31FN
  • AL-31F-M1
  • R-32
  • AL-31ST
Thông số (AL-31F)
Chiều dài 4945 mm
Đường kính 910 mm
Chiều cao 1277 mm
Trọng lượng 1570 kg
Hiệu suất (AL-31F)
Lực đẩy
  • 74,5 kN (16.700 lbf) bình thường
  • 122,58 kN (27.560 lbf) khi sử dụng đốt sau
Hệ số nén 23:1
Hệ số hai viền khí 0,571:1
Lượng đối lưu khí 110 kg/s
Nhiệt độ đầu vào của tuốc bin 1327-1427 C (1600-1700 K)
Mức tiêu thụ nhiên liệu
  • 0,75 (Kg/h)/kgf
  • 1,92 (Kg/h)/kgf đốt sau
Tỷ lệ lực đẩy trên trọng lượng 8,22:1
Cấu tạo (AL-31F)
Loại máy nén 4 cánh quạt và 9 chu kỳ nén
Loại buồng đốt Hình khuyên
Loại tuốc bin 2 giai đoạn đơn

AL-31 là loại động cơ máy bay tuốc bin phản lực cánh quạt hệ số hai viền khí thấp có chức năng đốt sau do Lyulka nay là NPO Saturn của Nga phát triển. Việc thiết kế động cơ này bắt đầu từ đầu năm 1970, các cuộc thử nghiệm cấp quốc gia đã hoàn tất để đưa vào sản xuất và sử dụng năm 1985. Trong năm 1981 thì loại động cơ này được chế tạo thí điểm ở Hiệp hội công nghiệp động cơ tại Ufa. Nhưng sau khi nhà thiết kế Arkhip Mikhailovich Lyul'ka mất thì việc chế tạo và phát triển chuyển sang cho NPO Saturn. Nó được thiết kế chủ yếu để sử dụng cho máy bay chiến đấu siêu thanh Su-27 nhưng sau đó được phát triển để sử dụng cho các loại máy bay khác thông qua các phiên bản khác. Hiện tại, loại động cơ này được trang bị cho tất cả các máy bay Su-27 và gần như toàn bộ Tiêm 10.

Động cơ được thiết kế dưới dạng khối có thể tháo ráp gồm 14 phần để có thể dễ dàng bảo trì và sửa chữa. Động cơ có hệ thống tản nhiệt tốt có thể hoạt động ở độ cao lớn với tốc độ mach 2 bất kể đang bay bình thường hay bay ngược đầu xuống đất cũng như có hệ thống điều chỉnh chống quán tính để cung cấp nhiên liệu, giúp động cơ hoạt động ổn định khi máy bay ngừng đột ngột khi thực hiện thao tác hay tăng tốc bất ngờ khi đốt sau mà không làm đứt quảng việc cung cấp nhiên liệu. Động sau đó được nâng cấp gắn thêm lực đẩy vectơ để làm máy bay trở nên cơ động hơn.

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • AL-31F: Phiên bản cơ bản sử dụng trong Su-27 và các biến thể của nó.
  • AL-31FP: Điểm khác biệt của động cơ này với AL-31F là lực đẩy vectơ được kiểm soát giúp tăng đáng kể tính cơ động của máy. Lực đẩy vectơ có thể điều chỉnh ± 16° theo chiều dọc và ± 15 theo hai hướng. Loại động cơ này được lắp đặc trên các chiến đấu cơ thế hệ thứ 4 như Su-30Su-37.
  • R-32: Mẫu động cơ thử nghiệm cho mẫu máy bay thử nghiệp P-42 phát triển từ Su-27. Với công suất đẩy tăng lên 13.600 kg.
  • AL-31A Series 3: Bổ sung chức năng đốt sau tăng lực đẩy lên 12.800 kg sử dụng trong một thời gian ngắn để cất cánh hoặc trong trường hợp khẩn cấp cần tốc độ.
  • AL-31FN: Loại động cơ này dùng để trang bị cho các máy bay Tiêm 10 với vị trí gắn thấp hơn và lực đẩy tăng thêm 200 kgf.
  • AL-31F-M1: Mẫu nâng cấp dùng để trang bị cho Su-27SM, Su-27SM2 cũng như Su-34. Vớ lực đẩy tăng thêm 1000 kgf mà không tăng kích thước cũng như trọng lượng của động cơ và mức tiệu thụ nhiên liệu cũng giảm xuống. Hệ thống điều chỉnh lực đẩy vectơ cũng được cải tiến.
  • AL-41F1A: Phiên bản nâng cấp mạnh tay kết hợp với thiết kế động cơ AL-41F sử dụng cho Su-35BM với lực đẩy cơ bản là 86,3 kN (19.400 lb) và 142 kN (32.000 lb) khi sử dụng đốt sau.
  • AL-41F1: Bản nâng cấp khác dự định sử dụng cho PAK-FA. Với trọng lượng là 1.420 kg, lực đẩy khi đốt sau là 33.000 lbs (147 kN). Tỷ lệ lực đẩy trên trọng lượng là 10,5:1.
  • AL-31ST: Phiên bản dùng để phát điện của động cơ AL-31F với công suất 16 MW sử dụng trong các nhà máy nhiệt điện sử dụng khí tự nhiên.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Saturn AL-31 tại Wikimedia Commons