Sukhoi Su-24

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sukhoi Su-24 Fencer
Sukhoi Su-24 in 2003.jpg
Kiểu Máy bay tấn công/cường kích, ném bom
Hãng sản xuất Sukhoi
Chuyến bay đầu tiên 17 tháng 1, 1970
Được giới thiệu 4 tháng 2, 1974
Tình trạng Đang hoạt động
Hãng sử dụng chính Không quân Nga
Không quân Ukraina
Không quân Iran
Số lượng được sản xuất 1400+
Chi phí máy bay $24-25 triệu USD(1997)[1]

Sukhoi Su-24 (tiếng Nga: Су-24) (tên ký hiệu của NATO Fencer - kiếm sĩ) là một máy bay tấn công ném bom hiện đại của Liên Xô vào giữa những năm 1970-1980. Nó có thể bay trong mọi thời tiết, có 2 chỗ, 2 động cơ, đây là chiếc máy bay Xô Viết đầu tiên được trang bị hệ thống tích hợp số dẫn đường/tấn công, giống như loại General Dynamics F-111 Aardvark của Hoa Kỳ[cần dẫn nguồn], dù Su-24 có những khả năng tương đương với Panavia Tornado[cần dẫn nguồn]. Hiện nay nó vẫn đang hoạt động trong Không quân Nga và các nước khác trên thế giới.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Su-24 bắt đầu được lên kế hoạch thiết kế chế tạo vào đầu những năm 1960, theo sau một sự đòi hỏi về một máy bay tấn công ném bom mới để thay thế cho Ilyushin Il-28Yakovlev Yak-28. Các bản vẽ kỹ thuật đã được hoàn thiện vào năm 1964, thiết kế này là một máy bay có thể bay trong mọi thời tiết, đạt tốc độ siêu âm ở độ cao thấp, và một khả năng dẫn đường và ném bom chính xác cao. Hơn nữa, các tướng lĩnh Không quân Xô Viết nhận thấy đây là một máy bay còn có thế thay thế được những máy bay chiến đấu hiện có của họ, nó chỉ cần một đường băng ngắn là có thể cất cánh và hạ cánh.

Mẫu T-6-1

Sukhoi cũng như đối thủ Mikoyan-Gurevich (lúc này cũng đang phát triển một máy bay chiến đấu mà sau này sẽ trở thành MiG-23), vào lúc đầu đã nghiên cứu khả năng của động cơ phản lực cho phép máy bay giảm bớt đường băng cất cánh. Mẫu đầu tiên có tên gọi là T-6-1, bay lần đầu tiên vào năm 1967, nó có cánh tam giác với động cơ nâng trong thân máy bay, tương tự như T-58VD 'Flagon-B', nhưng thiết kế này tỏ ra kém hiệu quả. Một phiên bản sửa đổi, T-6-2, không có những động cơ nâng trong thân, nhưng đã quay trở lại loại cánh bẻ xuống ở đầu cánh và có rãnh. Cánh này giống với loại BAC TSR-2 của Anh. Trong khi T-6-2 chứng minh nó có thể sử dụng dễ dàng, nhưng lực nâng của cánh thấp đã gây ra những thất bại trong thử nghiệm do không đạt yêu cầu.

Một giải pháp tốt hơn là loại cánh có hình dạng thay đổi được, cũng được ứng dụng trên Su-17Mikoyan-Gurevich 23-11 lúc đó. Mẫu thứ 2 của Sukhoi được gắn một đôi cánh có thể thay đổi được hình dạng, có tên gọi là T-6-2IG. Nó bay lần đầu tiên vào năm 1970, và đã thử nghiệm thành công để đưa vào sản xuất hàng loạt, lúc đầu dưới tên gọi là Su-15M (tên gọi này đã bị dịch sai bởi những nhà phân tích quân sự Phương Tây, và nó còn nhầm lẫn với tên gọi Su-19 cho đên năm 1981).

Việc sản xuất Su-24 (tên ký hiệu của NATO là 'Fencer-A') được tiến hành khẩn trương và nó bay lần đầu tiên vào tháng 12-1971, và bắt đầu phục vụ vào năm 1974. NATO không có một bức ảnh tình báo rõ ràng nào về Su-24 cho đến khi một trung đoàn được triển khai đến Đông Đức 5 năm sau đó vào năm 1979, và với những khả năng của mình, Fencer đã gây ra những mối lo sợ trong các nhà phân tích quân sự Phương Tây lúc đó, giống như MiG-25 Foxbat. Nó là một máy bay chiến đấu tinh vi nhất trong trang bị của Liên Xô cho đến nay, Su-24 đã trải qua những vấn đề khác nhau, nhưng nó rất được các phi công yêu thích[cần dẫn nguồn]. Mặc dù được biết đến với tên gọi Fencer ở Phương Tây, nhưng các phi công Liên Xô lại đặt cho nó cái tên là Chemodan (чемодан, va li) vì khả năng mang vũ khí và tính linh hoạt của nó.

Su-24 được cải tiến nhiều lần và có các phiên bản nâng cấp khác nhau, và các phiên bản này lại được NATO gọi với các tên khác nhau (dù trong trang bị của Liên Xô, chúng vẫn có cùng tên gọi như nhau). Một phiên bản nâng cấp phát triển được sử dụng rộng rãi là Su-24M (tên ký hiệu của NATO là 'Fencer-D'), bắt đầu được sản xuất vào năm 1978. Su-24M được biên chế trong các đơn vị vào năm 1983. 2 phiên bản chuyên dụng khác là Su-24MR ('Fencer-E' - phiên bản trinh sát) và Su-24MP ('Fencer-F' - phiên bản thu thập ELINT), được phát triển từ Su-24M.

Một phiên bản xuất khẩu của Su-24M là Su-24MK (K là kommercheskiy - thương mại), được bán cho vài khách hàng nước ngoài. 10 chiếc được bán cho Algérie, 15 chiếc cho Lybia và 12 chiếc cho Syria. Tổng cộng 32-33 chiếc Su-24MK đã được bán cho IranIraq, nhưng nguồn tin không rõ ràng. Những thông tin của Nga công bố 9 chiếc được bán cho Iran và 24 chiếc cho Iraq, hiện tại đều đang hoạt động trong không quân Iran. Iran nói rằng họ có 14 chiếc và thu được 16-18 chiếc của Iraq, những chiếc máy bay này đã chạy trốn khỏi Iraq khi Chiến tranh vùng Vịnh nổ ra năm 1991.

Liên Xô cũng sử dụng một số chiếc Su-24 trong chiến tranh Afghanistan năm 1984, và Fencer được trong thấy trong các phi vụ trong xung đột Chechnya những năm 1990. Khả năng ném bom chính xác của nó đã gây ra những tranh cãi, khi mà con số thường dân thiệt mạng trong các vụ ném bom tương đối lớn.

Khoảng 1.200 chiếc Su-24 thuộc mọi phiên bản đã được sản xuất. Một số lớn Su-24 của Liên Xô đã được chuyển đến phục vụ trong không quân các nước Azerbaijan, Belarus, Kazakhstan, Nga, UzbekistanUkraina. 577 chiếc hiện này vẫn đang hoạt động trong biên chế các đơn vị ở Nga, chia ra 447 chiếc thuộc Không quân Nga và 130 chiếc thuộc Hải quân Nga.

Một số thông tin nói rằng Fencer sẽ bị thay thế bởi một máy bay chiến đấu ném bom khác của SukhoiSu-34 'Fullback' hoặc một máy bay hiện đại nào đó nếu như ngân quỹ của Nga cho phép mua sắm thay thế.

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Hình dạng khí động học của Su-24 tương tự như máy bay chiến đấu cùng thời MiG-23 'Flogger', mặc dù về thực chất thì Su-24 lớn hơn. Nó có cánh ở nửa phía trên của thân, cánh của Su-24 có một đoạn nhỏ gắn cố định trên thân, còn phần cánh còn lại có thể chuyển động. Phần cánh còn lại có thể di chuyển đên 4 góc khác nhau: 16° để cất cánh và hạ cánh, 35° và 45° cho bay tuần tiễu tại những độ cao khác nhau, và 69° cho tỷ lệ tối thiểu giữa cánh và diện tích cho sự lao tới ở độ cao thấp. Cánh cụp cánh xòe cung cấp khả năng thực hiện thao tác STOL hoàn hảo, cho phép tốc độ hạ cánh đạt 230 km/h (143 mph), thậm chí thấp hơn cả Su-17 'Fitter' dù Su-24 có trọng lượng cất cánh lớn hơn nhiều. Lực nâng cánh cao cung cấp một sự vững chắc ổn định khi bay và hạn chế tối đa các rung động khi có gió mạnh, nhưng theo báo cáo thì Su-24 có phần nào hơi khó bay.

Những lo sợ ở Phương Tây về Fencer có lẽ là từ động cơ phản lực hiệu quả của Su-24, với động cơ hoạt động hiệu quả đã khiến cho tầm hoạt động của Su-24 tăng lên. Thật ra, Su-24 có 2 động cơ phản lực đốt lần 2 loại Saturn/Lyulka AL-21F-3A có công suất 109.8 kN (24.700 lbf) mỗi chiếc. Những động cơ này đưa đến một hiệu suất hoàn hảo, nhưng lại tiêu thụ nhiều nhiên liệu hơn những động cơ khác. Nó cũng khá đắt để sản xuất và bảo dưỡng.

Su-24 có 2 khe lấy không khí được thiết kế ở 2 bên thân, không giống như Su-17 ở mũi. Fencer-A có những khe lấy không khí có thể thay đổi được độ dốc, cho phép Su-24 đạt tốc độ tối đa là 2.320 km/h (1.440 mph), Mach 2.18, trên độ cao là 17.500 m (57.400 ft). Vì Su-24 được sử dụng trong các nhiệm vụ tầm thấp, nên những cơ cấu truyền động để thay đổi độ dốc ở khe lấy không khí đã được loại bỏ để giảm trọng lượng và bảo dưỡng. Điều này không có hiệu quả ở hiệu suất bay ở độ cao thấp, nhưng tốc độ cực đại tuyệt đối và độ cao đạt được ở mức Mach 1.35 và 11.000 m (36.100 ft). Những chiếc Fencer-A đầu tiên có một cái hộp ở sau thân máy bay, và nó nhanh chóng bị thay thế trong sản xuất bằng một bộ phận chứa dù ở phía sau, bộ phận dù sẽ được bung ra khi máy bay hạ cánh để giảm bớt lực kéo. Máy bay cũng được sửa lại để tăng thêm 3 chiếc ăng-ten đặt cạnh nhau ở mũi, một bộ phận hãm bằng dù cố định, và một bộ nạp không khí ở cánh đuôi đứng. Máy bay cải tiến này được NATO gọi với tên 'Fencer-B', nhưng không xứng đáng là một tên gọi Xô Viết mới.

Su-24 có 2 ghế được đặt cạnh nhau (giống như F-111, 1 phi công và một sĩ quan điều khiển hệ thống vũ khí. Hệ thống điện tử hiện đại nhất từng được sử dụng ở Liên Xô, với một hệ thống tích hợp đầu tiên của Liên Xô, và hệ thống máy tính hóa dẫn đường/tấn công. Những chiếc Su-24 đầu tiên mang vũ khí tấn công và radar địa hình riêng biệt, cùng với một bộ dẫn đường Doppler.

Vũ khí trang bị của Su-24 là một pháo đơn bắn nhanh GSh-6-23 với 500 viên đạn, gắn ở dưới bụng. Không giống như MiG-27 'Flogger-J' đặt pháo ở bên ngoài, Su-24 có một cửa chớp để khi không sử dụng súng thì đóng lại. Nó có 8 điểm treo vũ khí (2 dưới phần khớp quay cánh, 2 dưới cánh ngoài và 4 dưới thân máy bay) có thể mang đến 8.000 kg (17.600 lb) vũ khí, bao gồm các vũ khí hạt nhân khác nhau. 2 hoặc 4 tên lửa dẫn đường hồng ngoại R-60 (NATO AA-8 'Aphid') được mang để tấn công trên không.

Những chiếc Su-24 ban đầu chỉ có hệ thống chống gây nhiễu điện tử yếu ớt, với nhiều chiếc thuộc phiên bản 'Fencer-A' và 'Fencer-B' bị hạn chế với radar cảnh báo đã cũ Sirena không có hệ thống phân tích. Những chiếc Su-24 sản xuất sau này có những radar cảnh báo thông minh, cảnh báo tên lửa và trang bị EMC tích cực, với những ăng-ten tam giác trên cạnh của đầu vào không khí và đỉnh của cánh đuôi đứng. Những chiếc Su-24 này có tên gọi là 'Fencer-C', dù lần nữa nó không có một tên gọi riêng biệt ở Liên Xô. Một vài chiếc 'Fencer-C' và Su-24M 'Fencer-D' sau đó có cánh lớn hơn nên được trang bị những mảnh kim loại gây nhiễu hoặc pháo sáng gây nhiễu.

Su-24 thường được so sanh với F-111 của Mỹ, nhưng dù khả năng của F-111 không thể sánh được với Su-24 trong tầm hoạt động và khả năng mang vũ khí và nhiên liệu[cần dẫn nguồn]. Những khả năng của Su-24 chỉ có Panavia Tornado là tương đương[cần dẫn nguồn].

Cuộc chiến tranh với Gruzia năm 2008 mọi máy bay ném bom của Nga, kể cả Su–24 chỉ có thể sử dụng bom phá thông thường và tên lửa không điều khiển. Muốn vậy máy bay phải bay đến cách mục tiêu 2–3 km và nằm lọt trong vòng ngắm của lưới lửa phòng không.[2]

Theo chuyên gia quân sự Anton Lavrov nói với báo Izvestia rằng: "Không quân Nga hiện có nhiều Su–24. Chúng rơi đều đều, riêng năm 2012 đã rơi ba chiếc, nhưng vẫn đủ cho mấy năm tới. Lại còn có Su–24M đã được trang bị tổ hợp ngắm mới SVP– 24, cũng như Su– 24M2" nên việc vỡ kế hoạch cung cấp Su-34 theo chuyên gia Anton Lavrov cũng không đến nỗi nguy kịch[2]

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • T-6-1: mẫu đầu tiên với cánh tam giác.
  • T-6-2: cánh bẻ xuống ở đầu cánh và có rãnh.
  • T-6-2IG: mẫu thứ 3 được lắp cánh cụp cánh xòe.
  • Su-24 {'Fencer-A'}: phiên bản chính thức đầu tiên.
  • Su-24 {'Fencer-B'}: phát triển thân hoàn chỉnh.
  • Su-24 {'Fencer-C'}:
  • Su-24M ('Fencer-D'): một phiên bản Fencer nâng cấp bắt đầu phát triển vào giữa những năm 1970. bay lần đầu tiên vào năm 1976 và được biên chế vào năm 1983, phần buồng lái phía trước được làm dài thêm 0.76m, thêm vào một cần tiếp nhiên liệu trên không có thể thu vào được, và một mái che ngắn cho loại radar tấn công mới 'Orion-A'. Nó có thể được nhận dạng nhờ vào một que gồm 3 nhánh ở mũi máy bay. Radar tấn công mới được thích hợp với radar địa hình Relyef và hệ thống điều khiển bay tự động SAU-6M1, cho phép máy bay có thể tự động bay ở độ cao thấp. Một hệ thống dẫn đường quán tính mới PNS-24M và máy tính cũng được thêm vào. Một hệ thống dẫn đường bằng laser/TV (tương tự như hệ thống Pave Tack của Mỹ) cũng được gắn vào phần dư ra ở phía dưới cạnh thân máy bay tương thích với những vũ khí được điều khiển, bao gồm bom điều khiển laser và bom điều khiển TV, và tên lửa Kh-14 (AS-12 'Kegler') và Kh-59 (AS-13 'Kingbolt'), và cả với tên lửa và bom không điều khiển. Những hệ thống mới đã làm giảm sứ chứa nhiên liệu bên trong tới 85 lít (22.4 gallon).
  • Su-24BM:
  • Su-24MM: Su-24M với động cơ Saturn AL-31.
  • Su-24MK ('Fencer-D'): phiên bản xuất khẩu của Su-24M (một số phục vụ trong các trung đoàn không quân của các quốc gia thuộc khối SNG), chuyến bay đầu tiên vào năm 1987, về cơ bản giống với Su-24M, nhưng với hệ thống điện tử yếu hơn. Và không có hệ thống tiếp nhiên liệu trên không.
  • Su-24K:
  • Su-24bis:
  • Su-24MR ('Fencer-E'): phiên bản trinh sát chiến thuật, bay lần đầu tiên vào tháng 9-1980 và bắt đầu phục vụ năm 1985. Nó giữ lại một số hệ thống của Su-24M như hệ thống dẫn đường, bao gồm radar địa hình, nhưng lại loại bỏ radar tấn công Orion-A, hệ thống laser/TV, và pháo, thay vào đó là 2 camera toàn cảnh, camera TV 'Aist-M' ('Stork'), radar cảnh báo trên không RDS BO 'Shtik' ('Bayonet') (SLAR), và hệ thống trinh sát hồng ngoại 'Zima' ('Winter'). Những cảm biến khác được mang trong những mẫu dạng pod.
  • Su-24MP ('Fencer-F'): phiên bản ELINT, người ta có ý định thay thế Yak-28PP 'Brewer-E' bằng phiên bản này. Nó bay lần đầu tiên vào tháng 12-1979. Su-24MP được thêm vào những ăng-ten bổ sung cảm biến thu lượm thông tin tình báo, bỏ qua hệ thống laser/TV, nhưng giữ lại pháo và 4 tên lửa khong đối không R-60 (AA-8) để phòng không. Chỉ có một số lượng nhỏ được chế tạo (12 đến 20 chiếc).
  • Su-24M2: phiên bản nâng cấp từ Su-24M và Su-24MK chuyến bay đầu tiên vào năm 2001, trang bị hệ thống GPS, nâng cấp màn hình buồng lái với màn hình đa chức năng MFDs), HUD, bản đồ chuyển động số, hệ thống hiển thị trên mũ phi công, và vũ khí dẫn đường, bao gồm tên lửa không đối không R-73 (AA-11 'Archer').
  • Su-24MK2: phiên bản xuất khẩu Su-24M2 cho Algeri.
  • Su-24MRK2: phiên bản Su-24MR xuất khẩu cho Algeri dựa trên Su-24M2.

Các nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các nước sử dụng Su-24
  • Flag of Afghanistan.svg Afghanistan: 15 chiếc Su-24MK được sơn màu sơn của Không quân Afghanistan trong suốt những năm 1980, thật chất là những máy bay Xô Viết, và chúng rút khỏi Afghanistan năm 1989.
  • Flag of Algeria.svg Algérie: mua 44 chiếc.
  • Flag of Azerbaijan.svg Azerbaijan:
  • Flag of Belarus.svg Belarus:
  • Flag of Iran.svg Iran: 9 đến 14 chiếc được mua bởi không quân nước này, và sau đó 18 chiếc nữa từ Iraq đào thoát chạy sang Iran.
  • Flag of Iraq.svg Iraq: 18 đến 24 chiếc được mua (không phục vụ từ năm 2003).
  • Flag of Kazakhstan.svg Kazakhstan:
  • Flag of Libya.svg Libya: 15 chiếc.
  • Flag of the Soviet Union.svg Liên Xô: chuyển cho các nước cộng hòa sau khi tan rã.
  • Flag of Russia.svg Nga: khoảng 458 chiếc vẫn đang phục vụ, 400 chiếc trong Không quân Nga và 58 chiếc trong Hải quân Nga.
  • Flag of Syria.svg Syria: 12 chiếc.
  • Flag of Ukraine.svg Ukraina: khoảng 200 chiếc được chuyển lại từ Liên Xô.
  • Flag of Uzbekistan.svg Uzbekistan:

Thông số kỹ thuật (Su-24M)[sửa | sửa mã nguồn]

Hình chiếu Su-24

Đặc điểm riêng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phi đoàn: 2 (phi công và sĩ quan điều khiển vũ khí)
  • Chiều dài: 22.67 m (80 ft 6 in)
  • Sải cánh: 17.63 m cánh xòe, 10.36 m cánh cụp tối đa (57 ft 10 in / 34 ft 0 in)
  • Chiều cao: 6.19 m (20 ft 3 in)
  • Diện tích: 55.2 m² (594 ft²)
  • Trọng lượng rỗng: 22.300 kg (49.160 lb)
  • Trọng lượng cất cánh: 35.910 kg (79.170 lb)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 39.700 kg (87.500 lb)
  • Động cơ: 2x động cơ phản lực Saturn/Lyulka AL-21F-3A, công suất 75 kN và 110 kN khi đốt nhiên liệu lần 2 (16.900 lbf / 24.700 lbf)

Hiệu suất bay[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vận tốc cực đại: Mach 1.1, 1.340 km/h trên biển; 1.550 km/h trên độ cao thường (830 mph / 960 mph)
  • Tầm bay: 2.500 km (tuần tiễu), 560 km (tấn công) (1.550 mi / 350 mi)
  • Trần bay: 11.000 m (36.100 ft)
  • Vận tốc lên cao: 150 m/s (29.500 ft/min)
  • Lực nâng của cánh: 651 kg/m² (133 lb/ft²)
  • Lực đẩy/trọng lượng: 0.62

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có tính năng tương đương[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]