Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Logo-hcmut.svg
Tên gọi khác Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh
Thành lập 27 tháng 10 năm 1957
Loại hình Đại học kỹ thuật
Hiệu trưởng PGS. TS, Nhà giáo ưu tú Vũ Đình Thành
Địa chỉ 268 Lý Thường Kiệt, phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Vị trí Hồ Chí Minh, Việt Nam
Điện thoại +84-8-38.647.256
Trang mạng www.hcmut.edu.vn

Trường Đại học Bách khoa (thành viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh viết tắt ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh) là trường đại học kỹ thuật đầu ngành tại miền Nam Việt Nam.

Tính đến tháng 5 năm 2005, trường đã có 11 khoa chuyên ngành, 10 trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, 4 trung tâm đào tạo, 10 phòng ban chức năng và một công ty trách nhiệm hữu hạn. Từ năm 1975 đến 2005, trường đã đào tạo được 45.000 kỹ sư, cử nhân. Chỉ tính từ năm 1994 đến 2005, trường đã đào tạo 20.000 kỹ sư, cử nhân, 1.503 thạc sĩ, 25 tiến sĩ, nhiều sinh viên tốt nghiệp của trường hiện nay đang giữ những cương vị quản lý, chuyên gia đầu ngành của các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các thành phần kinh tế ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.[1] Số liệu năm 2010 cho thấy tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm sau một năm của trường là rất cao, khoảng 99% sinh viên ở các chương trình chính quy đại trà, chương trình tiên tiến và Kỹ sư Chất lượng cao Việt - Pháp.

Trường là một trong những trung tâm khoa học kỹ thuật hàng đầu ở Việt Nam, là trường đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam trực thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Sứ mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Trường ĐHBK – ĐHQG TP. HCM là một trong những trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học – chuyển giao công nghệ hàng đầu tại Việt Nam. Trường cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho phía Nam và cả nước, vươn tới trình độ khu vực Đông Nam Á và thế giới.
Theo Trang web trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Logo kỷ niệm 50 năm thành lập trường Phú Thọ - Bách Khoa (1957-2007)

Thời kỳ thành lập và các trường thành viên (1957 – 1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (1957 – 1972)[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG TP. HCM đã trải qua 50 năm. Tiền thân của Trường Đại học Bách Khoa là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (TTQGKT) được thành lập ngày 27/10/1957 với nhiệm vụ "… đào tạo thanh niên các ngành học Cao đẳng Kỹ thuật cần thiết cho nền Kinh-Tế và Kỹ -Nghệ Quốc-Gia". Tên chính thức của Trường là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật nhưng vì tọa lạc ở xóm Phú Thọ phía tây bắc Sài Gòn nên thường được gọi là Trường Kỹ thuật Phú Thọ.[2] Trường này hoạt động từ năm 1956 đến năm 1974 thì nhập vào Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức

Nhưng nếu tính về truyền thống lâu đời của các trường thành viên thuộc TTQGKT thì có lẽ phải tính từ những năm đầu thế kỷ 20.

Cho đến những năm đầu thập niên 70, TTQGKT có 5 trường, mỗi trường mang một sắc thái, lịch sử riêng với khoảng 3.000 kỹ sư và cán sự tốt nghiệp.

1. Trường Cao đẳng Công chánh
Xem thêm về nội dung này tại Trường Cao đẳng Công chánh.

Được thành lập từ năm 1911, đến năm 1917 là thành viên của Trường Cao đẳng Đông Dương. Từ năm 1919 trường đào tạo các chuyên viên, cán sự và kỹ sư công chánh. Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp, trường đóng cửa. Đến kháng chiến chống Pháp, vì lý do an ninh, ngày 1/10/1947, Pháp dời trường vào Sài Gòn. Từ năm 1950, trường đào tạo kỹ sư công chánh Đông Dương và tổ chức thi tuyển ngạch Kỹ sư ở các xứ thuộc địa (Cao Miên, Lào). Hệ thứ nhất tuyển những học sinh lớp đệ nhị cấp là những người đã trải qua lớp dự bị và học hai năm những kiến thức kỹ thuật cần thiết và những người có bằng tú tài Pháp hay bằng tú tài Pháp – Việt, hoặc những người đã có chứng chỉ cử nhân (toán đại cương hay vật lý đại cương). Các lớp học ở trường Cao đẳng Công chánh do các Giáo sư của các sở giáo dục, công chánh, kinh tế, y tế, địa chánh … giảng dạy.

Từ năm 1957, trường trở thành thành viên của Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật. Từ năm 1973 – 1974, Trường Cao đẳng Công chánh chỉ đào tạo kỹ sư công chánh và kỹ sư địa chánh. Chương trình của trường là 3 năm, không kể năm thứ nhất học tại trường khoa học. Nội dung đào tạo là các kiến thức kỹ thuật tổng quát trong các lĩnh vực có liên quan.

2. Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ

Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ được thành lập năm 1956 và được sát nhập làm thành viên của TTQGKT vào năm 1957. Trường đào tạo các kỹ sư công nghệ các ngành cơ khí, đúc luyện kim, kỹ nghệ sắt, ô tô …

3. Trường Cao đẳng Điện học

Trường Cao đẳng Điện học nguyên là trường Vô tuyến điện (Ecole de Radio – Electricité). Trường Vô tuyến điện được thành lập trên cơ sở Khoa Nhân viên vô tuyến điện được thành lập ngày 23/11/1947 trực thuộc Trường Đại học Khoa học Sài Gòn, làm nhiệm vụ đào tạo nhân viên kỹ thuật vô tuyến điện hạng 1, hạng 2. Có thời gian Khoa đóng ở khuôn viên trường Lycée Petrus Ký Sài Gòn. Đến tháng 01/1949 trở thành trường Vô tuyến điện, đào tạo kỹ thuật viên vô tuyến điện (2 năm), điện tín viên, trắc lượng viên, chuẩn bị các kỳ thi về hàng hải và hàng không. Năm 1950, Trường trực thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục, sau đó là Nha Kỹ thuật và Mỹ thuật học vụ.

Năm 1957, Trường sát nhập làm thành viên của TTQGKT và đổi tên là trường Cao đẳng Điện học. Trường đào tạo kỹ sư điện, cán sự điện và điện tử, huấn luyện trung cấp và thợ chuyên môn cho các xí nghiệp công tư và quân nhân của Bộ Quốc phòng chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Năm 1973 – 1974, trường Cao đẳng Điện học chỉ đào tạo chuyên viên, kỹ sư, còn cấp cán sự điện được chuyển qua trường Đại học Chuyên nghiệp Trung cấp.[3]

4. Trường Cao đẳng Hóa học

Thành lập năm 1962 ngay trong TTQGKT, đào tạo cán sự hóa học. Đến năm 1968, Trường bắt đầu đào tạo kỹ sư hóa học. Từ năm 1973 – 1974, Trường chỉ còn đào tạo kỹ sư, không đào tạo cấp cán sự.

5. Trường Việt Nam Hàng hải

Trường Việt Nam Hàng hải được thành lập năm 1951, chương trình 8 tháng đào tạo thuyền viên hàng hải. Năm 1957, Trường được sát nhập vào TTQGKT. Trường có hai Ban: Ban Thuyền trưởng và Ban Cơ khí. Trường đặt nặng phần thực hành và kinh nghiệm hàng hải. Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo trong 2 năm, sinh viên cần tập sự và hành nghề trên các thương thuyền trước khi trở về lớp học tu nghiệp 3 tháng để thi tốt nghiệp.

Năm 1960 Trường đào tạo cấp cán sự với chương trình 2 năm cho thuyền viên, lái máy, sĩ quan hàng hải.

Năm 1973 Trường đào tạo kỹ sư hàng hải, với chương trình 4 năm.

Trên khuôn viên 14,5 ha của tổng Phú Thọ hình thành một trung tâm đào tạo các kỹ sư và cán sự kỹ thuật, với hệ thống bảy tòa nhà hai và ba tầng gồm văn phòng, lớp học (giảng đường), thư viện, các phòng thí nghiệm và các xưởng thực tập. Trung tâm cũng có khu thể thao, thiết kế ban đầu dành cho 1.600 sinh viên của tất cả các hệ và 200 cán bộ, nhân viên, giáo sư. Muốn vào các trường cao đẳng của Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật, người học phải có bằng tú tài 2 (trung học đệ nhị cấp), ban B (toán) và phải qua một kỳ thi tuyển. Thời gian học từ 4 đến 5 năm (tùy theo ngành) cho bậc kỹ sư và 2 năm cho bậc cán sự.

Học viện Quốc gia Kỹ thuật (1972 – 1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sắc lệnh số 135SL/GD ngày 15/9/1972 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật được đổi tên là Học viện Quốc gia Kỹ thuật (HVQGKT) gồm sáu trường thành viên: trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản, trường Cao đẳng Công chánh, trường Cao đẳng Công nghệ (Quốc gia Kỹ sư Công nghệ), trường Cao đẳng Điện học, trường Cao đẳng Hóa học, trường Cao đẳng Hàng hải (Việt Nam Hàng hải).

Trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản được thành lập theo sắc lệnh 135SL/GD để hỗ trợ cho 5 trường cao đẳng thuộc HVQGKT. Trường Kỹ thuật và Khoa học căn bản có nhiệm vụ giảng dạy cho sinh viên năm thứ nhất các kiến thức về kỹ thuật khoa học để sinh viên có thể theo các ngành chuyên môn ở các năm tiếp theo (tại 5 trường cao đẳng còn lại). Học sinh có bằng tú tài 2, ban B, hoặc tú tài của trường Trung học Kỹ thuật Công nghiệp được thi tuyển, nếu đậu sẽ học năm thứ nhất tại trường này. Kỳ thi tuyển năm 1973 – 1974, có 2.081 thí sinh dự thi, có 365 người trúng tuyển, (nam 350, nữ 15), chiếm tỷ lệ 17,5%. Thi tuyển gồm các môn toán, vật lý, hóa học.

Năm 1974, trường Cao đẳng Công chánh thành lập thêm Ban Cao học Thanh hóa (xử lý môi trường) đào tạo bậc sau đại học đầu tiên của ngành kỹ thuật công nghệ ở miền Nam.

Ngày 29/3, 30/4, 7/7 năm 1973 chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã ký các sắc lệnh thành lập Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức, với cơ sở vật chất là mặt bằng 400 haquận Thủ Đức, gồm các khoa đại học (nay gọi là trường đại học) sau đây:

  1. Đại học Khoa học cơ bản, trụ sở tại thư viện A2.
  2. Đại học Kỹ thuật (Học viện Quốc gia Kỹ thuật), gồm các trường (nay gọi là khoa) cao đẳng Điện học, cao đẳng Hóa học, cao đẳng Công chánh, cao đẳng Công nghệ, cao đẳng Hàng hải, trụ sở tại nhà A1.
  3. Đại học Cao cấp, mới thành lập, chỉ có 3 cán bộ, trụ sở tại phòng 204 A1.
  4. Đại học Nông nghiệp Sài Gòn (nay là trường Đại học Nông lâm TP. Hồ Chí Minh).
  5. Đại học Giáo dục Thủ Đức (nay là trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh).
  6. Đại học Thiết kế Thị thôn (chưa hình thành).

Trụ sở của lãnh đạo và văn phòng Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức đặt tại số 3 Công trường Quốc tế (cùng trụ sở với Viện Đại học Sài Gòn).

Dự kiến năm 1985 chính quyền Việt Nam Cộng hòa chuyển tất cả các trường thuộc Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức lên cơ sở ở Thủ Đức.

Thời kỳ ổn định và phát triển (1975 – 1987)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ ổn định (1975 – 1976)

Ngày 30/4/1975, đất nước thống nhất, nhà trường chuyển sang giai đoạn mới, đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Công tác tiếp quản

Trước 30/4/1975 trong khuôn viên Trường có:

Theo sự phân công của Trung ương Cục Miền Nam, khi tiếp quản Sài Gòn, ngành nào vào tiếp quản cơ sở vật chất và cán bộ công nhân viên của ngành đó. Do cán bộ giáo dục chiến khu ít nên đoàn cán bộ Bộ Cơ khí – Luyện kim vào tiếp quản các trường của Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức và cử ông Trương Quang Mùi thực hiện công tác tiếp quản trường. Đoàn cán bộ của Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam vào tiếp quản trường Đại học Chuyên nghiệp trung cấp và cử ông Lê Tài Thọ làm công tác tiếp quản tại trường (sau này khi Bộ Giáo dục và Thanh niên của Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam đến nhận tiếp quản trường thì ông Lê Tài Thọ về công tác Phó Ban Công nghiệp Thành ủy TP. Hồ Chí Minh).

Khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ năm 1975, giáo chức, cán bộ công nhân viên và sinh viên của trường đã bảo vệ toàn vẹn cơ sở vật chất, tài sản của trường và chờ cán bộ tiếp quản đến giao. Vì thế cơ sở vật chất của trường không bị hư hại, không bị mất mát và chúng ta tiếp tục công tác đào tạo được thuận lợi.

Giai đoạn quân quản
Trường Đại học Kỹ thuật Phú Thọ

Để chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định cử một đoàn cán bộ từ các Bộ thực hiện nhiệm vụ này. Tối ngày 20/4/1975 quyết định triệu tập cán bộ từ các Bộ của Ban tổ chức Trung ương Đảng CSVN đến tận tay các cán bộ được triệu tập. Sáng ngày 21/4/1975, toàn thể cán bộ đi tiếp quản Sài Gòn tập trung tại trường Nguyễn Ái Quốc để học tập chính trị, chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn. Đoàn cán bộ của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp gồm các ông:

  1. Thứ trưởng Lê Văn Giang, Trưởng đoàn
  2. PTS. Nguyễn Tấn Lập, Trưởng khoa Kinh tế trường Đại học Kinh tế – Kế hoạch Hà Nội, Phó đoàn
  3. PTS. Huỳnh Văn Hoàng, Phó khoa Chế tạo máy trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Phó đoàn phụ trách hậu cần
  4. PTS. Đặng Hữu, Trưởng khoa Cầu đường trường Đại học Xây dựng Hà Nội, thành viên
  5. PTS. Phan Hữu Dật, Trưởng khoa Lịch sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, thành viên
  6. PTS. Nguyễn Hữu Chí, Phó khoa Vật lý trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, thành viên
  7. CN. Nguyễn Minh Thành, Vụ phó Vụ Trung học chuyên nghiệp, thư ký

Ngày 29/4/1975, đoàn đi máy bay vào Đà Nẵng rồi vào Phan Rang. Từ Phan Rang (sân bay Thành Sơn) đoàn đi ô tô tới Sài Gòn vào sáng sớm ngày 02/5/1975.

Khi đoàn vào đến Sài Gòn, Bộ Giáo dục và Thanh niên thành lập Tiểu ban Đại học và Trung học chuyên nghiệp và cử PTS. Nguyễn Tấn Lập làm Trưởng tiểu ban kiêm Trưởng ban quân quản trường Đại học Luật, PTS. Huỳnh Văn Hoàng làm Phó tiểu ban phụ trách tiếp quản cơ sở vật chất của các trường đại học – trung học chuyên nghiệp, tổ chức thu gom vũ khí, công tác đoàn thể thanh niên kiêm Phó ban quân quản trường Đại học Kỹ thuật, PTS. Nguyễn Duy Minh – Phó tiểu ban phụ trách công tác tổ chức các bộ, PTS. Phan Hữu Dật – Phó tiểu ban phụ trách công tác chính trị tư tưởng kiêm Trưởng ban quân quản trường Đại học Văn khoa, PTS. Đặng Hữu làm Trưởng ban quân quản trường Đại học Kỹ thuật, PTS. Nguyễn Hữu Chí làm Trưởng ban quân quản trường Đại học Khoa học. Giữa tháng 5/1975, đoàn cán bộ miền Bắc tăng cường cho Trường và cùng vào bàn giao tiếp quản Trường gồm các ông: PTS. Võ Thị Ngọc Tươi, PTS. Nguyễn Vĩnh Trị, PTS. Nguyễn Văn Sáu. ông Trương Quang Mùi sau bàn giao xin chuyển công tác về Trường.

Các cán bộ đầu tiên về tiếp quản trường gồm có:

  1. PTS. Đặng Hữu, Trưởng ban quân quản, Tổ trưởng Đảng CSVN
  2. PTS. Huỳnh Văn Hoàng, Phó ban quân quản, Tổ phó tổ Đảng
  3. PTS. Võ Thị Ngọc Tươi
  4. PTS. Nguyễn Văn Sáu
  5. PTS. Nguyễn Vĩnh Trị
  6. KS. Trương Quang Mùi

Việc đầu tiên là tổ Đảng và Ban quân quản đã quyết định sát nhập tất cả các trường trong khuôn viên trường hiện nay thành một trường và đặt tên là trường Đại học Kỹ thuật Phú Thọ. Trên cơ sở quyết định đó đã sát nhập các tổ chức và các khoa tương ứng của hai trường Đại học Kỹ thuật và trường Đại học Chuyên nghiệp trung cấp thành một đơn vị.

Ngày 8/11/1975 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thành lập Viện Đại học Sài Gòn (VĐHSG) gồm 11 trường đại học trên địa bàn (Khoa học, Văn khoa, Luật khoa, Y khoa, Nha khoa, Dược khoa, Sư phạm, Kiến trúc, Kỹ thuật Phú Thọ, Giáo dục Thủ Đức, Nông nghiệp).

Ngày 24/3/1976 Ban Dân chính Đảng Trung ương thành lập Đảng bộ Viện Đại học Sài Gòn, Viện Đại học Sài Gòn là sự sáp nhập Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức và Viện đại học Sài Gòn cũ cho phù hợp với điều kiện mới.

Viện phối hợp chung và chỉ đạo, tổ chức các hoạt động của các trường. Trung ương chỉ thị dành cả năm học 1975 – 1976 cho công tác chính trị tư tưởng cho các giáo viên, sinh viên miền Nam, cải tạo và tổ chức lại nền đại học ở miền Nam.

Đợt nghiên cứu lý luận từ ngày 18/1/1976 đến ngày 15/4/1976 được xem là nội dung học tập ở học kỳ I năm 1975 – 1976 của các trường. Đối với sinh viên, do có các trường đại học tư đào tạo các ngành nghề khác nhau nay xem xét lại. Giải thể tất cả các đại học tư, khối Khoa học xã hội, Luật. Sinh viên năm thứ nhất của các đại học này thi lại năm thứ nhất vào các trường khác, sinh viên các năm khác được đào tạo giáo viên và cán bộ kinh tế. Sinh viên tự nguyện vào ngành Sư phạm sẽ được cấp học bổng. Sinh viên các ngành Tự nhiên, Khoa học kỹ thuật được tiếp tục học và chuyển vào trường đại học đồng thời điều chỉnh chương trình học cho phù hợp. Giáo chức trường tư nếu đạt yêu cầu thì tuyển vào trường công. Kết quả tuyển được 5.200 sinh viên sư phạm, 2.200 sinh viên hệ cao đẳng kỹ thuật, 4.161 sinh viên hệ cao đẳng kinh tế.

Ngày 20/10/1975 tuyển sinh vào 11 trường đại học với 3 khối thi A, B, C.

Từ năm 1976 trở đi, các trường đã trở lại hoạt động bình thường với các loại hình đào tạo:

  • Hệ đại học dài hạn 4 – 5 năm
  • Hệ ngắn hạn
  • Hệ chuyên tu dành cho cán bộ trong ngành
  • Hệ cao đẳng 2 – 3 năm

Tên gọi trường Đại học Kỹ thuật Phú Thọ chỉ tồn tại có một năm, nhưng đây lại là thời gian có các hoạt động tái cấu trúc diễn ra mạnh mẽ, tạo tiền đề cho việc tiếp tục công tác đào tạo của nhà trường.

Ngày 27/10/1976, Thủ tướng Chính phủ CHXHCNVN ký Quyết định số 426/TTg, tổ chức lại 11 trường đại học thuộc VĐHSG, còn 8 trường:

  1. Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh (sát nhập hai trường Đại học Khoa học và Đại học Văn khoa)
  2. Đổi tên trường Đại học Kỹ thuật Phú Thọ thành trường Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh
  3. Đại học Sư phạm kỹ thuật Thủ Đức (nguyên là Đại học Giáo dục Thủ Đức)
  4. Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh (sát nhập 3 trường Đại học Y, Dược, Nha khoa)
  5. Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
  6. Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
  7. Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
  8. Đại học Kiến trúc

Các trường Đại học Tổng hợp, Bách Khoa, Sư phạm Kỹ thuật, Kinh tế thuộc Bộ Đại học và THCN, trường Đại học Y dược thuộc Bộ Y tế, trường Đại học Kiến trúc thuộc Bộ Xây dựng, trường Đại học Nông lâm thuộc Bộ Nông nghiệp và trường Đại học Sư phạm thuộc Bộ Giáo dục, do các bộ quản lý về tổ chức nhân sự và ngân sách. Viện Đại học Sài Gòn giải thể vì đã làm tròn sứ mạng lịch sử.

Trường Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh mới hình thành có các khoa:

  1. Khoa Cơ khí (trên cơ sở trường Cao đẳng Công nghệ cũ)
  2. Khoa Xây dựng
  3. Khoa Thủy lợi
  4. Khoa Hóa
  5. Khoa Điện

và các phòng ban:

  1. Tổ chức cán bộ
  2. Tài vụ
  3. Thiết bị vật tư
  4. Hành chánh quản trị
  5. Giáo vụ
  6. Nghiên cứu khoa học
  7. Tuyên huấn

Quy mô đào tạo có 1.200 sinh viên đại học chính quy và 800 sinh viên hệ cao đẳng. Kỳ tuyển sinh tháng 10/1975, chỉ tiêu tuyển sinh là 600 sinh viên đưa tổng số sinh viên lên 2.600. Cán bộ giảng dạy có 36 người từ miền Bắc vào, 147 cán bộ tại chỗ, 122 cán bộ và nhân viên phục vụ.

Thời kỳ phát triển (1976 – 1987)
Trường Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh
1976 – 1981

Trong giai đoạn này, trường Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh củng cố hoàn thiện các chương trình đào tạo về ngành nghề và bắt đầu đưa ra các định hướng về nghiên cứu khoa học.

Các ngành nghề và chương trình đào tạo, tổ chức các khoa, phòng ban, bộ môn, phòng thí nghiệm theo mô hình của các trường đại học phía Bắc (Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Xây dựng Hà Nội …).

Đặc biệt trường tiếp nhận một đội ngũ lớn cán bộ từ các trường đại học phía Bắc chuyển vào, bổ sung cho lực lượng CBGD, CNVC. Số cán bộ này có ý thức chính trị vững vàng, có tinh thần làm việc hăng say, có trình độ khoa học kỹ thuật và sư phạm giỏi, đã làm cho các hoạt động của trường không ngừng phát triển và ổn định.

Từ năm 1979 Trường bắt đầu đào tạo tại chức khóa I.

Năm 1979 Trường tham gia phục vụ chiến đấu ở biên giới phía Nam. Trường đã có nhiều đề tài nghiên cứu phục vụ quốc phòng và góp sức cùng quân đội trong chiến tranh biên giới Tây Nam, như nghiên cứu máy dò mìn, nghiên cứu phòng lạnh ướp tử thi liệt sĩ... được đánh giá cao. Với những đóng góp này nhóm nghiên cứu phục vụ quốc phòng Khoa Điện được tặng Huân chương Lao động hạng Ba vào năm 1982.

Trong thời kỳ khó khăn về kinh tế, thực hiện chủ trương tiết kiệm, tăng gia sản xuất, Trường đã đưa hàng ngàn cán bộ, sinh viên đi Sông Bé tăng gia sản xuất trên 20 ha. Đây là một chủ trương không thể thực thi được vì cán bộ chúng ta không được đào tạo về nông nghiệp, không có kiến thức, kinh nghiệm làm nông nghiệp, hơn nữa làm nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều. Kết quả là Trường bỏ ra công sức rất lớn, tốn rất nhiều công của mà khi thu hoạch như lời Phó Hiệu trưởng Đặng Hữu Ngươn của trường lúc đó nói: "Chúng ta gieo một hột đậu phộng, thu được hai hột đậ u phộng". Trước kết quả đó, Đảng ủy đã quyết định thôi không làm nông nghiệp nữa, trả đất cho tỉnh Sông Bé và xác định hướng phát triển của Trường trên thế mạnh là đội ngũ cán bộ giảng dạy, ngành nghề đào tạo công nghiệp, dịch vụ, nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật.

1982 – 1987

Để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế ở phía Nam, Trường đã quyết định phải có những bước đột phá trong đào tạo. Trường Đại học Bách Khoa đã quyết định mở hội nghị Thanh Đa (năm 1982), Long Hải (năm 1984) để đưa ra chiến lược đào tạo. Sau các hội nghị này Trường đã chuyển sang đào tạo diện rộng. Sinh viên được đào tạo cơ sở lý thuyết trên lĩnh vực rộng, nắm vững chuyên môn chuyên ngành sâu, đặc biệt có khả năng tự học hỏi để làm việc, khả năng tự chuyển đổi để thích nghi với nghề nghiệp. Chương trình đào tạo chuyển từ 4 năm sang 5 năm cho bậc kỹ sư, các ngành nghề chia ra nhóm ngành Cơ khí, Địa chất, Điện, Điện tử, Hóa học và Thực phẩm, Xây dựng, Công trình thủy. Trong mỗi nhóm ngành lại chia ra các chuyên ngành, các ngành mở thường xuyên và 11 ngành mở không thường xuyên. Đào tạo theo diện rộng là một sự lựa chọn hợp lý, có tính đón đầu, vì số sinh viên tốt nghiệp của Trường ĐHBK TP. HCM sẽ là những kỹ sư hoạt động trên nhiều lĩnh vực trong xã hội, trong nhiều loại hình doanh nghiệp.

Từ năm 1981 – 1988, dưới sự lãnh đạo của các Hiệu trưởng Trần Hồng Quân (1977 – 1982) và Hiệu trưởng Huỳnh Văn Hoàng (1982 – 1989), tập thể Ban Giám hiệu đã đưa Trường Đại học Bách Khoa từng bước trở thành trung tâm đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật đa ngành, có vị trí quan trọng ở phía Nam, có uy tín trong xã hội. Đến năm 1988 trường đã có 6 khoa: Cơ khí, Điện, Hóa, Công trình thủy, Xây dựng, Địa chất.

Thời kỳ đổi mới (1987 – đến nay)[sửa | sửa mã nguồn]

1988 – 1993

Trong giai đoạn này Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra chủ trương đào tạo hai giai đoạn. Do đó, năm 1988 Trường đã điều chỉnh chương trình đào tạo và tách Khoa Cơ bản thành một đơn vị quản lý đào tạo giai đoạn Đại cương – giai đoạn đào tạo khối kiến thức cơ bản. Năm 1991, Khoa Công trình thủy sát nhập vào Khoa Xây dựng. Năm 1992, Khoa Quản lý Công nghiệp được thành lập. Năm 1993, Khoa Khoa học Máy tính được thành lập, là tiền thân Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính ngày nay. Năm 1993, Khoa Mỹ thuật Công nghiệp được thành lập đánh dấu giai đoạn nhà trường phát triển thành một trường đại học đa ngành đa lĩnh vực. Khoa Mỹ thuật Công nghiệp đến năm 1995 chuyển về trường Đại học Kiến trúc TP. HCM. Tháng 12/1989 trường bắt đầu đào tạo cao học, tháng 9/1990 tổ chức tuyển sinh sau đại học khóa đầu tiên gồm 7 ngành với 68 học viên cao học và 6 nghiên cứu sinh. Tháng 12/1992 đã có 48 thạc sĩ khóa đầu tiên tốt nghiệp. Thời gian đầu, việc quản lý cao học được giao cho Khoa Tại chức sau đó hệ đào tạo này chuyển về phòng Đào tạo Sau đại học. Năm 1990, lần đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện bổ nhiệm Hiệu trưởng bằng hình thức bỏ phiếu bầu của toàn thể cán bộ viên chức nhà trường. GS. TSKH. Trương Minh Vệ đã được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng nhiệm kỳ 1990 – 1994 và 1994 – 1998. GS. Trương Minh Vệ đã cùng lãnh đạo trường góp phần to lớn vào tiến trình đổi mới đào tạo của Trường.

1993 – 1995

Một giai đoạn ngắn về thời gian, nhưng lại để lại dấu ấn của nhà trường. Đó là giai đoạn Trường chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ, một sự đổi mới có tính đột phá trong đào tạo. Lần đầu tiên một trường đại học Việt Nam đã áp dụng một phương thức đào tạo khác với phương thức truyền thống vốn có, tiếp cận đến mô hình đào tạo của nền đại học tiên tiến.

Trường Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh đã tập trung tài lực để cải tiến chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đào tạo. Nhà trường đã thực hiện quản lý đào tạo hoàn toàn bằng máy tính. Với những nỗ lực đó, chúng ta đã từng bước vươn tới để hòa nhập với các trường đại học tiên tiến trong khu vực.

1995 – 2001

Theo Nghị định 16/CP ngày 17/1/1995 của Thủ tướng Chính phủ, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (ĐHQG TP. HCM) được thành lập với 10 trường đại học thành viên. Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh là một trong các trường thành viên của ĐHQG TP. HCM với tên gọi Trường Đại học Kỹ thuật.

Ngày 12/2/2001 với Quyết định 15/2001/QĐ-TTg và Quyết định 16/2001/QĐ-TTg của Chính phủ về tổ chức lại ĐHQG TP. HCM. ĐHQG TP. HCM còn lại 3 trường thành viên là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân VănTrường Đại học Kỹ thuật. Trường Đại học Kỹ thuật được mang lại tên truyền thống là Trường Đại học Bách Khoa.

Đây là giai đoạn phải vượt qua nhiều khó khăn với việc đào tạo hai giai đoạn tách rời. Giai đoạn 1 do Trường Đại học Đại cương quản lý (sau là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên), chúng ta chỉ quản lý giai đoạn 2. Với cách đào tạo này đã làm cho nhà trường khó thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ, nhưng toàn thể cán bộ viên chức nhà trường đã nỗ lực, kiên trì vượt khó để duy trì và hoàn thiện học chế tín chỉ.

2001 - nay
Bách Khoa một buổi chiều thu

Giai đoạn 2001 – đến nay, vượt lên tất cả, Trường Đại học Bách Khoa đã giữ vững uy tín trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, tích cực xây dựng đội ngũ CBGD và cán bộ quản lý, nhiều công tác đã được đẩy mạnh. Nhà trường chủ trương nâng cao chất lượng đào tạo đại học và sau đại học bằng việc không tăng quy mô đại học. Đổi mới cơ sở vật chất, giáo trình và cải tiến phương pháp giảng dạy. Trong thời gian này, Trường chủ trương mở đào tạo đại học tại chức ở địa phương để cung cấp đội ngũ cán bộ kỹ thuật cho các tỉnh phía Nam. Bên cạnh đó tăng cường quy mô đào tạo sau đại học, hàng năm quy mô đào tạo sau đại học tăng 20 – 25%. Hiện nay Trường đã đào tạo 39 ngành thạc sĩ và 41 ngành tiến sĩ. Nhà trường chủ trương đẩy mạnh liên kết đào tạo với nước ngoài trong đào tạo đại học và sau đại học.

Hàng loạt các chương trình liên kết được hình thành như Chương trình Thụy Sĩ – AIT đào tạo quản lý công nghiệp, Chương trình IUT đào tạo bảo dưỡng công nghiệp – hợp tác với Pháp, Chương trình đào tạo cơ học với cộng đồng Châu Âu và Bỉ, Chương trình Kỹ sư chất lượng cao với Pháp, Chương trình du học và bán du học với các trường đại học Úc, Chương trình AUN/SEED – Net, Chương trình liên kết với các đại học Úc, Mỹ, Anh, Scotland, Nhật, v.v… Hàng loạt các dự án nghiên cứu khoa học được triển khai như ASIA LINK, ODA, liên kết với Viện nghiên cứu Tokyo, Đài Loan, Hàn Quốc. Các chương trình phối hợp đào tạo nghiên cứu sinh được mở ra với Đại học Tây Úc, với JAIST (Nhật). Đồng thời Trường mở các lớp đào tạo kỹ sư tài năng (Cơ khí, Công nghệ Thông tin, Hóa, Điện – Điện tử, Xây dựng), Chương trình tiên tiến Hệ thống năng lượng.

Bách Khoa đón nhận danh hiệu "Anh Hùng Lao Động"

Trường vận động các tổ chức cấp nhiều học bổng cho sinh viên, nhiều dự án trang bị phòng thí nghiệm và nghiên cứu có giá trị lớn: phòng thí nghiệm tự động hóa, điện tử viễn thông, AVL, polymer, công trình, thiết kế vi mạch, sinh học, môi trường, GIS, hai phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia. Bằng vốn tự có, Trường đã xây dựng và cải tạo cơ sở vật chất, xây mới nhà C4, C5, C6, B4, sửa chữa lớn Hội trường A5, xây mới ký túc xá Bách Khoa 497 Hòa Hảo, khu Thương mại Lý Thường Kiệt, chỉnh trang khuôn viên trường, nâng cấp nhiều phòng thí nghiệm, xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm. Trong 4 năm, tổng giá trị kinh phí xây dựng cơ bản là 280 tỷ đồng, đây là một nỗ lực rất lớn của toàn thể cán bộ viên chức nhà trường.

Trong thời gian này, Trường Đại học Bách Khoa đã nhận được Huân chương Lao động hạng Nhất (1998), Huân chương Độc lập hạng Ba (2002), danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2005), Huân chương Độc lập hạng Nhì (2007) và Huân chương Độc lập hạng Nhất (2012) cùng với nhiều bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ban ngành, đoàn thể. Trường còn là một trong những lá cờ đầu của ngành giáo dục đại học Việt Nam về NCKH và CGCN.

Đội ngũ cán bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 5 năm 2012, trường có 1.418 cán bộ công chức trong đó có 1.038 cán bộ giảng dạy (CBGD). Trong số cán bộ giảng dạy có 7 Giáo sư, 74 phó Giáo sư, 327 Tiến sĩ, 434 Thạc sĩ, 272 giảng viên có trình độ Đại học và 5 Cao đẳng (Đã bao gồm GV có học hàm GS và PGS).

Tuổi trung bình của giảng viên là 39 tuổi. Tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ trở lên trên tổng số giảng viên cơ hữu của nhà trường là 31,5%. Tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ thạc sĩ trên tổng số giảng viên cơ hữu của nhà trường là 41,8%.[4]

Cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bóng đá tại Cơ Sở 1

Đại học Bách Khoa là một trong những trường Đại học có diện tích lớn nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh, trường có hai cơ sở ở nội thành và ngoại thành.

Cơ sở nội thành là cơ sở chính có diện tích 14,2 ha tại 268 Lý Thường Kiệt, Quận 10, TP. HCM. Tại cơ sở 268 Lý Thường Kiệt, quận 10, TP. HCM với 96 phòng thí nghiệm, 3 xưởng thực hành và 1 thư viện.[5]

Cơ sở ngoại thành có diện tích 26 ha tại Linh Trung, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.[5]

Ngoài ra, Trường Đại học Bách Khoa có một khu Ký Túc Xá ở nội thành tại 497, đường Hòa Hảo, quận 10 với diện tích 1,4 ha cách trường 1,5 km.[6]

Chương trình đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Bách Khoa hiện đang đào tạo bậc đại học (đại học chính quy, không chính quy và cao đẳng) và sau đại học (cao học và nghiên cứu sinh).

Đại học chính quy[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình đại học chính quy hiện nay của Trường tuyển sinh hằng năm gần 4.000 chỉ tiêu theo hình thức tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. Các ngành thi tuyển theo Khối A (Toán, Vật Lý, Hóa Học), Khối A1 (Toán, Vật Lý, Anh Văn) và V (Toán, Vật Lý, Vẽ Kỹ Thuật).[7] Một số ngành hằng năm có điểm chuẩn rất cao và ổn định là Khoa học và Kỹ thuật Máy tính, Điện-Điện tử, Công nghệ Hóa học, Kỹ thuật Xây Dựng, Cơ khí (Cơ điện tử). Chương trình đại học chính quy được đào tạo theo hệ tín chỉ có thời gian học mặc định là 9 học kì, tối đa 14 học kỳ. Tuy nhiên sinh viên có thể linh động hoàn tất chương trình học nhanh hay chậm hơn thời gian mặc định tùy vào khả năng và hoàn cảnh của mình. Sinh viên ra trường được cấp bằng kỹ sư trừ sinh viên ngành Quản lý công nghiệp được cấp bằng cử nhân.

Năm Cơ khí - Cơ điện tử KH&KT Máy Tính Điện - Điện Tử Hóa Xây Dựng
2002 Cơ khí 17.5/Cơ điện tử 20.5 21.5 20 21.5 20
2003 Cơ khí 21.5/Cơ điện tử 24.5 24 21.5 23.5 21.5
2004 Cơ khí 19.5/Cơ điện tử 20 21 22.5 22 22.5
2005 Cơ khí 25/Cơ điện tử 27 25.5 25 26.5 24.5
2006 Cơ khí 19/Cơ điện tử 21 22.5 21 21 23
2007 Cơ khí 20/Cơ điện tử 23.5 23.5 23 23 21
2008 Cơ khí 19/Cơ điện tử 21 21 20 20 20.5
2009 18 21.5 20 21 18
2010 17 19 18.5 19 20
2011 17 18.5 18.5 18.5 19
2012 18.5 18.5 19 18.5 19.5
2013 22 22.5 22.5 23 20
2014 21 21.5 21.5 21 19.5

Kỹ sư tài năng[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một chương trình do nhà nước đầu tư ở các trường đại học lớn trên cả nước trong đó có Trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Các sinh viên trong chương trình được tuyển chọn từ những sinh viên giỏi nhất ở chương trình đào tạo chính quy bình thường sau năm I hoặc năm II và được sàng lọc qua từng học kỳ. Những sinh viên thuộc chương trình Tài năng được tách riêng thành 1 lớp (sĩ số khoảng 35 sinh viên/lớp) với điều kiện học tập tốt hơn lớp thường, giảng dạy bởi những giảng viên đầu ngành trong Khoa, bài tập và đề thi đòi hỏi cao hơn, một số môn học và thi hoàn toàn bằng tiếng Anh. Bằng tốt nghiệp khác với chương trình chính quy thông thường.[8]

Hiện nay chương trình đào tạo Kỹ sư Tài năng bao gồm các ngành: Điều khiển tự động (Khoa Điện-Điện tử); Cơ khí chế tạo máy, Cơ điện tử (Khoa Cơ khí); Khoa học và Kỹ thuật Máy tính (Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính); Xây dựng dân dụng công nghiệp (Khoa Kỹ thuật Xây dựng); Kỹ thuật Hóa học (Khoa Kỹ thuật Hóa học).

Kỹ sư chất lượng cao Việt - Pháp (PFIEV)[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một chương trình đào tạo đại học được quản lý bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và Đại sứ quán Pháp. Chương trình mở khóa đầu tiên vào năm học 1999-2000 ở 4 trường đại học hàng đầu Việt Nam. Hiện nay, chương trình đang có 12 ngành đào tạo.

Khác với các chương trình khác của Trường, chương trình PFIEV đào tạo theo hệ niên chế với thời gian là 5 năm có số lượng ngành và sinh viên PFIEV nhiều nhất cả nước. Sinh viên muốn theo chương trình PFIEV phải đăng ký ngay sau khi trúng tuyển vào trường và được tuyển chọn dựa vào kết quả thi Đại Học (Toán x3, Lý x2, Hóa x1). Kết quả đầu vào không yêu cầu tiếng Pháp nhưng trong quá trình học sinh viên phải học cả 2 ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Pháp. Chương trình PFIEV rất nặng so với chương trình đào tạo thông thường nên nếu sinh viên không thích nghi được với chương trình có thể xin rời khỏi lớp sau năm I và trở lại chuyên ngành đã đăng ký lúc tuyển sinh.

Hiện tại trường đang dạy 7 ngành: hệ thống năng lượng, viễn thông,xây dựng dân dụng và năng lượng, hàng không, cơ điện tử, vật liệu tiên tiến polyme và composit.[7]

Không chính quy[sửa | sửa mã nguồn]

Cao đẳng[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, bậc cao đẳng chỉ có riêng ngành bảo dưỡng công nghiệp và các sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể liên thông lên chuyên ngành cơ khí

Sau đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay Trường đã và đang đào tạo 39 ngành thạc sĩ và 41 ngành tiến sĩ. Nhà trường chủ trương đẩy mạnh liên kết đào tạo với nước ngoài trong đào tạo đại học và sau đại học.

Chương trình đào tạo có liên kết với nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Trường có các chương trình đào tạo đại họcsau đại học liên kết với các trường nước ngoài.

Đại học:

  1. Kỹ sư Cơ điện tử liên kết với Đại Học Công nghệ Sydney (UTS) (Úc)
  2. Kỹ sư Dầu Khí liên kết với Đại Học Adelaide (Úc)
  3. Kỹ sư Công Nghệ Thông Tin liên kết Đại Học Queensland và Đại Học La Trobe (Úc)
  4. kỹ sư Xây Dựng liên kết đại học Griffith (úc)
  5. Kỹ sư Điện Điện Tử liên kết đại học UIUC và Rutgers và Catholic (Mỹ)
  6. Kỹ sư Điện Điện Tử liên kết Đại học Nagaoka (Nhật)
  7. Cử nhân Quản Trị Kinh Doanh liên kết đại học UIS (University of Illinois at Springfield, Mỹ)

Cao học:

  1. Thạc sĩ Quản trị kinh doanh chuyên ngành Tư Vấn Quản Lý Quốc Tế (MBA - MCI), liên kết đại học University of Applied Sciences of Northwestern Switzerland
  2. Thạc sĩ Quản Trị Kinh Doanh chuyên ngành Quản lý chiến lược và Quản Lý dự án (MBA MSM), liên kết đại học MSM của Hà Lan

Nghiên cứu khoa học và quan hệ quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trường có nhiều mối quan hệ hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu trong nước và nước ngoài. Đối với nước ngoài, hiện nay trường đã có mối quan hệ hợp tác với 70 trường đại học và viện nghiên cứu.

Trường là một trong những trường đi đầu về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Trong 10 năm qua, trung bình mỗi năm trường thực hiện 90 đề tài các cấp với kinh phí là 4,2 tỷ đồng. Thực hiện hơn 800 hợp đồng/năm với doanh thu 43 tỷ đồng/năm. Đặc biệt năm 2004, nhà trường thực hiện hơn 100 hợp đồng chuyển giao công nghệ với doanh thu 51 tỷ đồng.

Các khoa[sửa | sửa mã nguồn]

Trường hiện có 11 khoa, đào tạo các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật:

Khoa Khoa học và Kỹ thuật máy tính[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Khoa học & Kỹ thuật Máy Tính - Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh

Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính được thành lập năm 1978 với tên là Bộ môn Điện toán thuộc khoa Điện - Điện tử, Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1985, khoa được tách ra thành Trung tâm điện toán và đến năm 1993 là Khoa Công Nghệ Thông Tin. Năm 2007, khoa được tái cơ cấu lại thành khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính.[9]

Khoa đào tạo ở các bậc đại học, cao học và tiến sỹ. Có hai ngành đào tạo ở bậc đại học là Khoa học Máy tính và Kỹ thuật Máy tính. Mục tiêu chính của chương trình đào tạo là cung cấp cho sinh viên các kiến thức cần thiết để có thể làm việc ở các trường đại học và các công ty.

Hiện tại khoa có hơn 80 giảng viên với hơn 25 tiến sỹ và được tổ chức thành 2 chuyên ngành với 5 bộ môn:

Khoa Điện - Điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Điện - Điện tử

Khoa Điện - Điện tử được thành lập từ năm 1957, Khoa Điện - Điện Tử thuộc Trường Đại học Bách Khoa – ĐH Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh.[10]

Với đội ngũ gồm 140 giảng viên có năng lực chuyên môn cao, Khoa Điện - Điện Tử đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển nền kinh tế vùng phía Nam của đất nước bằng các kết quả đào tạo và nghiên cứu khoa học. Các thế hệ sinh viên của Khoa sau khi tốt nghiệp đã và đang có nhiều cống hiến quan trọng. Nhiều người trong số họ hiện đang giữ các vị trí chủ chốt trong các khu vực kinh tế Nhà nước và tư nhân.

Cho đến nay, Khoa đào tạo 3 chuyên ngành với tất cả 7 bộ môn:

Khoa Cơ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Cơ khí - Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh

Là một trong những khoa thành lập đầu tiên của trường (1956, trên nền trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ). Năm 1976, khoa có tên chính thức là Khoa Cơ khí. Các bộ môn của khoa gồm: Cơ điện tử, Chế tạo máy, Thiết kế máy, Công nghệ nhiệt lạnh, Cơ giới hoá xí nghiệp & Xây dựng, Kỹ thuật điều khiển tự động, Thiết bị & công nghệ vật liệu Cơ khí, Kỹ thuật hệ thống công nghiệp, Kỹ thuật dệt may.

Khoa Cơ khí là một trong những khoa có quy mô đào tạo lớn trong trường, với hệ thống thiết bị phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học được quan tâm đầu tư hàng năm.

Hiện nay, số lượng sinh viên khoa Cơ khí (hệ đào tạo đại học chính quy), học viên cao học, nghiên cứu sinh khoảng 2.500. Trong những năm gần đây, khoa Cơ khí tuyển sinh khoảng 600 sinh viên hệ đại học chính quy, khoảng 40 học viên cao học. Số lượng sinh viên tốt nghiệp hàng năm khoảng 500 sinh viên.

Nhiều cựu sinh viên của khoa hiện nay đang giữ những cương vị quản lý, lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan nhà nước, các sở ban ngành và các tập đoàn kinh tế mạnh ở miền nam Việt Nam.

Khoa Kỹ thuật Hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Kỹ thuật Hoá học tiền thân là Trường Cao đẳng Hoá học thuộc Trung tâm Kỹ thuật Quốc gia Phú Thọ, được thành lập từ năm 1962. Sau tháng 4 năm 1975 được đổi tên là Khoa Kỹ thuật Hoá học thuộc Trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG Tp. HCM. Khoa đào tạo nguồn nhân lực đại học, sau đại học cho các ngành thuộc lĩnh vực Hoá học, Thực phẩm, Sinh học.[11]

Sau nhiều năm hoạt động và phát triển đến nay với đội ngũ hiện nay gồm: 96 CBGD, trong đó có 01 GS, 04 PGS, 25 TS, 49 ThS. Hằng năm Khoa đảm nhận đào tạo gần 400 kỹ sư trong 3 chuyên ngành chính gồm 7 bộ môn và 1 PTN trung tâm:

Khoa Kỹ thuật Xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Được thành lập năm 1957, trong trường Cao đẳng Công chánh thuộc khuôn viên Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú Thọ. Năm 1976, chính thức trở thành khoa Kỹ thuật Xây dựng. Hiện nay, khoa có 7 chuyên ngành: Xây dựng dân dụng và công nghiệp, Xây dựng Cầu Đường, Cảng và công trình biển, Vật liệu xây dựng, Thủy lợiThủy điệnCấp thoát nước, Trắc địaĐịa chính, Kiến trúc.[12]

Khoa Công nghệ Vật liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Công nghệ Vật liệu được thành lập năm 2001 với các chuyên ngành đào tạo: công nghệ Vật liệu Kim loại và Hợp kim, công nghệ Vật liệu polime và công nghệ Vật liệu silicat.[13]

Khoa Khoa học Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Khoa học Ứng dụng được thành lập vào năm 2003, hiện có 4 bộ môn: Vật lý Kỹ thuật y sinh, Vật lý Ứng dụng, Toán Ứng dụng, Cơ Kỹ thuật, đào tạo 2 chuyên ngành: Vật lý kỹ thuật, Cơ kỹ thuật.[14]

Khoa Quản lý Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Quản lý Công nghiệp được thành lập năm 1990. Hiện nay khoa này có 2 ngành là Quản lý Sản xuất & Dự án và Quản trị Kinh doanh với 4 bộ môn: Hệ thống Thông tin Quản lý và Khoa học Ra quyết định, Quản lý Sản xuất và Điều hành, Tiếp thị và Quản lý, Tài chính.[15]

Khoa Môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa Môi trường được thành lập năm 1999, gồm các chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường, Quản lý môi trường, Hệ thống thông tin địa lý.[16]

Khoa Kỹ thuật Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2000, khoa Kỹ thuật Giao thông được thành lập do sự hợp nhất của 3 ngành: Kỹ thuật Ô tô - Máy động lực, Kỹ thuật Tàu thủyKỹ thuật Hàng không.[17]

Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân là khoa Địa chất, được thành lập năm 1978. Qua nhiều năm phát triển và thêm nhiều chuyên ngành, năm 2004, khoa có tên chính thức là Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí. Khoa đào tạo các chuyên ngành: Địa chất môi trường, Địa kỹ thuật, Địa chất dầu khí, Địa chất khoáng sản, Khoan và khai thác dầu khí.[18]

Trung tâm trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Kỹ thuật xây dựng;
  • Trung tâm Thiết bị nhiệt và năng lượng mới;[19]
  • Trung tâm Nghiên cứu lọc hóa dầu;[20]
  • Trung tâm Bồi dưỡng Kỹ thuật Văn hóa Bách Khoa;[21]
  • Trung tâm Ngoại ngữ[22];
  • Trung tâm Nghiên cứu vật liệu Silicat;
  • Trung tâm Kỹ thuật điện toán;[23]
  • Trung tâm Du học;[24]
  • Trung tâm Đào tạo bảo dưỡng công nghiệp;[25]
  • Trung tâm Công nghệ thông tin địa lý[26];
  • Trung tâm Chuyển giao công nghệ;
  • Trung tâm Nghiên cứu vật liệu mới;
  • Trung tâm Nghiên cứu vật liệu Polymer;
  • Trung tâm BR&T;[27]
  • Trung tâm Nghiên cứu vật liệu mài cao cấp.

Thành tích đạt được[sửa | sửa mã nguồn]

Đạt nhiều giải thưởng trong và ngoài nước. Trong 10 năm gần đây đã đạt 208 giải Olympic trong đó có 31 giải nhất, 29 giải nhì, 72 giải ba. Đặc biệt sinh viên trường Đại học Bách khoa đã ba lần đạt chức vô địch Robocon Châu Á - Thái Bình Dương năm 2002 (Nhật Bản), 2004 (Hàn Quốc) và 2006 (Malaysia).[28]

Trường Đại học Bách Khoa đã nhận được Huân chương Lao động hạng Nhất (1998), Huân chương Độc lập hạng Ba (2002), danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2005), Huân chương Độc lập hạng Nhì (2007) và huân chương Độc lập hạng Nhất (2012) cùng với nhiều bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ban ngành, đoàn thể.

Nhân vật nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Những nhân vật nổi tiếng từng học tập và làm việc tại ĐH Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh:

  • Nguyễn Thiện Nhân, Giáo sư, Tiến sĩ, Chính trị gia, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, từng là Phó Hiệu trưởng Đại học Bách Khoa TPHCM.
  • Trương Hòa Bình, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam
  • Lâm Du Sơn, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực VIệt Nam
  • Trần Thị Thu Hà, Phó Chủ Tịch Ủy ban Nhân dân TpHCM
  • Nguyễn Thanh Mỹ, Tiến sĩ, Nhà phát minh, Doanh nhân, Chủ tịch Hãng American Dye Source, Inc., Chủ tịch Tập đoàn Mỹ Lan[29][30].
  • Phan Thanh Bình, Giám đốc Đại Học Quốc Gia TpHCM
  • Trần Quí Thanh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Giám đốc Điều hành Tập đoàn Tân Hiệp Phát[31]
  • Lê Trí Thông, Phó Tổng Giám Đốc DongA Bank[32]

Biểu trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu trưng trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh do Nguyễn Đức Ánh (Trưởng Khoa Mỹ thuật công nghiệp trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh) thiết kế. Và hiện nay có rất nhiều phiên bản khác nhau.

Ngày 27 tháng 12 năm 2006, Hiệu trưởng lúc đó là Phan Thị Tươi đã ký quyết định chọn mẫu biểu trưng chuẩn để sử dụng trong các hoạt động của trường.[33]

Biểu trưng Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh là một khối không gian 3 chiều. Tạo thành từ trung tâm là 1 hình lục giác đều nội tiếp vòng tròn. Cấu trúc theo kiến trúc của hình tổ ong (tổ ong được coi là một hình có kiến trúc đơn giản và khoa học). Tổ ong cũng có nghĩa là sự chăm chỉ, siêng năng, vững chắc và sáng tạo của Đại học Bách khoa. Các hình khối xung quanh tượng trưng cho các khoa của Bách khoa. Nhìn từng phần giống như là quyển sách. Màu sắc được hợp thành bởi 2 sắc độ của màu xanh. Biểu thị cho sự trang nhã, lịch sự thanh bình.

Quy tắc vẽ

Trung tâm biểu trưng: hình lục giác đều nội tiếp vòng tròn. Tất cả các cạnh bên đều bằng nhau và bằng bán kính của hình lục giác đều. Cạnh của các hình thoi tiếp giáp các cạnh của lục giác đều bằng cạnh của hình lục giác.

Màu sắc

Gồm có 2 màu không kể màu trắng ở giữa: màu xanh dương đậm (bảng màu RGB: R = 3, G = 43, B = 145) (#032B91) và màu xanh dương nhạt (R = 20, G = 136, B = 219) (#1488DB).

Nếu biểu trưng đặt trên một nền màu khác màu trắng thì nét của các cạnh biểu trưng được thể hiện bằng màu trắng để làm nổi bật hình biểu trưng trên nền đặt và không cần vẽ thêm đường viền.

Font chữ và màu sắc

Phông chữ BK Thành phố Hồ Chí Minh là phông Arial, canh giữa. Màu của chữ BK cùng màu với màu xanh dương đậm của biểu trưng (R = 3, G = 43, B = 145) (#032B91) và màu của chữ Thành phố Hồ Chí Minh cùng màu với màu xanh dương nhạt của biểu trưng (R = 20, G = 136, B = 219) (#1488DB).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]
  2. ^ “Vai trò của đại học về khảo cứu và phát triển”. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2010. 
  3. ^ Trường cao đẳng điện học
  4. ^ http://www.hcmut.edu.vn/vi/welcome/view/menu-2/gioi-thieu/tong-quan/doi-ngu-can-bo--giang-vien
  5. ^ a ă http://www.hcmut.edu.vn/vi/welcome/view/menu-2/gioi-thieu/tong-quan/co-so-vat-chat-ha-tang
  6. ^ “Kí túc xá”. Ktxbk.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  7. ^ a ă Quy mô đào tạo
  8. ^ đào tạo
  9. ^ “Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính - ĐH Bách khoa [[Thành phố Hồ Chí Minh]]”. Cse.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013.  Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  10. ^ “Đại học bách khoa [[Thành phố Hồ Chí Minh]] - Khoa Điện Điện Tử”. Dee.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013.  Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  11. ^ “Khoa Kỹ Thuật Hóa Học”. Dch.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  12. ^ “Khoa Ky Thuat Xay Dung - DHBK Thành phố Hồ Chí Minh”. Dce.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  13. ^ “Khoa Cnvl - Đh Bk Tp Hcm”. Fmt.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  14. ^ http://www.fas.hcmut.edu.vn/
  15. ^ “Khoa Quản lý Công nghiệp - Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh”. Sim.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  16. ^ [2]
  17. ^ [3]
  18. ^ http://www.geopet.hcmut.edu.vn/
  19. ^ “Trung Taâm Nghieân Cöùu Thieát Bò Nhieät Va Ønaêng Löôïng Môùi”. Rectere.hcmut.edu.vn. 18 tháng 1 năm 1986. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  20. ^ “Home”. Rptc.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  21. ^ http://www.bdktvh.hcmut.edu.vn
  22. ^ “It works!”. Flc.hcmut.edu.vn. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013. 
  23. ^ [4]
  24. ^ [5]
  25. ^ [6]
  26. ^ [7]
  27. ^ [ [8]
  28. ^ Thành tích của Trường
  29. ^ “Doanh Nhân – TS. Nguyễn Thanh Mỹ - Chủ tịch Tập đoàn Mỹ Lan”. 
  30. ^ “Tiến sĩ ngành năng lượng vật liệu Nguyễn Thanh Mỹ-Cậu bé bán kem thành nhà triệu phú”. 
  31. ^ Tân Hiệp Phát - Giới thiệu
  32. ^ “Tri Thong Le”. 
  33. ^ Qui định số 521 /ĐHBK-CTCT-SV về việc chuẩn hóa logo trường

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]