Mai Chí Thọ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mai Chí Thọ
Maichitho.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ tháng 2, 1987 – 1991
&0000000000000004.0000004 năm, &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 ngày
Tiền nhiệm Phạm Hùng
Kế nhiệm Bùi Thiện Ngộ
Nhiệm kỳ 1978 – 1985
&0000000000000007.0000007 năm, &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 ngày
Tiền nhiệm Vũ Đình Liệu
Kế nhiệm Phan Văn Khải
Thông tin chung
Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 15 tháng 7, 1922
Nam Vân, Nam Trực, Nam Định
Mất 28 tháng 5, 2007 (84 tuổi)
Hà Nội
Dân tộc Kinh
Tôn giáo không
Họ hàng Lê Đức Thọ
Đinh Đức Thiện
Người kết hợp dân sự Đại tướng

Mai Chí Thọ, tên thật là:Phan Đình Đống (sinh ngày 15 tháng 7 năm 1922-mất ngày 28 tháng 5 năm 2007 tại Hà Nội) (bí danh Năm Xuân, Tám Cao) là Đại tướng Công an Nhân dân Việt Nam đầu tiên, nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) từ 1986 đến 1991. Ông bị cho là một trong những người phải chịu trách nhiệm về làn sóng người tỵ nạn, còn gọi là thuyền nhân, rời miền Nam Việt Nam. Trong số đó có rất nhiều người gốc Hoa[1].


Tiểu sử và hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Phan Đình Đống, sinh tại thôn Địch Lễ, xã Nam Vân, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay là xã Nam Vân thuộc thành phố Nam Định)[1]. Ông là con thứ 5 trong gia đình, em ruột của Lê Đức ThọThượng tướng Đinh Đức Thiện, người có nhiều kì công gắn liền với đường mòn Hồ Chí Minh.

Ông tham gia cách mạng từ năm 1936 trong phong trào sinh viên Huế và Hà Nội, vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939. Từ năm 1938 đến năm 1940, ông tham gia Tổ chức thanh niên dân chủ, rồi Thanh niên phản đế ở trường Trung học Nam Định, là Bí thư Đoàn Thanh niên phản đế Nam Định.

Ông từng bị thực dân Pháp bắt giam vài năm (từ 1940 đến 1945), bị giam giữ tại các nhà tù ở Nam Định, Hỏa Lò (Hà Nội), Sơn La, Khám Lớn (Sài Gòn), Côn Đảo.

Ông là Bí thư Thanh niên cứu quốc, sau đó là Trưởng ty Công an, Phó Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ. Từ năm 1948 đến năm 1949, ông là Trưởng ty Công an, sau đó là Phó Bí thư, rồi Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho.

Từ năm 1950 đến năm 1954, ông là Phó Giám đốc Sở Công an Nam Bộ, ban đầu (1950-1952) làm Phó Bí thư, Bí thư liên chi chính quyền Nam Bộ, sau đó (1952-1954) phụ trách Công an miền Đông Nam Bộ.

Từ năm 1954 đến năm 1960, ông là Phó ban, sau đó là Trưởng ban địch tình Xứ ủy Nam Bộ, Xứ ủy viên dự khuyết Xứ ủy Nam Bộ (1958-1960).

Từ năm 1960 đến năm 1965, ông là Bí thư Khu ủy miền Đông Nam Bộ, Chính ủy Quân khu miền Đông Nam Bộ.

Từ năm 1965 đến năm 1975, ông là Ủy viên Thường vụ, Phó Bí thư, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Gia Định, Chính ủy Quân khu Sài Gòn - Gia Định.

Tham gia chính quyền TP Hồ Chí Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông lần lượt làm Phó Bí thư, Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Công an Thành phố Hồ Chí Minh (1975-1976), Phó Bí thư thứ nhất Thành ủy, rồi Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó ông làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (03/1979-06/1985).

Ông được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng các khóa IV, V, VI.

Tháng 6 năm 1985 ông làm Phó Bí thư thường trực, rồi làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh trong một thời gian ngắn năm 1986, khi Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh ra Hà Nội nhậm chức Thường trực Ban Bí thư, chuẩn bị cho Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Lãnh đạo Bộ Công an[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 1986, ông làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an Việt Nam) và đến tháng 2 năm 1987, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Bộ trưởng. Sau đó, ông được phong là Đại tướng (tháng 5 năm 1989) và trở thành bộ trưởng đầu tiên của ngành công an Việt Nam mang hàm Đại tướng.

Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV, V và VI (1978-1991), ủy viên Bộ Chính trị khóa VI (1986-1991), là đại biểu Quốc hội các khóa VI, VII, VIII; Ủy viên Hội đồng Quốc phòng khóa VIII.

Nghỉ hưu từ năm 1991, ông về sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung viết hồi ký và các hoạt động xã hội.

Ông mất lúc 8h sáng ngày 28 tháng 5 năm 2007 tại Bệnh viện Quân y 108 (Hà Nội). Tang lễ được tổ chức ở Hội trường Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh và Linh cữu Đại tướng Mai Chí Thọ được an táng tại Nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Anh trai:
    • Lê Đức Thọ tên thật là Phan Đình Khải, Ủy viên Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam.
    • Đinh Đức Thiện tên thật là Phan Đình Dinh, Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Phát ngôn[sửa | sửa mã nguồn]

Mai Chí Thọ đã từng chọn ra một nhóm tù nhân chính trị trong một trại giam và nói với họ:

Hồ Chí Minh có thể đã là một kẻ độc ác; Nixon có thể đã là một người vĩ đại. Người Mĩ có thể đã có chính nghĩa; chúng tôi có thể không có chính nghĩa. Nhưng chúng tôi đã thắng và người Mĩ đã bị đánh bại bởi vì chúng tôi đã thuyết phục được người dân rằng Hồ Chí Minh là một người vĩ đại, rằng Nixon là một kẻ giết người và người Mĩ là những kẻ xâm lược. Yếu tố then chốt đó là kiểm soát được người dân và quan điểm của họ. Chỉ có chủ nghĩa Marx-Lenin là có thể làm được điều đó. Không ai trong các anh từng thấy sự kháng cự đối với chế độ của những người cộng sản, vì vậy đừng suy nghĩ về chuyện đó. Quên chuyện đó đi. Giữa các anh — những người trí thức sáng suốt — và tôi, tôi xin nói với các anh sự thật.

Mai Chí Thọ, theo lời kể của Đoàn Văn Toại[2]

Đóng góp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông được xem là một trong những nhà lãnh đạo có đường lối cứng rắn, đóng vai trò chủ yếu trong việc xây dựng ngành công an của nước Việt Nam thống nhất thời tại vị (1986-1991). Ông được Nhà nước Việt Nam phong hàm Đại tướng Công an Nhân dân đầu tiên của Việt Nam (ngành An ninh) vào tháng 5 năm 1989.

Cùng với hai vị lãnh đạo khác ở thành phố Hồ Chí Minh lúc bấy giờ là cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông Mai Chí Thọ là người ủng hộ và khởi xướng cho thời kỳ đổi mới ở Thành phố Hồ Chí Minh từ trước năm 1986.

Ngày 12 tháng 1 năm 2007, ông được trao tặng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất của nhà nước Việt Nam [1].

Ông còn được tặng thưởng các huân chương, huy hiệu cao quý khác: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, Huân chương Lao động hạng Nhất...

Tên của ông được Hội đồng Nhân dân TP Hồ Chí Minh đặt cho đại lộ trung tâm Khu đô thị mới Thủ Thiêm quận 2, TP Hồ Chí Minh tuyến đường mới phần phía đông dự án Đại lộ Đông - Tây (thuộc địa bàn quận 2) đã hoàn thành và đưa vào sử dụng ngày 20/11/2011 và đoạn từ đường hầm sông Sài Gòn phía quận 2 đến xa lộ Hà Nội (nút giao Cát Lái).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Chân dung ông Mai Chí Thọ vừa qua đời, BBC, 29 Tháng 5 2007
  2. ^ Đoàn Văn Toại (29 tháng 3 năm 1981). “A Lament for Vietnam” [Thổn thức cho Việt Nam]. New York Times Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2014. ‘While I was in jail, Mai Chi Tho, a member of the Central Committee of the Communist Party, addressed a selected group of political prisoners. He told us: "Ho Chi Minh may have been an evil man; Nixon may have been a great man. The Americans may have had the just cause; we may not have had the just cause. But we won and the Americans were defeated because we convinced the people that Ho Chi Minh is the great man, that Nixon is a murderer and the Americans are the invaders." He concluded that "the key factor is how to control people and their opinions. Only Marxism-Leninism can do that. None of you ever see resistance to the Communist regime, so don't think about it. Forget it. Between you — the bright intellectuals — and me, I tell you the truth."’