Quân khu 3, Quân đội Nhân dân Việt Nam
Quân khu 3 - trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam là 1 trong 8 quân khu của Quân đội Nhân dân Việt Nam có nhiệm vụ tổ chức, xây dựng, quản lý và chỉ huy lực lượng vũ trang 3 thứ quân chiến đấu bảo vệ các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng.
Mục lục |
Thông tin [sửa]
- Trụ sở Bộ tư lệnh: Thành phố Hải Phòng.
- Tư lệnh: Trung tướng Phạm Quang Hợi.
- Chính ủy: Trung tướng Nguyễn Thanh Thược.
- Phó Tư lệnh , Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Phạm Hồng Hương , Đại biểu Quốc hội khoá XIII.
- Phó Chính ủy: Thiếu tướng Đỗ Cǎn.
- Phó Tư lệnh: Thiếu tướng Vũ Hải Chấn (2009).
- Phó Tư lệnh: Thiếu tướng Trần Thành (2012).
- Phó Tư lệnh: Thiếu tướng Nguyễn Duy Nguyên ( Chuyển sang làm Cục trưởng Cục Dân quân - Tự vệ, Bộ Tổng tham mưu từ tháng 03 năm 2013)
- Phó Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Lưu Xuân Cải, Thiếu tướng Đỗ Xuân Khải, Đại tá Đoàn Văn Mạnh, Đại tá Nguyễn Đình Tiết
Các Cơ quan và Đơn vị [sửa]
- Bộ Tham mưu và các Cục:
-
- Cục Chính trị: Thiếu tướng Trần Văn Mừng, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy [[Quân khu
- Cục Hậu cần: Đại tá Phan Thế Dân
- Cục Kỹ thuật: Đại tá Nguyễn Quang Kỳ
- Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh, thành: Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hoà Bình[1]
- Sư đoàn 327 (đoàn kinh tế quốc phòng).
- Sư đoàn 350 (tại Ninh Bình)
- Sư đoàn 395 (tại Quảng Yên - Quảng Ninh)
- Lữ đoàn 214 (Hải Dương)
- Lữ đoàn 454 (Quảng Ninh)
- Lữ đoàn 513 (Hải Dương)
- Trung đoàn 405 (Quảng Ninh)
- Trung đoàn 582 (Ninh Bình)
- Trung đoàn 603 (Hải Phòng)
- Đoàn H73 (tại Hải An - Hải Phòng)
- Đoàn H42 (tại Vân Đồn - Quảng Ninh)
- Bệnh viện quân y 7 (thuộc Cục Hậu cần - Hải Dương)
- Bệnh viện quân y 5 (thuộc Cục Hậu cần - Ninh Bình )
- Trường quân sự Quân khu (tại Chí Linh - Hải Dương)
- Tổng Công ty 319 (tại Long Biên - Hà Nội) chuyển về trực thuộc Bộ Quốc phòng
- Công ty 389 (tại Kiến An - Hải Phòng)
- Công ty Duyên Hải (tại Hà Đông - Hà Nội)
Lịch sử hình thành [sửa]
Quân khu 3 là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm. Nhiều tên đất, tên làng, tên sông đã gắn liền với những chiến công oanh liệt. Một trong những địa danh gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta là sông Bạch Đằng. Sông có chiều dài 32 km; là con đường thủy tốt nhất để đi vào Hà Nội. Sông Bạch Đằng là nơi đã lập nên những chiến công đó là:
- Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất: Cuối mùa đông năm 938, Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân ta đập ta cuộc tiến công xâm lược của quân Nam Hán, giữ vững nền độc lập dân tộc.
- Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai: Ngày 28 tháng 4 năm 981, Lê Hoàn lãnh đạo nhân dân Đại Cồ Việt đập tan quân nhà Tống xâm lược.
- Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ ba: Ngày 9 tháng 4 năm 1288, đoàn thuyền quân Nguyên bắt đầu tiến vào sông Bạch Đằng; Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt đánh trận quyết định đập tan ảo mộng xâm lăng của tên hung nô thời đại, đưa đất nước vào thời kỳ hòa bình, phát triển.
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trên địa bàn Quân khu 3 ngày nay đã hình thành một số chiến khu cách mạng như:
- Chiến khu Quang Trung thành lập ngày 03 tháng 02 năm 1945, tên gọi ban đầu Chiến khu Hòa- Ninh- Thanh gồm 3 tỉnh: Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa. Đến tháng 5 năm 1945 đổi tên gọi là Chiến khu Quang Trung( Đệ tam Chiến khu); Ngày nay Hòa Bình và Ninh Bình thuộc Quân khu 3; Tỉnh Thanh Hóa thuộc Quân khu 4.
- Chiến khu Trần Hưng Đạo (hay chiến khu Đồng Triều) thành lập ngày 8 tháng 6 năm 1945, lúc đầu gồm Đông Triều, Chí Linh, Mạo Khê, Tràng Bạch. Đến cuối tháng 6, có thêm Kinh Môn, Thanh Hà, Thủy Nguyên, Uông Bí, Yên Hưng và một phần Kim Thành, sau mở rộng tới Kiến An, Đồ Sơn, Quảng Yên, Hòn Gai. Chiến khu Trần Hưng Đạo nay thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, và thành phố Hải Phòng.
Đến tháng 10 năm 1945, Chính Phủ ra quyết định thành lập các chiến khu, trong phạm vi đồng bằng Bắc bộ và phụ cận có 3 chiến khu là: Chiến khu 2, Chiến khu 3 và Chiến khu 11.
- Chiến khu 2 gồm các tỉnh: Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Sơn La và Lai Châu.
- Chiến khu 3 gồm các tỉnh: Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Kiến An, Quảng Yên, Hải Ninh và thành phố Hải Phòng.
- Chiến khu 11 chỉ có thành phố Hà Nội, trực thuộc Trung ương. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chiến khu này đã sát nhập vào Chiến khu 2.
Ngày 25 tháng 1 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 120-SL thành lập Liên Khu 3 trên cơ sở hợp nhất Khu 2 và Khu 3. Địa bàn Liên khu 3 gồm các tỉnh: Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Kiến An, Hải Phòng.
Tháng 5 năm 1952, Trung ương Đảng, Chính phủ quyết định thành lập khu Tả Ngạn trực thuộc Trung ương Đảng. Địa bàn khu Tả Ngạn gồm các tỉnh: Hải Phòng, Kiến An; Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình. Lúc này, Liên khu 3 còn lại các tỉnh: Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Đông, Sơn Tây, Hòa Bình. Địa bàn Quân khu 3 lúc này gồm có Liên khu 3 và Khu Tả Ngạn.
Ngày 10 tháng 9 năm 1957, Bộ Quốc phòng ra Nghị định 254/NĐ quy định phạm vi và địa giới hành chính do các quân khu phụ trách. Theo đó địa bàn Quân Khu 3 lúc này gồm Quân khu Tả Ngạn và Quân Khu Hữu Ngạn.
- Quân khu Tả Ngạn gồm; Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình. Đến năm 1957 có thêm Hồng Quảng và Hải Ninh. Đồng chí Thiếu tướng Hoàng Sâm- Tư lệnh; đồng chí Nguyễn Quyết- Chính Ủy.
- Quân khu Hữu Ngạn bao gồm: Hòa Bình, Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa.
Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Bộ Quốc Phòng ra Quyết định số 51/QĐ- BQP điều chỉnh địa giới Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn, tổ chức lại với tên gọi là Quân khu Đông Bắc và Quân khu 3.
Ngày 27 tháng 3 năm 1967, Đại tướng Võ Nguyên Giáp- Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng ký Quyết định số 22/QĐ-BQP tách Quân khu 3 thành Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn:
- Quân khu Tả Ngạn gồm các tỉnh: Hà Bắc, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên và Thái Bình;
- Quân khu Hữu Ngạn gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nam Hà, Ninh Bình, Hà Tây và Hòa Bình.
Ngày 29 tháng 5 năm 1976, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký sắc lệnh số 45/LCT hợp nhất Quân khu Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn để thành lập lại Quân khu 3 và điều chỉnh địa giới hành chính tách tỉnh Thanh Hóa về thuộc Quân khu 4. Như vậy, từ giai đoạn này, địa bàn Quân khu 3 gồm các tỉnh: Hải Hưng, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Bắc, Hà Nam Ninh và Hà Sơn Bình.
Từ hai ngày 29 và 30 tháng 6 năm 1978, Quân khu 3 và Quân khu 1 tiến hành bàn giao nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, tổ chức biên chế, vũ khí, trang bị của lực lượng vũ trang hai tỉnh Hà Bắc, Quảng Ninh từ địa bàn Quân khu 3 cho Quân khu 1.
Ngày 20 tháng 4 năm 1979, Chủ tịch Nước ký sắc lệnh tách Quảng Ninh ra khỏi Quân khu 1 để thành lập Đặc khu Quảng Ninh trực thuộc Trung ương. Ngày 7 tháng 7 năm 1979, Đảng Ủy Đặc khu Quảng Ninh họp phiên đầu tiên công bố các quyết định của Bộ Chính trị về việc thành lập Đặc khu Quảng Ninh và danh sách Đảng Ủy Đặc khu.
Ngày 4 tháng 8 năm 1987, Đảng Ủy Quân sự Trung ương ra Nghị quyết số 154/NQ hợp nhất Đặc khu Quảng Ninh vào Quân khu 3. Tại thời điểm này, địa bàn Quân khu 3 gồm 6 tỉnh, thành phố, dân số trên 10 triệu người.
Tháng 3 năm 1997, tách tỉnh Hải Hưng thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên; tháng 10 năm 1999, tách Hà Tây về Quân khu Thủ đô. Tại thời điểm tháng 5 năm 2010, địa bàn Quân khu 3 gồm có 9 tỉnh, thành phố là: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hòa Bình, Hải Dương, Hưng Yên; diện tích 20.282,5 km2; dân số 11.981.600 người; có 93 quận huyện, thị xã, thành phố(thuộc tỉnh); có 1.816 xã, phường, thị trấn.[cần dẫn nguồn]
Quân khu 3 không chỉ là nơi có nhiều căn cứ kháng chiến mà còn là nơi có cố đô Hoa Lư thuộc tỉnh Ninh Bình, là kinh đô gắn liền với quá trình xây dựng, phát triển của 3 triều đại phong kiến gồm: Nhà Đinh, Nhà Tiền Lê và nhà Lý (quốc hiệu Đại Cồ Việt).
Các trận đánh [sửa]
05 trận đánh tiêu biểu của quân và dân Quân khu 3 trong cuộc kháng chiến chống Pháp là: trận tập kích sân bay Cát Bi- Hải Phòng; trận đánh 86 ngày đêm bảo vệ thành phố Nam Định; trận chống càn ở Phan Xá, Tống Xá - tỉnh Hưng Yên; trận đánh mìn ở ga Phạm Xá, huyện Kim Thành - tỉnh Hải Dương, Trận chống địch càn quét ở làng Vạn Thọ, xã Nhân Nghĩa, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
Trận tập kích sân bay Cát Bi - Hải Phòng
- Thời gian: lúc 1 giờ ngày 07 tháng 03 năm 1954
- Lực lượng Quân khu 3: 32 bộ đội địa phương tỉnh Kiến An và lực lượng hỗ trợ của bộ đội địa phương huyện Kiến Thụy.
- Lực lượng của địch: 6 tiểu đoàn bảo vệ và đại đội tham mưu chỉ huy sân bay, ngoài ra còn có hàng trăm phi công và 50 cố vấn quân sự Mỹ.
- Kết quả: 6 lính Âu-Phi bị tiêu diệt, phá hủy 59 máy bay địch.
Trận chống càn ở làng Phan Xá, Tống Xá - tỉnh Hưng Yên
- Thời gian: từ 05 đến 18h ngày 25/09/1951
- Lực lượng Quân khu 3: Đại đội 20 bộ đội chủ lực tỉnh Hưng Yên (2 trung đội) và trung đội địa phương huyện Ân Thi, tổng cộng 130 đồng chí và dân quân du kích của 2 làng Phan Xá và Tống Xá.
- Lực lượng của địch: khoảng 1000 lính.
- Kết quả: Ta[2] tiêu diệt được 500 lính, bắt làm tù binh khoảng 20 lính Âu Phi.
Trận đánh mìn ở ga Phạm Xá - Kim Thành, Hải Dương
- Thời gian: 10h30’ ngày 31 tháng 01 năm 1954.
- Lực lượng Quân khu 3 tham gia: Trung đội đánh mìn thuộc huyện đội Kim Thành có công binh làm nòng cốt, tổng số có 20 đồng chí, trong đó có 5 đồng chí trực tiếp đặt mìn, phát nổ, còn lại bố trí hai bên bờ sông Rang sẵn sàng yểm trợ.
- Lực lượng của địch[3]: Phía đông ga Phạm Xá là một bốt Phạm do một đại đội lính ngụy canh giữ, hai đồn đóng cách nhau 600m làm nhiệm vụ bảo vệ đường sắt ở khu Phạm Xá.
- Kết quả: ta[2] tiêu diệt và làm bị thương 778 tên; phá hủy và làm lật đổ 08 toa xe; 20m đường ray; làm ngưng trệ tuyến vận chuyển của địch[3] 4 ngày đêm.
Trận chống càn tại làng Vạn Thọ, xã Nhân Nghĩa- Lý Nhân- Hà Nam
- Thời gian: từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 3 năm 1952
- Lực lượng Quân khu 3 tham gia: hai đại đội bộ binh thuộc tiểu đoàn 738- Đại đoàn 320; 01 đại đội bộ đội huyện Lý Nhân; 03 trung đội du kích.
- Lực lượng địch: binh đoàn cơ động số 4 Âu Phi có máy bay, pháo binh và xe lội nước yểm trợ.
- Kết quả: ta bẻ gãy các đợt tiến công, càn quét của địch, bao vây truy bắt 60 tên.
Trận đánh 86 ngày đêm bảo vệ thành phố Nam Định
- Thời gian: từ ngày 20/12/1946 đến 15/03/1947
- Lực lượng Quân khu 3 tham gia: 02 tiểu đoàn, 2 đại đội và hơn 700 tự vệ; ngoài ra còn có 02 tiểu đoàn bộ đội tỉnh Hà Nam và Ninh Bình.
- Lực lượng của địch: 01 tiểu đoàn gồm 450 tên, ngoài ra còn sử dụng lực lượng 1500 quân cùng các phương tiện chiến tranh để ứng cứu giải vây cho quân ở Nam Định.
- Kết quả: ta đã tiêu diệt 400 tên địch và rút ra khỏi thành phố an toàn.
Tạp chí Lịch sử Quân sự tháng 6 năm 1992 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết:
| “ | Quân khu 3, Quân khu đồng bằng án ngữ Thủ Đô, dựa vào Tây Bắc và Việt Bắc, nối liền đất Thanh, Nghệ miền Trung, lại nhìn ra biển cả, giàu tài nguyên và quan trọng về chiến lược. Thời bình đây là một trong những vùng đất căn bản để xây dựng và phát triển, là cửa ngõ giao lưu quốc tế của đất nước. Thời chiến đây là hậu phương quốc gia, đồng thời là mặt trận chống quân xâm lược, nhiều tên làng, tên đất, tên sông đã trở thành tên gọi của những chiến công hiển hách | ” |
Chú thích [sửa]
- ^ Quân khu 3 thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia
- ^ a b "Ta" ở đây chỉ phía quân đội nhân dân Việt Nam
- ^ a b "Địch" ở đây chỉ quân đội viễn chinh Pháp
Liên kết ngoài [sửa]
|
||||||||