Lê Quang Đạo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Quang Đạo
Chức vụ
Nhiệm kỳ 19 tháng 4, 1987 – 19 tháng 7, 1992
&0000000000000005.0000005 năm, &0000000000000091.00000091 ngày
Tiền nhiệm Nguyễn Hữu Thọ
Kế nhiệm Nông Đức Mạnh
Khu vực Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Nhiệm kỳ 19 tháng 4, 1987 – 19 tháng 7, 1992
&0000000000000005.0000005 năm, &0000000000000091.00000091 ngày
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 8 tháng 8, 1921(1921-08-08)
Bắc Ninh, Đông Dương thuộc Pháp
Mất 24 tháng 7, 1999 (77 tuổi)
Hà Nội, Việt Nam
Vợ Nguyễn Thị Nguyệt Tú

Lê Quang Đạo (1921-1999) là một chính khách của Việt Nam, nguyên Chủ tịch Quốc hội Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam (1987-1992). Ông cũng từng là một tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, cấp bậc Trung tướng. Chủ tịch đầu tiên của Hội họ Nguyễn Việt Nam.

Tiểu sử tóm tắt[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Nguyễn Đức Nguyện, sinh ngày 8 tháng 8 năm 1921, quê phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Cha ông là cụ Nguyễn Đức Cung (Cụ Thơ La), mẹ ông là cụ Nguyễn Thị Lạc.

Quá trình hoạt động cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1938, ông hoạt động trong phong trào Thanh niên Dân chủHà Nội.
  • Tháng 8 năm 1940, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 8-1940, chi bộ Cộng sản Đình Bảng được thành lập tại Đền Đô nơi thờ Lý Bát Đế, ông được tín nhiệm bầu làm Bí thư chi bộ Cộng sản đầu tiên của quê hương Đình Bảng. Ông cùng người cậu ruột của mình là Nguyễn Duy Thân cùng hoạt động cách mạng. Giữa năm 1941, ông thoát ly công tác cách mạng, là Bí thư Ban cán sự Đảng của huyện Từ Sơn.
  • 1941-1942, ông là Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Bắc Ninh, Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ. Đầu năm 1942, xứ uỷ Bắc Kỳ quyết định thành lập Ban Cán sự tỉnh Phúc Yên do ông làm Bí thư.
  • 1943-1945, ông là Bí thư Ban cán sự Đảng Thành phố Hà Nội được thực dân Pháp đặt bí danh Đốc lý đỏ[1] Ngoài ra ông còn là Ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, biên tập viên các báo "Cứu quốc", "Cờ giải phóng", phụ trách báo "Quyết thắng" và các lớp đào tạo cán bộ Việt MinhChiến khu Hoàng Hoa Thám. Ông còn được giao nhiệm vụ trực tiếp giảng bài ở các lớp bồi dưỡng lý luận về Đảng và công tác cách mạng cho các nhóm cốt cán của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội và Hội Văn hóa Cứu quốc.

Tháng 4 năm 1946 - 1949, ông là Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, Bí thư Thành ủy Hà Nội (từ tháng 4 đến giữa năm 1946), Phó Bí thư Khu ủy khu XI, Bí thư Thành ủy Hà Nội (tháng 11 năm 1947), Bí thư liên tỉnh Hà Nội-Hà Đông.

Hoạt động trong quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

28 năm trong quân đội, Lê Quang Đạo đã đem hết tài năng, và sức lực, tâm hồn và trí tuệ xây dựng và chỉ đạo ngành Tuyên huấn quân đội. Ông là một nhà hoạt động tư tưởng và văn hoá xuất sắc của quân đội và của Đảng

  • 1955-1976, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị[4] trực tiếp chỉ đạo công tác tuyên huấn, địch vận đối ngoại của quân đội, Ủy viên thường trực Quân ủy Trung ương (1965-1976). Năm 1961 ông kiêm chức Viện trưởng Viện Kiểm sát quân sự Trung ương.
  • 1968-1972, ông làm Chính ủy các chiến dịch quân sự lớn: Đường 9 - Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào[5] và Trị Thiên giải phóng Quảng Trị.
  • Năm 1974 ông là Ủy viên Thường trực Quân ủy Trung ương, phong quân hàm Trung tướng, Giám đốc Học viện Chính trị Quân đội.

Chuyển sang công tác dân sự[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 6 năm 1978, ông làm Phó Bí thư Thành ủy kiêm Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Hà Nội. Là Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội, ông đã cùng tập thể Thường vụ Thành ủy lo chạy gạo, mỳ, chất đốt... cho nhu cầu tối thiểu của người dân. Để tiết kiệm cho công quỹ thành phố, ông đi bộ từ nhà đến cơ quan mang theo một cà mèn cơm như cán bộ nhân viên thời đó. Trong gieo neo, ông đã dành nhiều công sức đi xuống các trường đại học, các viện nghiên cứu, nhà máy, xí nghiệp, gặp gỡ lắng nghe ý kiến ở cơ sở để có cái nhìn toàn diện, cụ thể về sự phát triển Thủ đô và từng bước tháo gỡ những khó khăn. Thực tế sinh động là căn cứ quan trọng để ông sớm nhìn nhận ra và đồng tình với quan điểm đổi mới của đồng chí Trường Chinh trong dự thảo Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, vì đó là thời kỳ khởi đầu một bước ngoặt mới trong sự phát triển của đất nước.

Công tác Trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ 1982 ông là Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương, phụ trách công tác dân vận khoa giáo và tham gia Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam.

Cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ ông là nhà văn Nguyễn Thị Nguyệt Tú, nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Phụ nữ, con gái nhà danh họa Nguyễn Phan Chánh.

Con trai là Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Quang Bắc, Nguyễn Quang Tuệ. Con gái là Nguyễn Nguyệt Tĩnh.

Đường Lê Quang Đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Tên ông đặt cho đường phố ở Hà Nội (nối Lê Đức Thọ với Đại lộ Thăng Long), Huế (từ đường Tố Hữu - phường An Đông), Đà Nẵng (đoạn cắt Phan Tứ đến đoạn cắt Nguyễn Văn Thoại). Dự kiến Thành phố Hồ Chí Minh có đường mang tên ông [6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]