Phó Chủ tịch nước Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Phó Chủ tịch nước là chức vụ phó nguyên thủ tại Việt Nam. Theo Hiến pháp Việt Nam, chức vụ này do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội, có nhiệm vụ giúp đỡ Chủ tịch nước trong một số công việc. Ngoài ra, Phó Chủ tịch nước sẽ là quyền Chủ tịch nước khi đất nước khuyết chức danh này. Từ năm 1992 đến nay (22:29, Chủ nhật ngày 21 tháng 9, năm 2014 (UTC)), vị trí này đều do phụ nữ đảm nhiệm.

Các thời kỳ lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tại phiên họp ngày 27 tháng 9 năm 1945, Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bàn bạc và nhất trí để Nguyễn Hải Thần giữ chức Phó Chủ tịch Chính phủ mà không thông qua bầu cử. Ông giữ chức vụ này từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1946, khi tranh chấp giữa Việt Minh và các phe phái đối lập xảy ra, Nguyễn Hải Thần phải bỏ trốn sang Trung Quốc.

Điều thứ 44 Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946 lần đầu tiên quy định chức vụ Phó Chủ tịch Nước. Điều 46 cũng quy định "Phó chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chọn trong nhân dân và bầu theo lệ thường". Tuy nhiên, chức vụ này trên thực tế không có người đảm nhiệm.

Từ năm 1960, Tôn Đức Thắng là người đầu tiên được bầu vào chức vụ này và ông cũng là người kế vị chức vụ Chủ tịch nước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời vào năm 1969. Ông tiếp tục giữ chức vụ Chủ tịch nước cho đến khi qua đời vào năm 1980. Thay thế ông ở chức vụ Phó Chủ tịch nước là Nguyễn Lương Bằng (từ 1969 đến 1979).

Ý nghĩa chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Phó Chủ tịch nước do Chủ tịch nước đề nghị trong số đại biểu Quốc hội, và được Quốc hội thông qua bằng cách bầu chọn. Phó Chủ tịch giúp Chủ tịch nước làm nhiệm vụ và có thể được Chủ tịch ủy quyền làm một số nhiệm vụ hoặc làm quyền Chủ tịch.

Thông thường, chức vụ Phó chủ tịch nước được lựa chọn và là vị trí cân bằng với chức vụ Chủ tịch nước. Trong thời gian 1976-1980, ngoài Nguyễn Lương Bằng, còn có Nguyễn Hữu Thọ, cựu Chủ tịch Hội đồng cố vấn của chính quyền lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, được bổ sung vào chức vụ này. Đến giữa năm 1980, Nguyễn Hữu Thọ làm quyền Chủ tịch nước một thời gian ngắn.

Các Phó nguyên thủ qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự Tên Từ Đến Chức vụ Ghi chú
1 Tôn Đức Thắng 1960 1969 Phó Chủ tịch Nước Phó chủ tịch nước đầu tiên
2 Nguyễn Lương Bằng 1969 1979 Phó Chủ tịch Nước Ba nhiệm kỳ, mất khi đương nhiệm
3 Nguyễn Hữu Thọ 1976 1980 Phó Chủ tịch Nước Bầu bổ sung
4 Nguyễn Hữu Thọ 1981 1992 Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước kiêm Chủ tịch Quốc hội (khóa VII)
5 Chu Huy Mân 1981 1986 Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước
Xuân Thủy 1981 1982 Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước kiêm Tổng Thư ký, nghỉ vì lý do sức khỏe
Lê Thanh Nghị 1982 1986 Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước kiêm Tổng Thư ký, thay Xuân Thủy
Huỳnh Tấn Phát 1982 1989 Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Mất năm 1989 trong nhiệm kỳ
6 Nguyễn Quyết 1987 1992 Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước
Đàm Quang Trung 1987 1992 Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước kiêm Chủ tịch Hội đồng Dân tộc
Lê Quang Đạo 1987 1992 Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước kiêm Chủ tịch Quốc hội
Nguyễn Thị Định 1987 1992 Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nữ phó chủ tịch nước đầu tiên
7 Nguyễn Thị Bình 1992 2002 Phó Chủ tịch Nước
8 Trương Mỹ Hoa 2002 2007 Phó Chủ tịch Nước
9 Nguyễn Thị Doan 2007 đương nhiệm Phó Chủ tịch Nước

Nhận xét và ý kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]