PP-19 Bizon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
PP-19 Bizon
The PP-19 Bizon with stock folded
Loại Súng tiểu liên
Nguồn gốc  Nga
Lược sử hoạt động
Trang bị 1996 – Nay
Quốc gia sử dụng  Nga
Sử dụng trong
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Viktor Kalashnikov, Alexi Dragunov
Năm thiết kế 1993–1995
Nhà sản xuất Izhmash
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 2,1 kg
Chiều dài
  • 660 mm báng mở / 425 mm báng gấp (Bizon)
  • 690 mm báng mở / 460 mm báng gấp (Bizon-2)
Cỡ nòng 
  • 195 mm (Bizon)
  • 230 mm (Bizon-2 9x18mm Makarov)
  • 225 mm (Bizon-2-01 9x19mm Parabellum)

Đạn
Cơ cấu hoạt động Nạp đạn bằng phản lực bắn, Thoi nạp đạn đóng
Tốc độ bắn 650–700 viên/phút
Sơ tốc
  • 320 m/s (9x18mm Makarov)
  • 380 m/s (9x19mm Parabellum)
Tầm bắn hiệu quả
  • 100 m (9x18mm Makarov)
  • 200 m (9x19mm Parabellum)
Cơ cấu nạp
  • Hộp đạn rời 64 viên (9x18mm Makarov)
  • Hộp đạn rời 53 viên (9x19mm Parabellum) (Bizon-2-01)
Ngắm bắn Điểm ruồi

PP-19 Bizon (tiếng Nga: ПП-19 Бизон) là loại súng tiểu liên được phát triển từ đầu những năm 1990 tại Izhmash. Súng được thiết kế theo yêu cầu của Bộ nội vụ Nga về một loại vũ khí hiệu quả trong cận chiến với tốc độ bắn nhanh và chính xác dùng cho việc chống khủng bố cũng như trang bị cho các lực lượng thi hành công vụ. Mẫu thử nghiệm đã được Viện Nghiên cứu Thiết bị đặc biệt thử nghiệm năm 1995, nó đã chứng tỏ khả năng của mình so với các mẫu cạnh tranh khác và đã được thông qua để đưa vào phục vụ năm 1996. Súng được trang bị cho các lực lượng phản ứng của Lực lượng An ninh Liên bang và Bộ tư pháp.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Súng được phát triển dựa trên khẩu AKS-74 nên 60% hình dáng cấu trúc của súng giống với súng trường tấn công hơn súng tiểu liên nhưng cách hoạt động thì hoàn toàn khác.

PP-19 sử dụng cơ chế nạp đan bằng phản lực bắn thuần túy để đơn giản cho việc chế tạo, bắn với thoi nạp đạn đóng để tăng độ chính xác. Khi bắn các loại đạn súng ngắn bình thường thì thoi nạp đạn sẽ lùi rất ngắn nên sẽ làm cho súng có tốc độ bắn cao nhưng với các loại đạn súng ngắn mạnh áp lực cao thoi nạp đạn sẽ tự động lùi dài hơn giảm tốc độ bắn nhưng sẽ giảm độ giật để bắn chính xác hơn. Thân súng được làm bằng thép ép có ba khe thông gió ở mỗi bên phía trước để tăng khả năng tản nhiệt cho nòng súng. Nút khóa an toàn nằm phía bên phải súng với ba chế độ là an toàn, từng viên và tự động. Súng cũng có nút để điều chỉnh tốc độ bắn cho thích hợp. Nòng súng có 4 rãnh xoắn về phía tay phải. Đầu nòng súng có rẵng xoắn để gắn các phụ kiện như bộ phận chống giật

Hệ thống nhắm cơ bản của súng là điểm ruồi có tầm nhắm hiệu quả trong khoảng 50 đến 150 m, có thể gắn các loại hệ thống nhắm khác nhau để phù hợp với yêu cầu chiến đấu. Hộp đạn của súng có hình trụ xoắn ốc gắn song song bên dưới nòng súng nên thường nhìn nhầm thành ống phóng lựu có thể chứa được 64 viên cũng như do lắp dọc theo thân súng nên giảm việc chiếm không gian của súng khiến nó trở nên cơ động hơn và cũng được dùng như ốp lót tay để cầm khi chiến đấu. Trọng lượng của hộp đạn này cũng sẽ đè nòng súng xuống để tạo sự ổn định hơn khi bắn. Báng súng được làm bằng sợi thủy tinh tổng hợp được gia cố để nhẹ và bền cũng như có thể gấp qua một bên để tiện cho việc di chuyển.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bizon-1: Mẫu thử nghiệm để tạo ra Bizon-2.
  • Bizon-2-01: Sử dụng loại đạn 9×19mm Parabellum với hộp đạn 53 viên.
  • Bizon-2-02: Sử dụng loại đạn 9×17mm (.380 ACP) với hộp đạn 64 viên.
  • Bizon-2-03: Sử dụng loại đạn 9×18mm Makarov với nòng tích hợp một ống hãm thanh.
  • Bizon-2-04: Mẫu bán tự động sử dụng đạn 9×18mm Makarov.
  • Bizon-2-05: Mẫu bán tự động sử dụng đạn 9×19mm Parabellum.
  • Bizon-2-06: Mẫu bán tự động sử dụng đạn 9×17mm.
  • Bizon-2-07: Sử dụng loại đạn 7.62×25mm Tokarev không sử dụng hộp đạn hình trụ mà sử dụng hộp đạn cong tiêu chuẩn.
  • Bizon-3: Mẫu đang được phát triển tích hợp cả ống hãm thanh, bộ phận giảm giật và chống chớp sáng.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới PP-19 tại Wikimedia Commons