AK-74
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
AK-74 là phiên bản hiện đại hóa của AK-47 được phát triển từ năm 1974. Súng được nhà thiết kế Gennadiy Nikolayevich Nikonov phát triển từ mẫu súng AK nên còn được gọi là AK-Nikonov hay AN-74.[1] AK-74 sử dụng loại đạn 5,45 × 39 mm thay vì loại đạn 7,62 × 39 mm như AK-47. So với AK-47, AK-74 nhẹ hơn giúp tăng khả năng cơ động, có nòng súng dài hơn giúp tăng độ chính xác. AK-74 bắt đầu được sản xuất hàng loạt từ năm 1976.
Mục lục |
[sửa] Thiết kế
Ban đầu, AK 74 được sản xuất hạn chế để trang bị cho các lực lượng đặc biệt. Súng được thay thế các bộ phận bằng gỗ (ở bản AK-47) bằng hỗn hợp nhựa đen (năm 1990) hoặc nâu (ở bản AK-74); một số bộ phận truyền động (thoi đẩy, khóa nòng, hộp tiếp đạn, vỏ súng) không dùng thép mà dùng hợp kim. Các cải tiến này làm cho trọng lượng nhẹ đi. Chiều dài của súng được nâng lên (943 mm so với 870 mm của AK 47) tăng khả năng chính xác, giảm đáng kể tiếng ồn cùng độ giật so với khẩu súng AK 47 ra đời trước nó.
[sửa] Ưu điểm
Do súng nhẹ đi, đạn cỡ nhỏ hơn nên một xạ thủ có thể mang được lượng đạn gấp 1,5 lần so với việc sử dụng AK-47. Vì vậy, thời gian duy trì hỏa lực cũng lâu hơn AK-47. Cũng do súng nhẹ nên binh sĩ sử dụng súng này dễ mang vác, xoay trở, cơ động hơn trên chiến trường hơn.
[sửa] Nhược điểm
Do rút cỡ đạn từ 7,62 mm xuống cỡ đạn tương tự như tiêu chuẩn NATO (5,45 mm) nên mặc dù sơ tốc đầu đạn lớn hơn AK-47 nhưng thời gian duy trì động năng của đạn ngắn hơn AK-47, dẫn đến tầm bắn và mức độ sát thương hạn chế. Tầm bắn sát thương có hiệu quả giảm xuống còn bằng 3/4 AK-47. Đặc biệt là khả năng xuyên giáp của đạn bị giảm rất đáng kể.
[sửa] Phiên bản mới
[sửa] AN-94
Từ năm 1994, AK-74 tiếp tục đuợc cải tiến với phiên bản AH-94 có gắn thêm một súng phúng lựu cõ nhở (GS- 30 mm) phía dưới nòng chính với bộ phận điểm hỏa được gắn liền với tay nắm phụ phía dưới ốp che tay của súng.[2]
[sửa] AK-101, AK-103, AK-107
Từ năm 1996, nhận thấy nhược điểm của việc sử dụng AK-74 với loại đạn 5,45 mm có ưu thế hỏa lực thua kém nhiều so với AK-47 sử dụng đạn 7,62 mm trong cuộc đối đầu với quân phiến loạn ở Chechenia - Ingushetia; giới quân sự Nga quay lại sử dụng loại đạn 7,62 mm. Các phiên bản AK-101, AK-103, AK-107 liên tiếp ra đời. Trong đó, phiên bản AK-103 có thêm đèn chiếu lazer hồng ngọc chỉ thị mục tiêu và có thể lắp kính ngắm quang học thay cho cơ cấu đầu ruồi - khe ngắm mặc dù cơ cấu này vẫn được giữ nguyên trên súng. Phiên bản AK-107 có thêm súng phóng lựu cỡ nhỏ GS-30 gắn dưới ốp che tay và nòng chính như phiên bản AN-94.
[sửa] Các quốc gia sử dụng
Afghanistan: Nằm trong kho sau Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan.
Angola: Khẩu AK-74M được sử dụng bởi các lực lượng vũ trang của tổ chức FAPLA.
Armenia
Azerbaijan
Belarus
Bulgaria: Sản xuất tại xưởng chế tạo vũ khí J.S.Co với cái tên AR-M1.
: CHND Trung Hoa sản xuất một phiên bản (không có bản quyền) của AK-74, sử dụng cỡ đạn 5,56x45 ly NATO mang tên là Kiểu 88. Phiên bản này chỉ dành cho xuất khẩu và không được trang bị cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa.
Cuba
Estonia
Gruzia
Kazakhstan
Kyrgyzstan
Latvia
Litva
Moldova- Bản mẫu:Flaicon Ấn Độ: Sản xuất với giấy phép Không hạn chế tại nhà máy Súng trường Trichy.
Mongolia
CHDCND Triều Tiên sử dụng AK-74 loại Kiểu 88 của CHND Trung Hoa
Romania: Lục quân Romania sử dụng phiên bản được thiết kế và cải tiến trong nước mang tên PA md. 86 (Puşcă Automată model 1986). Phát triển và sản xuất bởi RomArm (trước đây mang tên Regia Autonomă pentru Producţia de Tehnică Militară, viết tắt là RATMIL).
Nga
Syria
Tajikistan
Turkmenistan
Ukraina
Uzbekistan
Việt Nam: Được sử dụng trong Hải quân Nhân dân Việt Nam.
[sửa] Các quốc gia đã từng sử dụng
Liên Xô
CHDC Đức: Phiên bản MPi-AK-74N, MPi-AKS-74N, MPi-AKS-74NK, sản xuất bởi các nhà máy vũ khí quốc doanh (không còn sử dụng sau khi nước Đức thống nhất).
[sửa] Tham khảo
[sửa] Xem thêm
| Bài viết về quân sự này còn sơ khai. Chúng ta rất cần những nỗ lực thay đổi để bài viết hoàn thiện hơn. Bạn có thể giúp đỡ bằng cách viết bổ sung (trợ giúp). |