Thư pháp chữ Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Các font chữ VNI thư pháp tiếng Việt
Thư pháp chữ Việt

Thư pháp chữ Việt, hay thư pháp Việt ngữchữ quốc ngữ Việt viết lối thư pháp, là một phân môn nghệ thuật xuất hiện ở Việt Nam từ thập niên 1950 - 1960. Những người đam mê và theo đuổi học tập, nghiên cứu phân môn nghệ thuật này tôn ông Đông Hồ Lâm Tấn Phát làm "Ông tổ" của Thư pháp chữ Việt. Ông sinh ngày 15 tháng 2 năm Bính Ngọ 1906, tại làng Mỹ Đức tỉnh Hà Tiên. Đông Hồ là một người có bàn tay tài hoa, vốn yêu thích viết chữ đẹp và nghệ thuật thư pháp, và lại yêu tiếng Việt nên ông là người đầu tiên có ý tưởng dùng cọ lông và mực Tàu viết chữ quốc ngữ. Vì thế ông được tôn là tổ sư của bộ môn Việt thư (thư pháp chữ Việt). Ông mất ngay khi đang đọc thơ trên bục giảng vào ngày 25/03/1969 nhằm năm Kỷ Dậu.

Bắt đầu là nhà thơ Đông Hồ viết thư pháp với bút sắt, sau này có nhà thư pháp Nhất Linh viết một số bức in trên tạp chí nhưng chưa thành phong trào. Mãi đến sau này, nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh khơi mào cho phong trào viết thư pháp Quốc ngữ bằng bút lông. Câu lạc bộ Thư pháp ban đầu chỉ có nhà thư pháp Nguyễn Đình và nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh viết thư pháp Quốc ngữ.

Một câu đối Tết tiếng Việt, viết theo lối thư pháp, tại Đường hoa Nguyễn Huệ 2009: "Tân niên hạnh phúc bình an tiến / Xuân nhật vinh hoa phú quý lai"
Van Mieu han tu 5412926827 072c42c3a1 t.jpg

Vào những năm cuối của thế kỷ 20, phong trào thư pháp chữ Việt bùng nổ, điển hình là các câu lạc bộ thư pháp được thành lập rộng khắp các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh, như Câu lạc bộ yêu thích chữ Việt (Q.1), Câu lạc bộ Thư họa Giác Ngộ (Báo Giác Ngộ - Q.3), v.v. Từ năm 2004 lan rộng ra Bắc và sang đến đầu thế kỷ 21, thư pháp chữ Việt phát triển mạnh mẽ khắp ba miền Trung - Nam - Bắc.

Có nhiều tác phẩm lớn, gây được tiếng vang như cuốn thư pháp kỷ lục Truyện Kiều dài 300, được thực hiện nhân dịp Festival Huế 2002 và cuốn thư pháp gỗ về Tuyên ngôn Độc lập nặng 400 kg của Trịnh Tuấn, cuốn thư pháp thơ Lục Vân Tiên dài 120 m của ông Vĩnh Thọ... đánh dấu được tiếng nói nhất định của thư pháp chữ Việt.

Hình thức[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thư pháp Việt ngữ hiện nay có 5 kiểu chữ chính:

  • Chữ Chân Phương (còn gọi là Chân Tự): là cách viết rõ ràng dễ đọc, rất giống chữ thường.
  • Chữ Cách Điệu (còn gọi là Biến Tự): là cách viết biến đổi từ chữ Chân Phương, nhưng các chữ cái hơi được biến dạng một chút để tạo lối viết riêng của từng người.
  • Chữ Cá Biệt (còn gọi là Cuồng Thảo): là lối viết mà người phóng bút "nhiếp tâm" giữa tư tưởng và quản bút. Lối viết này thể hiện cá tính của người viết. Nhìn vào kiểu chữ này, người xem dễ nhận ra tác giả mà không cần phải xem chữ ký. Kiểu chữ này thường được viết liền mạch trong một nét nên khó đọc.
  • Chữ Mô Phỏng là lối viết dựa theo kiểu chữ của nước ngoài. Chẳng hạn có người viết chữ Việt nhưng nhìn qua trông ngỡ chữ Tàu, hay chữ Ả Rập, chữ Miên.
  • Chữ Mộc Bản là kiểu chữ giống như chữ khắc trên mộc hoặc như kiểu thợ sắp chữ của nhà in mà khi viết thì theo một phương pháp đảo lộn, khi xem phải dùng gương phản chiếu. Khi nhìn qua, chữ kiểu này trông giống dạng Hán-Nôm, nhưng thực ra lại là chữ Việt viết ngược.

Ngoài ra thư pháp còn có thể trở thành thư họa. Đó là khi trong một số tranh thư pháp còn có hình ảnh minh họa, trong đó phần tranh có thể chiếm khoảng không gian lớn hơn phần chữ. Hoặc khi nhà thư pháp biến chữ thành tranh, tranh là hình ảnh của chữ.

Thư pháp chữ Việt trên máy tính[sửa | sửa mã nguồn]

Công ty VNI là công ty điện toán đầu tiên thực hiện những bộ font chữ thư pháp tiếng Việt để dùng soạn văn bản trên máy tình và đồ họa.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]