Tòa án Nhân dân Tối cao (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tòa án Nhân dân Tối cao
Supreme People's Court of Vietnam
Tòa án Nhân dân Tối cao.JPG
Chi tiết
Thành lập: 13/9/1945
Khu vực
tài phán:
 Việt Nam
Tọa lạc: 48 Lý Thường Kiệt - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Ủy nhiệm bởi: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhiệm kỳ thẩm phán: 5 năm
Số lượng thẩm phán: 14
Website: Cổng thông tin của Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam

Chánh án
Đương nhiệm: Trương Hòa Bình
Nhậm chức: 2011

Coat of arms of Vietnam.svg
Loạt bài
Chính trị nước CHXHCN Việt Nam

Hiến pháp

Nhà nước
Chủ tịch nước
Quốc hội
Chủ tịch Quốc hội
Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Chính phủ
Thủ tướng
Tòa án Nhân dân tối cao
Viện kiểm sát Nhân dân tối cao

Đảng Cộng sản
Tổng Bí thư
Bộ Chính trị
Ban Bí thư
Ban Chấp hành Trung ương

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tại Việt Nam, Tòa án Nhân dân Tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo Luật tổ chức Toà án Nhân dân năm 2002, Toà án Nhân dân Tối cao gồm Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký toà án.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 13-9-1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Sắc lệnh thiết lập các Toà án quân sự. Theo Điều 1 của Sắc lệnh này thì sẽ thiết lập các Toà án quân sự gồm:

  • Bắc bộ tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình;
  • Trung bộ tại Vinh, Huế, Quảng Ngãi;
  • Nam bộ tại Sài Gòn, Mỹ Tho.

Uỷ ban nhân dân Trung bộ và Nam bộ, trong địa hạt hai bộ ấy, có thể đề đạt lên Chính phủ xin mở thêm Toà án quân sự ở những nơi trọng yếu khác. Về thẩm quyền xét xử, Toà án quân sự xử tất cả những người nào phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trừ trường hợp phạm nhân là binh sỹ thì thuộc về nhà binh tự xử lấy theo quân luật (Điều 2).

Trong cuộc cải cách Tư pháp năm 1950 Chính phủ ra Sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 quy định:

  • Về tổ chức: - Bộ máy tư pháp được dân chủ hoá các Tòa án sơ cấp, đệ nhị cấp nay gọi là Tòa án nhân dân huyện, Tòa án nhân dân tỉnh. Hội đồng phúc án nay là Tòa Phúc thẩm phụ thẩm nhân dân nay gọi là hội thẩm nhân dân.

- Thành phần nhân dân được đa số trong việc xét xử: Để xét xử việc hình và hộ, Tòa án nhân dân huyện và tỉnh gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Tòa Phúc thẩm gồm hai Thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân. Hội thẩm nhân dân có quyền xem hồ sơ và biểu quyết.

- Thành lập hội đồng hoá giải tại mỗi huyện nhằm mục đích giao cho nhân dân trực tiếp phụ trách việc hoá giải tất cả các việc hộ kể cả việc ly dị mà từ trước tới nay chỉ có Chánh án Tòa án tỉnh mới có thẩm quyền. Biên bản hòa giải thành có chấp hành lực. Đây là một điểm tiến bộ so với thế hệ cũ. Khi các đương sự đã thoả thuận trước hội đồng hoá giải thì việc hòa giải được đem thi hành ngay.

- Áo chùng đen của Thẩm phán và luật sư nay bỏ đi.

  • Về thẩm quyền:

- Tăng thẩm quyền cho ban tư pháp xã về việc phạt vi cảnh để làm cho một số việc ít quan trọng về mặt trị an sẽ được giải quyết mau chóng ngay tại xã.

- Giao cho các Tòa án nhân dân huyện quyền ấn định các phương pháp bảo thủ, dù việc xử kiện không thuộc thẩm quyền Tòa án nhân dân huyện để tránh cho đương sự khỏi phải tốn phí đi lên Tòa án tỉnh và những việc cấp bách có thể được giải quyết mau chóng hơn.

  • Về tố tụng: Thủ tục tố tụng được hợp lý và giản dị hơn.

- Trái với quan niệm cũ cho rằng việc hộ thường chỉ có lợi hoặc có hại riêng cho tư nhân mà xã hội không cần can thiệp đến, thì nay công tố viên có quyền kháng cáo các án hộ nếu xét ra cần thiết.

- Theo Sắc lệnh số 51 ngày 17-4-1946, biện lý bắt buộc phải đưa sang phòng dự thẩm để thẩm cứu một số việc hình dù rằng xét ra không cần thiết. Nay biện lý chỉ giao sang phòng dự thẩm khi xét thật cần thiết mà thôi.

- Trước đây mỗi khi thủ tục tố tụng không được theo đúng thì bị tiêu hủy dù không có hại cho việc thẩm cứu, hoặc cho quyền lợi của đương sự. Nay coi điều đó là quá câu nệ về hình thức không còn hợp thời nữa.

- Từ nay người bị thiệt hại về một vụ phạm pháp có thể xin kháng cáo không những để tăng tiền bồi thường mà còn để tăng hình phạt nữa.

- Việc chấp hành án nay giao cho Thẩm phán huyện phụ trách.

Nhiệm vụ và quyền hạn[sửa | sửa mã nguồn]

Theo điều 127 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung; Điều 2 của Luật tổ chức Toà án nhân dân được Quốc hội Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 11 thông qua, Tòa án Nhân dân Tối cao có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

  • Hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử của các Tòa án;
  • Giám đốc việc xét xử của các Tòa án các cấp; giám đốc việc xét xử của Tòa án đặc biệt và các Tòa án khác, trừ trường hợp có quy định khác khi thành lập các Tòa án đó;
  • Trình Quốc hội dự án luật và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự án pháp lệnh theo quy định của pháp luật.

Tòa án Nhân dân Tối cao có thẩm quyền xét xử:

  • Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng;
  • Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.

Kinh phí hoạt động của Tòa án Nhân dân Tối cao, của các Tòa án Nhân dân địa phương do Tòa án Nhân dân Tối cao lập dự toán và đề nghị Chính phủ trình Quốc hội quyết định.

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ cấu tổ chức của Tòa án Nhân dân Tối cao gồm có:

  • Hội đồng Thẩm phán: gồm Chánh án, các Phó Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao và một số Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Tổng số không được quá 17 người.
  • Tòa án quân sự trung ương
  • Tòa hình sự
  • Tòa dân sự
  • Tòa kinh tế
  • Tòa lao động
  • Tòa hành chính
  • Các Tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao
  • Bộ máy giúp việc: Ban Thanh tra, Ban Thư ký, Vụ tổ chức...

Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao;

Các chức vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước. Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
  • Phó Chánh án, Thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao. Nhiệm kỳ của Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao là 5 năm.

Quy định về xét xử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Hiến pháp Việt Nam và theo các quy định về xét xử, các cuộc xét xử của Tòa án Nhân dân Tối cao công khai, độc lập, không lệ thuộc vào chính quyền, và chỉ tuân theo pháp luật. Cách thức xét xử tập thể, có hội thẩm Nhân dân tham gia, quyết định theo đa số.

Toà án Nhân dân Tối cao phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật; người tham gia tố tụng có quyền tự bào chữa và mời luật sư bào chữa, có quyền được dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình.

Đặc điểm và hiện tình[sửa | sửa mã nguồn]

Theo ông Nguyễn Văn Hiện, cựu Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao: "Để đảm bảo chất lượng công tác xét xử, cần phải có 5 điều kiện: người tiến hành tố tụng tốt; hệ thống pháp luật tốt; người tham gia tố tụng tốt; hệ thống các cơ quan hỗ trợ tư pháp tốt; và thực hiện tốt nguyên tắc độc lập tư pháp, tuân theo pháp luật".

Các lãnh đạo qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức nhân sự tòa án đương nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Thẩm phán[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chánh án: Trương Hòa Bình.
  • Các phó Chánh án:
    • 1. Tiến sĩ luật Đặng Quang Phương: phó Chánh án thường trực.
    • 2. Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Trung tướng Trần Văn Độ: Phó Chánh án kiêm Chánh án tòa án quân sự trung ương Việt Nam.
    • 3. Trần Văn Tú: phó chánh án
    • 4. Từ Văn Nhũ: phó chánh án
    • 5. Bùi Ngọc Hòa: phó chánh án
    • 6. Trần Văn Cò: Chánh Tòa Tòa Phúc Thẩm Tòa Án Nhân Dân Tối Cao tại TP Hồ Chí Minh

Tòa án Quân sự Trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa Hình sự[sửa | sửa mã nguồn]

Chánh tòa: Lê Bá Thân

Tòa Dân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Chánh Tòa Đặng Xuân Đào

Tòa Lao động[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chánh Tòa: Nguyễn Xuân Thanh

Phó Chánh Tòa: Trần Thị Thu Hiền

Tòa Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Chánh toà: Nguyễn Thị Hoàng Bạch Yến

Các Tòa phúc thẩm Trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa Phúc thẩm Tòa Án Nhân dân Tối cao tại Hà Nội

  • Chánh Tòa: Nguyễn Hùng Cường

Tòa Phúc thẩm Tòa Án Nhân dân Tối cao tại Đà Nẵng

  • Chánh Tòa: Nguyễn Hồng Sơn(2009)

Tòa Phúc thẩm Tòa Án Nhân dân Tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh

  • Chánh Tòa: Trần Văn Cò (2010)

Ban Thanh tra[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trưởng ban: Đồng chí Nguyễn Anh Tiến
  • Phó trưởng ban: Trần Thị Xuân[1]

Ban Thư ký[sửa | sửa mã nguồn]

Trưởng ban:Đồng chí Lý Khánh Hồng

Vụ tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Cán bộ Tòa án[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiệu trưởng: Chu Xuân Minh

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An[2] nhận xét rằng Việt Nam hiện đang mắc lỗi hệ thống. Tòa án là nhánh yếu nhất trong ba cơ quan quyền lực nhà nước. Mặc dù "Hiến pháp và Pháp luật đã ghi rất rõ: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật là tối thượng. Song trong thực tiễn thì không ít trường hợp chỉ chị, nghị quyết của Đảng mới là tối thượng". Điều này trái với nguyên tắc Tam quyền phân lập, tức hành pháp, tư pháp và lập pháp là bình đẳng và giám sát lẫn nhau.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]