Kinh tế Hoa Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kinh tế
Hoa Kỳ
Năm tài chính 1 tháng 10 - 30 tháng 9
Tổ chức thương mại WTO, NAFTA, OECD, APEC và các tổ chức thương mại khác
Thống kê
GDP (2010) 14.660 tỷ USD (thứ 1)
GDP đầu người 46.442 USD (2009)
Tăng GDP 2,9% (2010)
GDP theo lĩnh vực nông nghiệp: 0,9 %
công nghiệp: 20,4 %
dịch vụ: 78,6% (2006)
Tỷ lệ lạm phát 1.1% (2010)
Lực lượng lao động 154.5 triệu (gồm cả lực lượng thất nghiệp) (2010)
Theo nghề nghiệp Quản lý và chuyên gia (31.1%), kỹ thuật, bán hàng và hỗ trợ kinh doanh (28.6%), dịch vụ (14.1%), sản xuất, khai thác, vận chuyển, máy bay (23.7%), nông nghiệp, lâm nghiệp, và nghề cá (2.5%) (ước 2002)
Tỷ lệ thất nghiệp 9.0% (đầu 2011)
Ngành công ngiệp dầu mỏ, thép, motor, vũ trụ, viễn thông, hóa học, điện tử, chế biến thức ăn, hàng tiêu dùng, gỗ, khái thác mỏ, công nghiệp quốc phòng
Thương mại
Xuất khẩu $1.024 tỉ USD (ước 2006)
Mặt hàng xuất khẩu Sản phẩm nông nghiệp 9.2%, hỗ trợ công nghiệp 26.8%, Hàng hóa (transistors, máy bay, các bộ phận của môtô, máy tính, thiết bị viễn thông) 49.0%, Hàng tiêu dùng (xe ô tô, y khoa) 15.0% (2003)
Đối tác xuất khẩu Canada 23%, Mexico 14%, Nhật Bản 6%, Lục địa Trung Quốc 6%,[1] Anh 3.5%
Nhập khẩu 1.869 tỉ USD (2006)
Các mặt hàng sản phẩm nông nghiệp 4.9%, hỗ trợ công nghiệp 32.9% (dầu thô 8.2%), hàng hóa 30.4% (máy tính, thiết bị viễn thông, các bộ phận xe motor, máy văn phòng, thiết bị điện), hàng tiêu dùng 31.8% (xe ô tô, quần áo, y khoa, đồ đạc, đồ chơi) (2003)
Các đối tác chính Canada 17%, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 16%, Mexico 11%, Nhật Bản 8%, Đức 5%
Tài chính công
Nợ công cộng 14.000 tỉ USD (93% GDP) (2010)
Thu ngân sách 2.162 tỷ USD(ước 2006)
Chi ngân sách 3.456 tỷ USD (ước 2006)
Viện trợ phát triển ODA $19 tỉ, 0.16% of GDP (2004)

Kinh tế Hoa Kỳquy mô lớn nhất thế giới, tới 13.210 tỉ USD trong năm 2006.[1] Đây là một nền kinh tế hỗn hợp, nơi mà các công ty, các tập đoàn lớn và các công ty tư nhân là những thành phần chính của nền kinh tế vi mô, ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế của Hoa Kỳ. Kinh tế Hoa Kỳ cũng duy trì được năng suất lao động cao, GDP bình quân đầu người cao, khoảng 44.000 USD, mặc dù chưa phải cao nhất trên thế giới. Kinh tế Hoa Kỳ có mức độ tăng trưởng kinh tế vừa phải, tỉ lệ thất nghiệp thấp, trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ, khả năng nghiên cứu, và đầu tư vốn cao. Các mối quan tâm chính trong nền kinh tế Hoa Kỳ gồm nợ quốc gia, nợ nước ngoài, nợ của người tiêu dùng, tỉ lệ tiết kiệm thấp, và sự thâm hụt tài chính lớn.

Theo số liệu thống kê vào tháng 6 năm 2007, tổng nợ nước ngoài của Hoa Kỳ là 12.000 tỉ USD, tương đương 88% GDP của nước này,[2] (Xem Danh sách các nước theo nợ nước ngoài).[3] Nợ công cộng (còn gọi là nợ quốc gia) tương đương 65% GDP.Trong năm 2008 kinh tế Mỹ đã gặp một cuộc khủng hoảng khiến kinh tế thế giới bị ảnh hưởng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Thế chiến thứ nhất, Hoa Kỳ đã có được thời kỳ phát triển thịnh vượng về kinh tế suốt những năm 1920. Thị trường chứng khoán tăng trưởng đột biến, nhảy vọt. Tuy nhiên, cuộc suy thoái lớn đã kết thúc thời kỳ này. Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã đưa ra một loạt các chương trình xã hội và việc làm công cộng, nó được biết đến với tên gọi New Deal (Giải pháp mới). Giải pháp mới là cách bảo vệ an toàn xã hội bằng các trương chình trợ giúp như Quản lý xúc tiến việc làm (WPA) và một hệ thống an ninh xã hội. Năm 1941, Hoa Kỳ tham gia vào Thế chiến thứ hai. Hậu phương thời chiến đã bảo đảm tốt về kinh tế, ngay khi xảy ra thiếu lao động thì hàng triệu bà vợ nội trợ, những sinh viên, những nông dân và những người Mỹ gốc Phi tham gia vào lực lượng lao động. Hàng triệu người di chuyển đến các trung tâm công nghiệp ở phía Bắc và phía Tây. Quân đội tiêu tốn đến 40% GDP ở đỉnh điểm, làm số nợ lên mức kỷ lục.

Sau Chiến tranh thế giới lần II, là thời kỳ phát triển thịnh vượng vượt bậc ở Hoa Kỳ. Nền kinh tế vẫn giữ được sự ổn định đến tận những năm 1970, khi Hoa Kỳ phải đối mặt với tình trạng lạm phát đình đốn. Richard Nixon đã đưa Hoa Kỳ ra khỏi Hệ thống Bretton Woods, và chính phủ cố gắng làm hồi sinh nền kinh tế đã suy yếu. Một thập kỷ tiếp theo, tình hình còn trở nên tồi tệ hơn. Vào tháng 11 năm 1980, Robert G. Anderson đã viết "tiếng chuông cáo chung cho cuộc cách mạng kinh tế của Keynes cuối cùng đã vang lên." Ronald Reagan được bầu trở thành tổng thống vào năm 1980, ông cho rằng " government is not the solution to our problem, government is the problem." (chính phủ không là giải pháp đối với vấn đề của chúng ta,..) Reagan ủng hộ chương trình kinh tế supply-side' (hạ mức thuế để khuyến khích sản xuất và đầu tư), và trong năm 1981 Quốc hội đã cắt giảm thuế và sự chi tiêu. Không may mắn như mong đợi, việc cắt giảm chi tiêu gặp phải khó khăn hơn sự cắt giảm về thuế, dẫn tới sự gia tăng đáng kể về nợ công cộng. Mặc dù Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giảm khoảng 2% trong năm 1982, nhưng nó đã bắt đầu phục hồi trở lại, vào năm 1988 đã đạt mức tăng trưởng tổng cộng là 31% kể từ khi Reagan được bầu. Nhưng chính sách kinh tế cũng không phù hợp một cách dễ ràng với bất kỳ học thuyết riêng biệt nào. Thâm hụt lớn về ngân sách đã xảy ra trong thời kỳ Reagan..

Lạm phát ngầm[sửa | sửa mã nguồn]

Vật giá leo thang đang khiến người Hoa Kỳ điêu đứng hơn nhiều so với ước tính của Chính phủ. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Chính phủ trong tháng 1-2011 cho thấy “lạm phát chính” - gồm giá của tất cả các mặt hàng trừ lương thực và năng lượng - chỉ tăng 1% so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ số này không bao hàm những “đau đớn” do vật giá leo thang đang đè nặng lên các hộ gia đình. Thực tế, nhiều nhà kinh tế tin lạm phát thực phải ở mức từ 8-9%.

Những nhân tố bị phớt lờ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhưng những gì lạm phát chính không bao hàm là những tác động nguy hiểm của lạm phát ngầm, một loại lạm phát không được phản ảnh trong các dữ liệu chính thức nhưng có thể kéo lùi nền kinh tế vốn đang phục hồi rất yếu ớt. Lạm phát ngầm dưới hình thức giá lương thực và năng lượng leo thang đang đâm thẳng vào ví tiền và tài khoản tiết kiệm của người dân.

Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ loại chi phí của 2 nhóm hàng thiết yếu này ra khỏi dữ liệu cấu thành chỉ số lạm phát chính, vì cho rằng đó là những hàng hóa dễ biến động và lạm phát chính thể hiện tốt hơn xu hướng lạm phát. Nhưng giá các mặt hàng này đang leo thang nhanh chóng. Chỉ số giá tháng 1 tại Hoa Kỳ tăng 1,6% so với năm ngoái, trong đó năng lượng và lương thực chiếm tới 2/3 của việc tăng lạm phát.

Chỉ số giá lương thực tăng 1,8% trong 12 tháng qua, trong khi giá năng lượng tăng 7,3%, đặc biệt giá xăng tăng 13,4%. “Quan ngại chung của thế giới hiện nay là lạm phát giá hàng hóa. Và người tiêu dùng Hoa Kỳ đang cảm nhận những tác động từ vật giá leo thang. Hơn 12% thu nhập sau thuế của các hộ gia đình được chi tiêu cho năng lượng và thực phẩm” - theo nhân định của Credit Suisse Group AG. Giá hàng hóa cao hơn đã đẩy giá bán lẻ nhiều mặt hàng lương thực. Chỉ số giá lương thực tại Hoa Kỳ tăng mạnh nhất 2 năm hồi tháng 1 khi tăng 0,7%. Một trong những loại hàng hóa tăng mạnh nhất là ngô, tăng tới mức cao nhất 30 tháng vào tháng 1. Vì ngô là thức ăn chính của nhiều loại gia súc, giá ngô tăng kéo giá các loại thịt tăng theo. Thịt lợn tăng 12% so với năm ngoái, thịt bò tăng 6% và thịt gia cầm tăng 2%.

Giá lúa mì cũng tăng mạnh và giá cà phê hạt tăng tới 77%. Giá hàng hóa tăng không chỉ ảnh hưởng giá lương thực. Giá bông tương lai tăng tới 92% trong năm 2010 do lũ lụt ở Pakistan và mưa lớn ở Trung Quốc. Giá bông tăng kéo theo giá quần áo và các loại khăn. Giá bán lẻ quần jean dự báo tăng 4,3% trong năm nay, trong khi áo sơ mi tăng 2,4%, áo thun tăng 1,8%. Lạm phát cũng tác động đến giá thuê nhà.

Các nhà phát triển bất động sản dự báo giá thuê nhà trong năm nay sẽ tăng 2 con số. Những ông chủ nhà máy ở Hoa Kỳ cũng cảm nhận được sự leo thang của giá cả. Giá nguyên liệu thô hồi tháng 1 tăng chạm mức cao nhất kể từ tháng 7-2008.

Lạm phát thật từ 9-12%?[sửa | sửa mã nguồn]

Báo cáo cho biết trong tháng 2-2011 giá lương thực tăng 2,8% so với năm ngoái, trong khi giá xăng tăng tới 19,2%. Theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Chính phủ, giá các mặt hàng tăng 2,1% nhưng nhiều chuyên gia tin rằng lạm phát thực phải gần 8% hoặc cao hơn. “Những nghiên cứu của tôi cho thấy lạm phát thật ra đang ở giữa mức 9-12% mà tất cả chúng ta đều cảm nhận được khi chi tiêu hàng ngày. Chẳng hạn, bộ xếp hình Lego của con tôi cách nay vài tháng có giá 22USD, nay đã tăng lên 33USD” - Giám đốc Chiến lược đầu tư Keith Fitz-Gerald của Money Morning, nói.

Chỉ số giá sản xuất (PPI), phản ánh giá hàng hóa trước khi đến tay người tiêu dùng, cũng tăng vào tháng trước. Giá bán sỉ ở Hoa Kỳ trong tháng 2 tăng 1,6%, gấp đôi mức tăng hồi tháng 1 và vượt xa dự báo 0,7% của giới chuyên gia. Điều đó có nghĩa người tiêu dùng sẽ phải chứng kiến giá cả tăng mạnh trong thời gian tới, khi các nhà sản xuất và bán lẻ quyết định chuyển bớt gánh nặng sang họ.

Trong tháng 2, giá bán sỉ tăng 3,9%, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 11-1974 và tăng 7,3% trong 12 tháng. Giá lương thực thế giới đang ở mức cao nhất kể từ khi Liên hiệp quốc tiến hành theo dõi vào năm 1990. Năm 2008, giá lương thực từng tăng chạm kỷ lục nhưng sau đó hạ xuống. Còn lần này giới chuyên gia tin rằng giá lương thực cao sẽ tồn tại trong một thời gian dài. “Sự khác biệt lớn giữa đợt tăng giá năm 2008 và hiện nay là nhu cầu đang cao hơn nhiều. Điều đó có nghĩa giá cả sẽ khó hạ” - Joseph LaVorgna, kinh tế trưởng tại Hoa Kỳ của Deutsche Bank AG, nói.

Các công ty đang giảm lợi nhuận vì phải trả giá nguyên liệu và vận chuyển cao hơn. Họ phải tìm cách cân bằng những chi phí phát sinh, hoặc tăng giá bán sản phẩm và chấp nhận nguy cơ mất khách hàng. Các doanh nghiệp không muốn tăng giá giữa thời buổi người tiêu dùng không được xông xênh như hiện nay, nhưng họ có quá ít lựa chọn. Xu hướng chuyển gánh nặng sang người tiêu dùng đang bắt đầu gia tăng.

Thí dụ, các nhà hàng của Wendy chỉ để cà chua lên sandwishes khi khách hàng yêu cầu. Starbucks Corp. và Dunkin' Donuts tăng giá cà phê gói và cà phê hộp. Kellogg Company cho biết sẽ tăng giá bột ngũ cốc từ 3-4% trong năm nay. Trong khi đó, nhà sản xuất lương thực General Mills Inc. ước tính các loại nguyên liệu nấu ăn của họ tăng hơn năm ngoái 4-5%. Người tiêu dùng Hoa Kỳ cũng sẽ chứng kiến các mặt hàng như tã Huggies và các loại quần Pull-Ups, Goodnites tăng 3-7%; các loại giấy vệ sinh Cottonelle và Scott tăng khoảng 7%.

Nhiều nhà bán lẻ thừa nhận giá cả trong những tháng tới sẽ lên, nhưng cố níu kéo khách hàng bằng việc tung ra nhiều chương trình giảm giá. Như Kohl's Corp. cho biết sẽ có nhiều chương trình giảm giá đặc biệt cho những người trên 60 tuổi, đối tượng bị giảm thu nhập lớn do lạm phát giá lương thực và năng lượng.

Trong khi đó người tiêu dùng Hoa Kỳ cũng có khá nhiều cách để tự xoay xở như tích trữ, săn hàng giảm giá hoặc giảm việc chi tiêu hàng ngày xuống mức tối thiểu. Một khảo sát công bố hồi cuối tháng 3 của America's Research Group (ARG) cho thấy khoảng 75% người dân Hoa Kỳ mua sắm ít hơn do giá nhiên liệu tăng. Người dân cũng cắt giảm việc đi ăn bên ngoài và trả giá nhiều hơn các tháng trước

USD mất thế[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian qua, nhiều định chế và nhà phân tích uy tín trên thế giới đưa ra các dự báo, cho rằng Hoa Kỳ sẽ mất ngôi vị nền kinh tế số 1 hành tinh trong vòng 20-30 năm nữa. Chưa biết các dự báo trên có chính xác, nhưng có một điều khá rõ ràng: Hoa Kỳ đang mất dần vị thế siêu cường cả về kinh tế và chính trị. Thực tế đó được thể hiện rõ nét qua các cuộc khủng hoảng đang diễn ra ở nước này.

Cùng với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các nhà phân tích bắt đầu nói đến sự sụp đổ của USD - “ngoại tệ vua”. Cứ mỗi ngày trôi qua, đồng tiền màu xanh lá này mất dần vị thế như một loại tền tệ được sử dụng chính trong các hoạt động giao dịch toàn cầu, cũng như vai trò là ngoại tệ dự trữ của thế giới.

Nhà đầu tư xa lánh[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2011, nhà đầu tư nổi tiếng thế giới Jim Rogers đã khơi mào một làn sóng tẩy chay USD trên khắp thế giới khi khẳng định USD hiện đã trở thành một “lựa chọn sai lầm”. Tuy nhiên, không phải ông Rogers mà chính những yếu kém của đồng tiền xanh lá đang khiến giới đầu tư ngày càng xa lánh.

Nouriel Roubini, một nhà kinh tế đoạt giải Nobel, dự báo trong trung hạn, USD sẽ mất 15-20% giá trị do thâm hụt ngân sách và nợ công cao. TS. Marc Faber còn mạnh miệng hơn khi dự báo một sự phá giá hoàn toàn của USD chỉ trong vòng 10 năm. Theo ông, việc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) liên tục in thêm tiền cho các chương trình nới lỏng định lượng sẽ khiến USD ngày một mất giá, trong khi đó các ngân hàng lại đang cho vay với tổng số tiền lớn hơn GDP nhiều lần.

Nhà kinh tế Robert Kiyosaki cũng tin rằng FED trong 3 năm qua đã in nhiều tiền hơn so với 1 thập niên trước. Trong thực tế, lượng tiền mặt bằng USD đang gia tăng nhanh chóng. Trong năm 2005, có 760 tỷ USD tiền mặt được lưu hành, nhưng đến năm 2008 con số này lên tới 875 tỷ USD. Ngày 21-4, USD rớt xuống mức thấp nhất mọi thời đại so với franc Thụy Sĩ (CHF).

Tỷ giá USD/CHF chạm mức thấp kỷ lục 0,881USD ăn 1CHF, dù CHF giảm giá so với EUR 0,14%. Trong khi đó, bảng Anh (GBP) tăng chạm mức cao nhất 16 tháng so với USD. Tỷ giá GBP/USD tăng tới mức cao nhất kể từ tháng 12-2009, với 1,656 USD ăn 1GBP. Chỉ số USD - dùng để đo tỷ giá bình quân của đồng tiền màu xanh lá với 6 loại ngoại tệ chính khác - giảm còn 73,873 điểm vào tuần trước, mức thấp nhất kể từ tháng 8-2008.

Giới quan sát còn tin rằng lạm phát thực ở Hoa Kỳ hiện nay đang ở mức 8-9% do giá nhiên liệu và lương thực tăng cao nhưng không được tính vào chỉ số CPI chính thức (xem ĐTTC các số 407, 408, trang 20-21). Các nhà kinh tế còn lo ngại nếu có thêm chương trình nới lỏng định lượng thứ 3, Hoa Kỳ có thể rơi vào tình trạng siêu lạm phát. Lợi suất trái phiếu 10 năm của Hoa Kỳ hiện chỉ đạt 3,5%, trong khi lạm phát đang ở mức 8-9%, cộng với USD đang mất dần giá trị, là những nguyên nhân khiến nhà đầu tư dần xa lánh các khoản đầu tư có liên quan đến USD.

Mất vai trò dự trữ[sửa | sửa mã nguồn]

Phát biểu trong hội nghị Bretton Woods II mới đây, tỷ phú George Soros - một trong các nhà đầu tư thành công nhất thế giới - nhận định vai trò ngoại tệ dự trữ toàn cầu của USD đang giảm dần. Soros cho rằng đã đến lúc cần tìm một đồng tiền khác thay thế USD trên thị trường tài chính toàn cầu, bởi lẽ việc đưa USD thành ngoại tệ toàn cầu đã lỗi thời.

Trong thực tế, tỷ lệ các danh mục đầu tư có liên quan đến USD của các ngân hàng trung ương trên thế giới đang giảm dần, từ 70% xuống còn 66% cách nay hơn 2 năm và hiện nay là 61,1%. Thay vào đó, các ngân hàng trung ương và nhà đầu tư đang nhắm đến các loại tài sản dự trữ khác như vàng hoặc hàng hóa. Các nhà phân tích của Money Morning đưa ra một danh sách các ứng viên có thể soán ngôi USD, gồm SDR - quyền rút vốn đặc biệt của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), vàng, dầu mỏ và các loại ngoại tệ khác.

Trong đó, vàng có độ tin cậy cao nhất nhưng lại không đủ số lượng cần thiết để đáp ứng nhu cầu dự trữ của các nước. Dầu mỏ đang được xem như một loại “tiền tệ của thế giới”, nhưng điều trớ trêu nó lại được định giá bằng USD.

Một dự báo được nhiều người chấp nhận là trong tương lai gần, USD có thể bị thay thế bằng một loại “ngoại tệ khu vực”, như NDT ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, hay rupee Ấn Độ ở Nam Á, hoặc rand của Nam Phi ở châu Phi, hay các nước Trung Đông đang nhắm đến việc tạo ra đồng tiền riêng của khu vực: dinar. Trong số các ngoại tệ trên, nhiều người cho rằng có thể NDT sẽ sớm thay thế vai trò của đồng tiền màu xanh lá.

Mối nguy từ BRICS[sửa | sửa mã nguồn]

Tại hội nghị thượng đỉnh các nước BRICS vừa diễn ra tại Sanya (Trung Quốc), lãnh đạo các nước Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi đưa ra tuyên bố chung, cho rằng cần cải thiện những bất hợp lý và khác biệt trong hệ thống tài chính và tiền tệ quốc tế hiện nay. Theo đó cải tổ hệ thống tiền tệ quốc tế với một hệ thống tiền tệ dự trữ rộng hơn. Đây được xem như một lời tuyên chiến chính thức đối với vai trò ngoại tệ dự trữ của USD.

Bằng việc thêm thành viên Nam Phi, BRICS nay được nhìn nhận như một thế lực có nhiều nhân tố cơ bản để hỗ trợ cho 1 ngoại tệ dự trữ mới. Trung Quốc và Nam Phi hiện là 2 nước sản xuất vàng đứng đầu thế giới, trong khi Nga đứng thứ 6 và Brazil đứng thứ 15. Năm 1998, Ngoại trưởng Nga Yevgeny Primakov đã thai nghén một liên minh kinh tế giữa Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, với mục tiêu thách thức ảnh hưởng quốc tế của Hoa Kỳ.

Vài năm sau, Brazil được kết nạp vào nhóm này. Các nước này, đặc biệt Trung Quốc và Nga, đã nhiều lần kêu gọi cải tổ hệ thống ngoại tệ dự trữ quốc tế hiện nay để thay bằng một rổ các ngoại tệ khác, trong đó có NDT của Trung Quốc. Tháng 12-2010, Trung Quốc và Nga đạt thỏa thuận dùng đồng tiền của 2 nước thay cho USD trong giao dịch thương mại song phương.

Đa khủng hoảng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tháng 4-2011, hãng đánh giá tín dụng Standard and Poor's (S&P) hạ dự báo tín dụng của Hoa Kỳ từ mức “ổn định” xuống “tiêu cực”. Cùng lúc, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cảnh báo Hoa Kỳ không đáng tin cậy khi nói về chuyện cắt giảm thâm hụt ngân sách. Những diễn biến này chỉ là một phần nhỏ trong hàng loạt cuộc khủng hoảng Hoa Kỳ đang hoặc sắp phải đối mặt.

Trái phiếu sụp đổ?[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà kinh tế Martin Hutchinson, được nhiều người vị nể, vừa xuất bản một loạt dự báo về tình hình kinh tế Hoa Kỳ. Trong đó, ông tin rằng nền kinh tế số một hành tinh có thể sớm rơi vào một cuộc khủng hoảng trái phiếu toàn diện do sự suy yếu của USD và những nhân tố bất ổn khác của nền kinh tế. Theo Hutchinson lợi suất trái phiếu của Hoa Kỳ hiện ở mức rất thấp, 10 năm chỉ đạt 3,4%, khiến trái phiếu đang trở thành một kênh đầu tư lợi nhuận cực thấp. Trong thực tế, những nhà đầu tư mua vào trái phiếu 10 năm hồi tháng 1 đang chứng kiến khoản thua lỗ 0,76% so với tiền vốn. Trong khi đó, có 3 nhân tố khiến thị trường trái phiếu càng trở nên kém hấp dẫn, bao gồm chính sách tiền tệ bất hợp lý của Chính phủ, lạm phát và thâm hụt ngân sách.

Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) Ben S. Bernanke đã duy trì lãi suất ở mức thấp kỷ lục (0%) trong suốt 30 tháng qua khiến lạm phát đang có dấu hiệu tăng ngoài kiểm soát. Kể từ tháng 11-2010, FED mua vào khoảng 2/3 trái phiếu được phát hành với lãi suất thấp trên. Điều này sẽ khiến lạm phát càng tăng nhanh và khi FED ngừng mua trái phiếu, thị trường này sẽ ế ẩm. Dù chỉ số lạm phát chính thức vẫn ở mức thấp, nhưng chỉ số giá sản xuất (PPI) tăng 10% so với năm ngoái, trong khi giá năng lượng tăng 7,3%, đặc biệt giá xăng tăng tới 13,4%. Giới chuyên môn tin rằng lạm phát thực ở Hoa Kỳ hiện đang ở mức 8-9%. Ngoài ra, chương trình kích cầu 787 tỷ USD của Chính phủ trước đây đang tạo ra khoản thâm hụt lên đến 1.600 tỷ USD.

Hutchinson tin rằng sự kết hợp của các nhân tố trên khiến nguy cơ sụp đổ hoàn toàn thị trường trái phiếu rất cao và sẽ tồi tệ hơn những gì đã xảy ra vào thập niên 70 của thế kỷ trước. Hutchinson dự báo cuộc khủng hoảng trái phiếu Hoa Kỳ có thể xảy ra vào quý III năm nay, sau khi chương trình nới lỏng định lượng thứ 2 (QE2) của FED kết thúc vào ngày 30-6.

Thâm hụt ngân sách[sửa | sửa mã nguồn]

S&P duy trì mức tín nhiệm nợ của Hoa Kỳ ở hạng AAA, nhưng đổi sang dự báo “tiêu cực”, một dấu hiệu cho biết họ có thể hạ bậc tín nhiệm nếu Hoa Kỳ không có chuyển biến tích cực. Trong thông báo của mình, S&P giải thích động thái của họ xuất phát từ các quan ngại xung quanh gánh nặng nợ công của nền kinh tế lớn nhất thế giới, tin rằng các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ có thể không đạt được một thỏa thuận để giải quyết các áp lực tài chính dài hạn của đất nước.

Trong một cuộc phỏng vấn với đài CNBC, David Beers - Giám đốc đánh giá nợ quốc gia toàn cầu của S&P - cho biết ông lo ngại trước những biện pháp giải quyết áp lực tài chính của Chính phủ, dù Nhà Trắng đang cố gắng loan truyền tin tức tích cực về những cuộc đàm phán ngân sách và các mục tiêu cắt giảm thâm hụt. Bởi ngay cả kế hoạch ngân sách do đảng Cộng hòa đề xuất đã được Hạ viện thông qua rất ít thuyết phục. “Kế hoạch này chưa đủ nghiêm túc bởi nó không được thực hiện trong năm nay, mà phải tới 10 năm sau, khi những người tại nhiệm hiện nay có lẽ không còn chịu trách nhiệm” - nhà kinh tế Paul Krugman nhận xét.

Trong khi đó, việc thông qua kế hoạch ngân sách đang phơi bày điểm yếu nhất của Chính phủ hiện nay. Đó là sự bất đồng sâu sắc giữa 2 đảng Dân chủ kiểm soát Thượng viện và đảng Cộng hòa kiểm soát Hạ viện (xem thêm bài “Cuộc chiến ngân sách ở đồi Capitol” trong số báo 411 ngày 18-4-2011). Nhưng dù là kế hoạch cắt giảm 6.200 tỷ USD chi tiêu công của đảng Cộng hòa, hay kế hoạch giảm 4.000 tỷ USD của Tổng thống Obama đều kém xa những con số cần thiết. Đó là lý do vì sao IMF tỏ ra không tin tưởng việc cắt giảm thâm hụt ngân sách của Hoa Kỳ, đã cảnh báo: “Chỉ với việc cắt giảm 38,5 tỷ USD ngân sách cho năm 2011, Chính phủ Hoa Kỳ đã suýt rơi vào cảnh đóng cửa. Và điều gì sẽ xảy ra vào 10 năm tới khi nước này phải cắt giảm tới 600 tỷ USD mỗi năm?”.

Phân hóa xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Theo một phúc trình của Global Research (GR), số người nghèo sống nhờ vào tem phiếu trợ cấp lương thực ở Hoa Kỳ hiện nay đang ngang ngửa thập niên 30 của thế kỷ trước. Theo nghiên cứu của GR, hiện có tới 45 triệu dân Hoa Kỳ (16% dân số) phải sống nhờ tem phiếu trợ cấp lương thực của Chính phủ do tình trạng thất nghiệp cao. Đây chính là yếu tố khiến nhiều nhà quan sát cho rằng tỷ lệ thất nghiệp thực tế ở nền kinh tế lớn nhất hành tinh hiện nay có thể trên 20%, cao hơn nhiều so với con số 8,8% do Chính phủ đưa ra.

Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với thu nhập của hộ gia đình, đặc biệt tầng lớp bình dân, đang suy giảm, tức người nghèo càng nghèo đi. Nhưng những điều này ít ảnh hưởng tới tầng lớp thượng lưu ở Hoa Kỳ. Các đại gia Phố Wall và các công ty tài chính vẫn nặng túi với những khoản tiền thưởng khổng lồ. Trong năm 2011, những người có thu nhập từ 1 triệu USD trở lên chỉ phải đóng thuế thu nhập 23,1%, trong khi vào năm 1961, những người có thu nhập hơn 1 triệu USD (theo thời giá hiện tại) phải trả tới 43,1% tiền thuế. Nếu kế hoạch ngân sách của đảng Cộng hòa ở Hạ viện trở thành luật, tầng lớp trung lưu càng phải chứng kiến những đau đớn nhiều hơn từ các chương trình cắt giảm chi tiêu, trong khi giới người giàu lại hưởng thêm nhiều chương trình miễn giảm thuế. Phúc trình của GR dự báo xã hội Hoa Kỳ sẽ nhanh chóng phân hóa thành 2 tầng lớp: 20% giàu và 80% nghèo.

Trao đổi thương mại quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ trong năm 2004[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ theo các quốc gia (không bao gồm xuất khẩu dịch vụ)[4]
Nước Triệu USD Phần trăm cumulative percentage
Canada 189101 23.1192% 23.1192%
Mexico 110775 13.5432% 36.6624%
Nhật Bản 54400 6.6509% 43.3133%
Anh 35960 4.3964% 47.7097%
Trung Quốc 34721 4.2449% 51.9546%
Đức 31381 3.8366% 55.7912%
Triều Tiên 26333 3.2194% 59.0106%
Hà Lan 24286 2.9692% 61.9798%
Đài Loan 21731 2.6568% 64.6366%
Pháp 21240 2.5968% 67.2334%
Singapore 19601 2.3964% 69.6298%
Bỉ 16877 2.0634% 71.6931%
Hồng Kông 15809 1.9328% 73.6259%
Australia 14271 1.7448% 75.3707%
Brasil 13863 1.6949% 77.0655%
Malaysia 10897 1.3323% 78.3978%
Ý 10711 1.3095% 79.7073%
Switzerland 9268 1.1331% 80.8404%
Israel 9198 1.1245% 81.9649%
Ireland 8166 0.9984% 82.9633%
Philippin 7072 0.8646% 83.8279%
Tây Ban Nha 6641 0.8119% 84.6398%
Thái Lan 6363 0.7779% 85.4177%
Ấn Độ 6095 0.7452% 86.1629%
Ả Rập Saudi 5245 0.6412% 86.8042%
Venezuela 4782 0.5846% 87.3888%
Colombia 4504 0.5507% 87.9394%
Cộng hòa Dominica 4343 0.5310% 88.4704%
Các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 4064 0.4969% 88.9673%
Chile 3625 0.4432% 89.4105%
Argentina 3386 0.4140% 89.8244%
Thổ Nhĩ Kỳ 3361 0.4109% 90.2353%
Costa Rica 3304 0.4039% 90.6393%
Sweden 3265 0.3992% 91.0385%
Nam Phi 3172 0.3878% 91.4263%
Ai Cập 3105 0.3796% 91.8059%
Nước khác 67023 8.19% 100%
Tổng cộng: 817.939

Nhập khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ trong năm 2004[sửa | sửa mã nguồn]

Nhập khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ theo quốc gia (không bao gồm nhập khẩu dịch vụ)[5]
Nước Triệu USD Phần trăm Cumulative Percentage
Canada 255928 17.41401% 17.41401%
Trung Quốc 196699 13.38392% 30.79793%
Mexico 155843 10.60397% 41.40190%
Nhật Bản 129595 8.81798% 50.21988%
Đức 77236 5.25534% 55.47522%
Anh 46402 3.15731% 58.63253%
Triều Tiên 46163 3.14105% 61.77359%
Đài Loan 34617 2.35543% 64.12902%
Pháp 31814 2.16471% 66.29373%
Malaysia 28185 1.91778% 68.21151%
Ý 28089 1.91125% 70.12276%
Ireland 27442 1.86723% 71.98998%
Venezuela 24962 1.69848% 73.68846%
Brasil 21157 1.43958% 75.12804%
Ả Rập Saudi 20924 1.42372% 76.55176%
Thái Lan 17577 1.19599% 77.74775%
Nigeria 16246 1.10542% 78.85317%
Ấn Độ 15562 1.05888% 79.91205%
Singapore 15306 1.04146% 80.95351%
Israel 14527 0.98846% 81.94196%
Thụy Điển 12687 0.86326% 82.80522%
Hà Lan 12605 0.85768% 83.66290%
Bỉ 12448 0.84699% 84.50989%
Nga 11847 0.80610% 85.31599%
Thụy Sĩ 11643 0.79222% 86.10821%
Indonesia 10811 0.73561% 86.84382%
Hồng Kông 9314 0.63375% 87.47757%
Philippin 9144 0.62218% 88.09975%
Iraq 8514 0.57931% 88.67907%
Australia 7544 0.51331% 89.19238%
Tây Ban Nha 7476 0.50869% 89.70107%
Algeria 7409 0.50413% 90.20520%
Colombia 7290 0.49603% 90.70123%
Nước khác 136.661 9.29877% 100%
Tổng nhập khẩu: 1.469.667

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]