Kinh tế Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kinh tế
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Năm tài chính 1 tháng 1 - 31 tháng 12
Các tổ chức thương mại WTO, APEC
Thống kê
GDP (2008, danh nghĩa) 4,42 nghìn tỷ USD (thứ 3 trên thế giới)
GDP (2007, theo sức mua tương đương (PPP) 7,099 nghìn tỷ USD (thứ 2)
GDP bình quân đầu người (2007, danh nghĩa) 2.660 USD (thứ 104)
GDP bình quân đầu người (2007, PPP) 5.300 USD (thứ 105)
Tốc độ tăng trưởng GDP (2008) 9% (số liệu của Chính phủ)
GDP theo lĩnh vực (2007) nông nghiệp: 11,1%
công nghiệp và xây dựng: 48,5%
dịch vụ: 40,4%
Tỷ lệ lạm phát (CPI, 2007) 4,8%
Thu nhập hoặc tiêu dùng hộ gia đình theo phần trăm (2004) 10% thấp nhất: 1,8%
10% cao nhất: 33,1%
Dân số sống dưới mức nghèo khổ (ước 2004) 10%
Lực lượng lao động (ước 2006) 795,3 triệu
Lực lượng lao động theo nghề nghiệp (ước 2005) nông nghiệp: 45%
công nghiệp: 24%
dịch vụ: 31%
Tỷ lệ thất nghiệp (ước 2006) 4,3% (chính thức), 13% (không chính thức)
Các đối tác thương mại
Xuất khẩu 974 tỷ USD theo giá FOB (ước 2006)
Các đối tác chính (2005) Mỹ 21,4%, Hong Kong 16,3%, Nhật Bản 11%, Hàn Quốc 4,6%, Đức 4,3%
Nhập khẩu 777,9 tỷ USD giá FOB (ước 2006)
Các đối tác chính (2005) Nhật Bản 15,2%, Hàn Quốc 11,6%, Đài Loan 11,2%, Mỹ 7,4%, Đức 4,6%
Tài chính công
Nợ công cộng 22,1% GDP (ước 2006)
Nợ nước ngoài (ước 2006) 305,6 tỷ USD
Dự trữ ngoại tệ (tháng 3 năm 2007) 1.202 tỷ USD
Thu ngân sách (ước 2006) 446,6 tỷ USD
Chi ngân sách (ước 2006) 489,6 tỷ USD
Viện trợ kinh tế (ODA) (nhận, 2004) 39 triệu USD
Ký hiệu xuất xứ hàng hóa
Tiếng Anh Made in China
Tiếng Trung -
Mã số hàng hóa 690
So sánh GDP TQ

Kinh tế Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới nếu tính theo Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) danh nghĩa. GDP Trung Quốc năm 2013 là 9 nghìn tỷ USD.[1] GDP bình quân đầu người danh nghĩa năm 2007 là 2.660 USD (5.300 USD nếu tính theo sức mua tương đương (PPP), vẫn còn thấp so với rất nhiều nền kinh tế khác trên thế giới (thứ 104 trên 183 quốc gia năm 2007). Trong những năm gần đây, GDP bình quân đầu người Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tăng lên nhanh chóng nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức cao. Năm 2005, 70% GDP của Trung Quốc là trong khu vực tư nhân. Khu vực kinh tế quốc doanh chịu sự chi phối của khoảng 200 doanh nghiệp quốc doanh lớn, phần nhiều ở trong các ngành dịch vụ tiện ích (điện, nước, điện thoại...), công nghiệp nặng, và nguồn năng lượng.[2]

Kể từ năm 1978 chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã cải cách nền kinh tế từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung theo mô hình Liên Xô sang một nền kinh tế theo định hướng thị trường trong khi vẫn duy trì thể chế chính trị do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Chế độ này được gọi bằng tên "Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc Trung Quốc", là một loại kinh tế hỗn hợp. Các cải cách quyết liệt từ những năm 1978 đã giúp hàng triệu người thoát nghèo, đưa tỷ lệ nghèo từ 53% dân số năm 1981 xuống còn 8% vào năm 2001.[3] Để đạt được mục tiêu này, chính quyền đã chuyển đổi từ chế độ hợp tác xã sang chế độ khoán đến từng hộ gia đình trong lĩnh vực nông nghiệp, tăng quyền tự chủ của các quan chức địa phương và các thủ trưởng nhà máy, cho phép sự phát triển đa dạng của doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực dịch vụcông nghiệp nhẹ và mở cửa nền kinh tế để tăng ngoại hốiđầu tư nước ngoài. Chính phủ đã tập trung vào việc gia tăng thu nhập, sức tiêu thụ và đã áp dụng nhiều hệ thống quản lý để giúp tăng năng suất. Chính phủ cũng đã tập trung vào ngoại thương như một đòn bẩy cho tăng trưởng kinh tế. Trong khi tính chính xác của các số liệu do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công bố vẫn là đề tài gây tranh cãi, các quan chức Trung Quốc tuyên bố thành tựu của chính sách cải tổ là GDP đã tăng 10 lần kể từ năm 1978. Nhiều nhà kinh tế quốc tế tin rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trên thực tế đã bị báo cáo giảm so với số liệu thực trong giai đoạn từ thập niên 1990 đến thập niên 2000, không phản ánh đủ sự đóng góp của các doanh nghiệp tư nhân vào sự tăng trưởng này. Tuy nhiên, cũng có nhiều chuyên gia cho rằng phương pháp thống kê tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc là lạc hậu và làm cho con số tốc độ tăng trưởng cao hơn thực tế.[4]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã theo đuổi một chiến lược phát triển công nghiệp nặng xã hội chủ nghĩa (hay chiến lược Cú hích Lớn theo cách gọi của kinh tế học). Ưu tiên công nghiệp hóa đồng thời triệt để tiết giảm tiêu dùng theo chính sách "thắt lưng buộc bụng" để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chính phủ đã giữ quyền kiểm soát một phần lớn nền kinh tế và chuyển các nguồn lực sang xây dựng các nhà máy. Nhiều ngành mới đã được tạo lập. Kinh tế tăng trưởng mạnh[cần dẫn nguồn]. Việc kiểm soát chặt ngân sách và cung tiền tệ đã làm giảm lạm phát cuối năm 1950.

Năm 1952, tổng sản lượng công nghiệp của Trung Quốc ước tính là 34.900 triệu Nhân dân tệ[5] theo tỷ giá hối đoái thực tế, nghĩa là bằng 3% tổng sản lượng công nghiệp thế giới lúc đó và gấp 1,5 lần của Nhật BảnẤn Độ theo giá trị tuyệt đối (không theo giá trị bình quân đầu người).

Tuy nhiên[cần dẫn nguồn], trong khoảng giữa thập niên 1950 (năm 1957), những chính sách đầy tham vọng của Mao Trạch Đông về Đại nhảy vọt nhằm tập trung hóa sản xuất tại các vùng nông thôn, sự chấm dứt viện trợ tái thiết và phát triển từ phía Liên Xô, sự thô sơ của hệ thống quản lý sản xuất, sự tàn phá của thiên tai đã khiến nền kinh tế lâm vào nguy ngập, nạn đói. Hậu quả là trên 20 -30 triệu người đã chết vì những nguyên nhân phi tự nhiên.[cần dẫn nguồn]

Trong thập niên tiếp theo, tăng trưởng kinh tế bắt đầu diễn ra mạnh mẽ theo những cải tổ từng bước từ phía chính quyền trung ương. GDP bình quân đầu người vào thời điểm đó[6] tăng trưởng từ tốc độ không đáng kể vào thập niên 1960 lên 70% vào thập niên 1970; Trung Quốc đã vượt qua Ấn Độ và đạt được tốc độ tăng trưởng đáng kể 63% vào thập niên 1980 và đạt đỉnh điểm với mức 175% vào thập niên 1990. Tuy nhiên, sự thịnh vượng của Trung Quốc vẫn tập trung vào các tỉnh duyên hải và các tỉnh phía Nam. Trong những năm gần đây, Chính phủ Trung Quốc đã có các nỗ lực trong việc mở rộng sự phát triển đến các tỉnh ở sâu trong nội địa và vùng Đông Bắc.

Vào thập niên 1980, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã cố gắng kết hợp các cải tổ kế hoạch hóa tập trung với định hướng thị trường để tăng năng suất, mức sống và chất lượng công nghệ mà không làm tăng lạm phát, thất nghiệp, và thâm hụt ngân sách. Chính phủ đã theo đuổi chính sách cải cách nông nghiệp, xóa bỏ chế độ công xã và áp dụng chế độ khoán đến hộ gia đình, cho người nông dân quyền quyết định lớn hơn trong nghề nông, đồng thời cũng khuyến khích các ngành phi nông nghiệp như các xí nghiệp hương trấn ở vùng nông thôn, tăng cường quyền tự chủ trong các doanh nghiệp quốc doanh, tăng tính cạnh tranh trên thị trường và tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc giữa các doanh nghiệp Trung Hoa đại lục với các doanh nghiệp thương mại nước ngoài. Trung Quốc cũng dựa nhiều hơn vào các nguồn tài chính nước ngoài và nhập khẩu.

Lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã phát biểu ngày 30 tháng 6 năm 1984:

Chủ nghĩa xã hội là gì? Chủ nghĩa Marx là gì? Trước đây chúng ta hoàn toàn không hiểu rõ. Chủ nghĩa Marx gắn liền tầm quan trọng tột cùng việc phát triển các lực lượng sản xuất. Chúng ta nói rằng chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu của Chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa cộng sản đến giai đoạn phát triển cao của nó thì nguyên tắc làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu sẽ được áp dụng. Điều này đòi hỏi phải có các lực lượng sản xuất phát triển và của cải vật chất dồi dào. Do đó, nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn Chủ nghĩa xã hội là phát triển các lực lượng sản xuất. Tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa được chứng tỏ, nếu phân tích cuối cùng cho thấy là các lực lượng này phát triển nhanh hơn và to lớn hơn so với chế độ tư bản chủ nghĩa. Khi các lực lượng sản xuất này phát triển, đời sống văn hóa và vật chất của nhân dân sẽ luôn luôn được cải thiện. Một trong bốn thiếu sót sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là chúng ta đã không chú ý đầy đủ tới việc phát triển các lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa xã hội có nghĩa là xóa bỏ nghèo khó. Sự bần cùng không phải là chủ nghĩa xã hội, càng không phải là chủ nghĩa cộng sản.[7]

Trong thập niên 1980, các cải cách này đã giúp cho sản lượng nông nghiệp và công nghiệp hàng năm đạt tốc độ tăng trưởng lên tới 10% hay hơn. Thu nhập thực tế bình quân đầu người ở nông thôn đã tăng gấp đôi. Ngành công nghiệp đã đạt được thành tựu lớn đặc biệt ở các khu vực duyên hải gần Hồng Kông và khu vực đối diện với eo biển Đài Loan, những nơi mà vốn đầu tư nước ngoài đã giúp thúc đẩy sản lượng của cả hàng hóa nội địa và hàng xuất khẩu. Trung Quốc đã trở thành một nước tự túc được về ngũ cốc; các ngành công nghiệp ở nông thôn đã chiếm 23% sản lượng nông nghiệp, giúp thu hút lực lượng lao động ở vùng quê. Lượng hàng tiêu dùng và công nghiệp nhẹ đã tăng lên. Các cuộc cải cách đã được bắt đầu trong các hệ thống tài chính công, tài chính, ngân hàng, định giálao động.

Về mặt trái của nền kinh tế thị trường mang màu sắc Trung Quốc, sự lãnh đạo theo chế độ hỗn hợp đã khiến nền kinh tế phải hứng chịu những kết quả tồi tệ nhất do các hạn chế của mô hình xã hội chủ nghĩa (sự quan liêu, mệt mỏi, tha hóa chính trị, không tôn trọng quyền sở hữu tư nhân)[cần dẫn nguồn] và các mặt trái của chủ nghĩa tư bản (thu nhập bất thường, phân hóa giàu nghèo, lạm phát tăng cao)[cần dẫn nguồn] gây ra. Do đó[cần dẫn nguồn], Bắc Kinh đã quay về đường lối cũ, tái thắt chặt kiểm soát của Trung ương trong những khoảng thời gian nhất định. Cuối năm 1988, để đối phó một làn sóng lạm phát do các cải tổ về giá gia tăng gây ra, chính quyền đã áp dụng một chương trình khắc khổ.

Kinh tế Trung Quốc đã lấy lại được động lực vào đầu thập niên 1990. Chuyến thăm đầu năm Mới của Đặng Tiểu Bình đến miền Nam Trung Quốc năm 1992 đã mang lại cho các cải cách kinh tế một động lực mới. Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 14 diễn ra vào cuối năm đó đã ủng hộ các biện pháp thúc đẩy đổi mới của chính sách cải cách thị trường, nêu lên nhiệm vụ trọng tâm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thập niên 1990 là tạo ra một nền "kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa". Việc duy trì tính liên tục của chế độ chính trị cũ nhưng lại cải cách táo bạo hơn về chế độ kinh tế đã được Đại hội lần thứ 14 công bố là đặc điểm của kế hoạch 10 năm trong thập niên 1990.

Xu hướng GDP từ năm 1952 đến năm 2005 của Trung Quốc.

Trong năm 1993, sản lượng của cải vật chất tăng nhanh và giá cả leo thang, đầu tư bên ngoài ngân sách Nhà nước tăng vọt cùng với sự mở mang kinh tế đã được kích thích từ việc thành lập các đặc khu kinh tế, chúng cũng tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế do có dòng chảy lớn của vốn đầu tư nước ngoài vào các đặc khu kinh tế này. Bắc Kinh đã phê chuẩn thêm những cải tổ dài hạn với mục tiêu để cho các thể chế định hướng thị trường có nhiều vai trò hơn đối với nền kinh tế và mục tiêu tăng cường kiểm soát hệ thống tài chính; các doanh nghiệp quốc doanh sẽ tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong nhiều ngành then chốt, theo một mô hình được gọi là một nền "kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa". Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã thu hồi các khoản vay đầu cơ, tăng lãi suất và đánh giá lại các dự án đầu tư. Tốc độ tăng trưởng nhờ đó đã được làm dịu lại và tỷ lệ lạm phát giảm từ hơn 17% năm 1995 xuống còn 8% đầu năm 1996. Cuối thập niên 1990, nền kinh tế Trung Quốc đã chịu ảnh hưởng một phần của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á, với tốc độ tăng trưởng chính thức 7,8% trong năm 1998, và 7,1% trong năm 1999. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc lại tăng tốc một lần nữa trong đầu thế kỷ mới, đạt mức 9,1% năm 2003, 9,5% năm 2004 và 9,8% năm 2005.[8]

Tháng 12 năm 2005, Tổng cục Thống kê Trung Quốc[9] đã hiệu chỉnh tăng GDP danh nghĩa năm 2004 thêm 16,8% hay 2.336,3 tỷ Nhân dân tệ (tương đương 281,9 tỷ USD), khiến cho Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 6 thế giới (vượt qua Ý với GDP khoảng 2.000 tỷ USD). Đầu năm 2006, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã chính thức công bố Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới, tính theo dollar Mỹ, vượt qua PhápVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Đầu năm 2007, Trung Quốc đứng thứ 2 thế giới về GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) với tổng giá trị GDP tính theo PPP là 10.000 tỷ USD. Mặc dù cách tính theo PPP như thế cần phải rất thận trọng vì chỉ gần đúng, đặc biệt là đối với một nước lớn như Trung Quốc, sức mua có một sự khác biệt rất lớn giữa các thành phố vùng duyên hải như Thượng Hải và các thành phố miền tây như Tứ Xuyên; và cách tính theo PPP này không đúng đối với các mặt hàng nhập khẩu và các mua sắm ở nước ngoài.

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sản xuất lúa mỳ từ 1961-2004. Số liệu từ FAO, năm 2005. Trục Y: sản lượng tính theo tấn.

Các sản phẩm nông nghiệp chính: lúa, lúa mỳ, khoai tây, lúa miến, lạc, chè, , lúa mạch, bông vải, hạt dầu, thịt lợn, .

Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản lượng nông sản. Chỉ khoảng một nửa lực lượng lao động của Trung Quốc làm việc trong ngành nông nghiệp, dù cho chỉ có 15,4% diện tích đất đai có thể canh tác được.

Trung Quốc có hơn 300 triệu nông dân, chiếm một phần hai lực lượng lao động. Phần lớn trong số họ canh tác trên những mảnh đất nhỏ bé nếu so với những nông trại Mỹ. Trên thực tế, tất cả đất canh tác đều được sử dụng để trồng cây lương thực, và Trung Quốc nằm trong nhóm các quốc gia sản xuất hàng đầu về lúa gạo, khoai tây, lúa miến, kê, lạc và thịt lợn. Các sản phẩm phi thực phẩm khác có: bông vải, các loại sợi khác, hạt có dầu đã giúp Trung Quốc có được một tỷ lệ nhỏ trong doanh thu ngoại thương. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu như rau, quả, cá, tôm cua, ngũ cốc và các sản phẩm từ ngũ cốc, các sản phẩm thịt được xuất khẩu sang Hồng Kông. Sản lượng thu hoạch cao nhờ canh tác tập trung, nhưng Trung Quốc hy vọng tăng sản lượng nông nghiệp hơn nữa thông qua các giống cây trồng được cải thiện, phân bón và công nghệ.

Theo Chương trình Lương thực Thế giới của Liên Hiệp Quốc, trong năm 2003, dân số Trung Quốc đã chiếm 20% dân số thế giới nhưng Trung Quốc chỉ có 7% đất canh tác được của toàn thế giới.[10]

Thịt lợn là một phần quan trọng của nền kinh tế Trung Quốc với mức tiêu thụ bình quân đầu người là 90 gam mỗi người trên ngày. Giá thức ăn cho gia súc và gia cầm tăng trên phạm vi toàn cầu do ảnh hưởng của nhu cầu dùng ngô để sản xuất êtanol gia tăng đã làm tăng giá thịt lợn ở Trung Quốc năm 2007. Chi phí sản xuất tăng cộng với lượng cầu thịt lợn tăng do việc tăng lương đã đẩy giá thịt lợn càng lên cao hơn. Nhà nước đối phó bằng cách trợ cấp giá thịt lợn cung cấp cho sinh viên và những người nghèo ở đô thị và kêu gọi gia tăng sản lượng thịt lợn. Biện pháp tung dự trữ thịt lợn chiến lược của quốc gia đã được xem xét.[11]

Nông thôn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1978, Trung Quốc phát động phong trào hiện đại hoá nông thôn, bãi bỏ chính sách tập thể hoá. Người nông dân được phát ruộng, phát đất để trồng trọt, được đem nông phẩm ra chợ bán tự do. Ngay từ năm 1980, đời sống của người nông dân có những bước biến chuyển. Nhưng đến khoảng năm 1990 thì sự quan tâm của chính quyền tập trung vào sự phát triển của các đô thị, của các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu, và quá trình toàn cầu hoá.[12]

Sau một thời gian ngắn ngủi, làm ăn bắt đầu khấm khá trở lại vào những năm 80, tình hình nông thôn lại một lần nữa xuống cấp: thuế má ngày càng nhiều, chi phí sản xuất tăng, học phí cho con cái tăng, các dịch vụ y tế thiếu thốn, môi trường bị ô nhiễm, nạn thất nghiệp tràn lan. Hố sâu giữa đô thị và nông thôn ngày càng lớn.[12]

Mặc dù Trung Quốc đã áp dụng chế độ hộ khẩu chặt chẽ, số lao động thừa ở nông thôn buộc phải dồn ra thành thì làm dân công. Dân công là những người làm công nhật, không có hợp đồng, không có bảo hiểm xã hội. Họ bị cấm không được phép làm một số nghề, tại Bắc Kinh danh sách các nghề dân công bị cấm năm 1996 là 15 nghề, đến năm 2000 họ bị cấm làm hơn 100 nghề. Dân công là những người bị đánh thuế nhiều nhất và cũng là những người bị khinh rẻ nhất ở các đô thị. Với mức thu nhập thấp họ lại còn phải đóng góp cao hơn dân thành thị để con cái được đi học. Dân công nữ bị phân biệt đối xử và chịu nhiều thiệt thòi hơn nam dân công và một số trong họ đã phải làm gái điếm sau một thời gian lên thành phố[12].

Năm 2004, số liệu thống kê cho biết rằng số dân nghèo đến mức tối đa (tính theo tiêu chuẩn dưới 75USD/người/năm) ở Trung Quốc, lần đầu tiên đã tăng lên sau 25 năm, và đa số những người này là nông dân. Vào mùa xuân năm 2005, đã nổ ra những vụ tranh giành đất đai giữa nông dân và các quan chức địa phương, cũng như đã có những cuộc biểu tình của nông dân chống việc các nhà hữu trách đã để cho các chất thải công nghiệp làm ô nhiễm môi trường của mình. Không những nông thôn thiếu đất trồng trọt, mà diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp vì phải dành đất cho công nghiệp hóa. Trung Quốc trở thành một trong những quốc gia ô nhiễm nhất thế giới. Hơn 190 triệu nông dân sống trong một môi trường không lành mạnh, nước sông, nước hồ phần lớn đều bị ô nhiễm.[12]

Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với nông thôn, cộng với các hủ tục còn tồn tại ở nông thôn đối với người phụ nữ, khiến cho họ lâm vào một hoàn cảnh tuyệt vọng. Hiện nay, tỷ lệ tự tử của phụ nữ Trung Hoa thuộc vào hàng cao nhất thế giới.[12]

Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc xếp thứ 3 thế giới về sản lượng công nghiệp.

Các ngành chính: sắt thép, than đá, máy móc, vũ khí, may mặc, dầu mỏ, xi măng, hóa chất, giày dép, đồ chơi, chế biến thực phẩm, ô tô, điện tử tiêu dùng, viễn thông, công nghệ thông tin.

Tốc độ tăng trưởng sản xuất: 12,6% (ước tính năm 2002)

Các ngành công nghiệp quốc doanh lớn có thể kể đến: sắt, thép, chế tạo máy, các sản phẩm công nghiệp nhẹ, vũ khí và hàng dệt may. Các ngành này đã trải qua một thập kỷ cải cách (1979-1989) song không có thay đổi phương thức quản lý nào đáng kể. Điều tra công nghiệp năm 1999 đã cho thấy có 7.930.000 xí nghiệp công nghiệp vào cuối năm 1999; tổng số lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh khoảng 24 triệu người. Ngành ô tô được dự tính tăng nhanh chóng trong thập kỷ tới, và ngành hóa dầu cũng thế. Các sản phẩm máy móc và điện tử đã trở thành các mặt hàng xuất khẩu chính của Trung Quốc.

Lao động[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những đặc điểm của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Trung Quốc trước đây là sự hứa hẹn[cần dẫn nguồn] mang lại công ăn việc làm cho tất cả những ai có khả năng và có nguyện vọng làm việc, và sự đảm bảo việc làm là trọn đời. Các nhà cải cách cho rằng thị trường không có năng suất cao vì các ngành thường có số lượng nhân công cao hơn cần thiết để thực hiện các mục tiêu xã hội chủ nghĩa và sự đảm bảo việc làm đã làm giảm động lực làm việc của công nhân. Chính sách xã hội chủ nghĩa này đã được gọi theo nghĩa xấu là bát cơm sắt.

Trong giai đoạn 1979-1980, Nhà nước đã cải cách các nhà máy bằng cách tăng lương cho công nhân nhưng biện pháp này đã ngay lập tức bị mất tác dụng bởi lạm phát liên tục ở mức 6-7%. Nói cách khác, dù họ được trả nhiều tiền lương hơn, giá trị thực của đồng tiền họ nhận được vẫn có giá trị thấp và họ mua được ít hơn, đồng nghĩa với việc những công nhân nhà máy bị nghèo đi. Nhà nước đã khắc phục vấn đề này từng phần bằng cách bao cấp lương.

Các cải cách cũng hủy bỏ bát cơm sắt, dẫn đến nạn thất nghiệp gia tăng. Năm 1979, ngay sau khi bát cơm sắt bị xóa bỏ, đã có 20 triệu người bị thất nghiệp.[13] Mặc dù điều này một phần là do sự gia tăng dân số, nhưng nó đã bị làm trầm trọng đáng kể bởi số người phụ thuộc mà các chính sách xã hội chủ nghĩa trước đó tạo ra.

Trung Quốc có các quy định pháp lý về lao động mà nếu nghiêm chỉnh chấp hành sẽ làm nhẹ đi các lạm dụng phổ biến như không trả lương cho công nhân. Năm 2006, một bộ luật lao động mới đã được soạn thảo và đưa ra cho công chúng góp ý. Luật mới này, theo như bản dự thảo mới nhất, sẽ cho phép thỏa ước lao động tập thể theo hình thức tương tự như các tiêu chuẩn trong các nền kinh tế phương Tây, dù vẫn chỉ có các tổ chức công đoàn hợp pháp tiếp tục là thành viên của Tổng liên đoàn Lao động Trung Quốc, tổ chức công đoàn chính thức của Đảng Cộng sản. Luật mới nhận được sự ủng hộ của các nhà hoạt động lao động, nhưng bị các công ty nước ngoài phản đối, trong đó có Phòng Thương mại Mỹ và Phòng Thương mại châu Âu. Nhiều người mong rằng luật này sẽ được nghiêm chỉnh chấp hành nếu được thông qua.[14] Cố gắng đang diễn ra trong việc tổ chức hoạt động của người Trung Quốc trong các công ty nước ngoài đã thành công tại Wal-Mart năm 2006. Chiến dịch này dự kiến sẽ có thêm các công ty khác như Eastman Kodak, Dell...[15]

Do luôn có số lượng thất nghiệp cao ở thành thị, năm 2004 là 14 triệu người, cộng với số người không có việc làm ở nông thôn đổ ra thành thị làm "dân công"(mingong) ngày càng tăng, lên đến 13 triệu năm 2005, nên giá tiền công lao động ở Trung Quốc rất rẻ. Tiền công lao động của một người thợ máy Trung Quốc (0,6U SD/giờ) rẻ gấp 23 lần tiền công của một người thợ máy Pháp (17USD), và gấp 40 lần một người thợ Đức (24USD). Nhân công rẻ là một yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc tạo ra những sản phẩm mới, rẻ, dễ cạnh tranh, dễ kiếm lời trên thị trường toàn cầu hoá và chính điều này đã thu hút các nhà đầu tư nước ngoài[12]

Thương mại và dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Thương mại toàn cầu của Trung Quốc đạt tổng kim ngạch 1.758 tỷ USD cuối năm 2006.[16] Tổng kim ngạch đã vượt qua mốc 1.000 tỷ USD năm 2004 (1.150 tỷ USD, hơn gấp đôi kim ngạch năm 2001). Cuối năm 2004, Trung Quốc đã trở thành quốc gia thương mại lớn thứ 3 thế giới sau Mỹ và Đức.[17] Tuy nhiên thặng dư thương mại vẫn ổn định ở mức 30 tỷ USD. (trên 40 tỷ USD năm 1998, dưới 30 tỷ USD năm 2003). Các đối tác thương mại hàng đầu của Trung Quốc bao gồm Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Đức, Singapore, Malaysia, NgaHà Lan. Theo số liệu thống kê của Hoa Kỳ, thặng dư thương mại của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ năm 2004 là 170 tỷ USD, hơn gấp đôi so với mức năm 1999. Chỉ tính riêng Wal-Mart, nhà bán lẻ hàng đầu Hoa Kỳ, đã là đối tác xuất khẩu lớn thứ 7 của Trung Quốc và xếp trên Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland về nhập khẩu hàng Trung Quốc. Trong 5 cảng bận rộn nhất thế giới, có 3 cảng ở Trung Quốc.

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã thử giảm bớt độc quyền ngoại thương và nỗ lực hội nhập với hệ thống ngoại thương thế giới. Tháng 11 năm 1991, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã gia nhập hệ thống thương mại toàn cầu. Tháng 11 năm 1991, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã gia nhập APEC, sự gia nhập làm tăng cường tự do thương mại và hợp tác trong các vấn đề kinh tế, thương mại, đầu tư và công nghệ. Năm 2001, Trung Quốc đã giữ chức chủ tịch APEC và Thượng Hải đã đăng cai hội nghị các lãnh đạo APEC thường niên.

Trong chuyến thăm Hoa Kỳ năm 1999, Thủ tướng Chu Dung Cơ đã ký một Hiệp định Hợp tác Nông nghiệp song phương, quy định tháo dỡ lệnh cấm nhập khẩu cam quýt, thịt bògia cầm lâu năm của Trung Quốc. Tháng 11 năm 1999, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã đạt được một thỏa thuận song phương lịch sử về quyền tiếp cận thị trường, dọn đường cho Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Là một phần của hiệp định tự do hóa thương mại có ảnh hưởng sâu rộng, Trung Quốc đã đồng ý giảm thuế quan và xóa bỏ các trở ngại thị trường sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới này. Ví dụ như những nhà kinh doanh Trung Quốc và nước ngoài sẽ được quyền tự mình xuất nhập khẩu và bán sản phẩm của mình mà không thông qua một bên trung gian của chính phủ. Tỷ lệ thuế quan trung bình đối với các mặt hàng nông sản xuất khẩu chính yếu của Hoa Kỳ đã giảm từ 31% xuống 14% năm 2004 và đối với sản phẩm công nghiệp là từ 25% xuống còn 9% trong năm 2005. Thỏa thuận cũng mở ra các cơ hội cho các nhà cung cấp dịch vụ Mỹ trong các lĩnh vực như ngân hàng, bảo hiểm và viễn thông. Sau khi đạt được thỏa thuận song phương với WTO, với EU và các đối tác thương mại khác, trong mùa hè năm 2000, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã tiếp tục xúc tiến một thoả thuận gia nhập WTO trọn gói. Để tăng xuất khẩu, Trung Quốc đã theo đuổi chính sách như cổ vũ sự phát triển nhanh chóng của các nhà máy đầu tư nước ngoài lắp ráp các linh kiện nhập khẩu thành hàng xuất khẩu. Trung Quốc đã gia nhập WTO ngày 11 tháng 12 năm 2001, sau 15 năm đàm phán, kéo dài nhất trong lịch sử của GATT.

Tuy Mỹ là một trong những nhà cung cấp hàng đầu ở Trung Quốc về thiết bị phát điện, máy bay và phụ tùng, máy tính và máy công nghiệp, nguyên liệu thô, hóa chất và sản phẩm nông nghiệp nhưng các nhà xuất khẩu Mỹ vẫn tiếp tục quan ngại về quyền tiếp cận thị trường công bằng do các chính sách thương mại hạn chế hàng xuất khẩu Mỹ của Trung Quốc. Sự vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt trong lĩnh vực phần mềm và nạn hàng giả, hàng nhái, khiến nhiều công ty phương Tây vẫn nản lòng khi làm ăn ở Trung Hoa đại lục. Một số nhà chính trị và nhà sản xuất phương Tây cũng cho rằng giá trị của đồng Nhân dân tệ đang thấp giả tạo và tạo cho hàng xuất khẩu từ Trung Quốc một lợi thế không công bằng. Những vấn đề này và các vấn đề khác nữa là những nguyên nhân đằng sau các cuộc thúc đẩy chính sách bảo hộ mậu dịch lớn hơn của một số nghị sỹ trong Quốc hội Hoa Kỳ, bao gồm một mức thuế tiêu dùng 27,5% đánh vào hàng nhập khẩu của Trung Quốc.

Kim ngạch mậu dịch giữa Trung Quốc và Nga đạt 29,1 tỷ USD năm 2005, tăng 37,1% so với năm 2004.

Các mặt hàng xuất khẩu máy móc và hàng điện tử của Trung Quốc đến Nga tăng 70%, chiếm 24% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc đến Nga trong 11 tháng đầu năm 2005. Trong cùng thời gian đó, các sản phẩm công nghệ cao xuất khẩu của Trung Quốc đến Nga tăng 58%, chiếm 7% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Nga. Cũng trong thời gian này biên mậu giữa hai quốc gia đạt 5,13 tỷ USD, tăng 35% và chiếm gần 20% tổng kim ngạch thương mại. Phần lớn hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang Nga là hàng may mặc và giày dép.

Nga là đối tác thương mại lớn thứ 8 của Trung Quốc và Trung Quốc là đối tác thương mại lớn thứ tư của Nga và Trung Quốc hiện có 750 dự án đầu tư ở Nga với số vốn 1,05 tỷ. Các dự án đầu tư đã ký của Trung Quốc ở Nga đạt mức 369 triệu USD trong thời kỳ tháng 1 - tháng 9 năm 2005, gấp đôi mức năm 2004.

Các mặt hàng Trung Quốc nhập từ Nga chủ yếu là nguồn năng lượng như dầu thô, phần lớn được chuyên chở bằng tàu lửa và điện năng xuất khẩu từ vùng SiberiViễn Đông láng giềng của Nga. Trong tương lai gần, kim ngạch xuất khẩu hai mặt hàng này dự kiến sẽ tăng do Nga đang xây dựng đường ống dẫn dầu Thái Bình Dương – Đông Siberi với một nhánh đến biên giới Trung Quốc và Công ty độc quyền lưới phân phối điện của Nga UES đang xây một số nhà máy thủy điện với mục tiêu xuất khẩu sang Trung Quốc trong tương lai.

Quan hệ kinh tế thương mại với Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, nổi bật lên là xu thế thặng dư thương mại với Việt Nam đang tiếp tục tăng lên từ năm 2001 cho đến nay. Xuất khẩu của Trung Quốc tăng vọt và thặng dư thương mại với Việt Nam đã gia tăng rất nhanh chóng, xuất siêu vượt 200% so với nhập khẩu từ Việt Nam vào năm 2006,[18] nếu kể lượng dịch vụ bao gồm ngân hàng, du lịch, viễn thông, bán điện thì thặng dư thương mại còn cao hơn nữa. Dự báo luồng hàng xuất khẩu của Trung Quốc còn tăng lên mạnh mẽ hơn nữa trong năm 2007 và những năm tiếp theo nếu như Việt Nam không có đối sách hợp lý, tạo ra nhiều thách thức và rủi ro cho nền kinh tế Việt Nam như thách thức cạnh tranh, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường. Nguyên nhân là do cơ cấu của hai nền kinh tế tương tự như nhau nhưng Trung Quốc đã tiến xa hơn trong quá trình công nghiệp hoá và năng lực cạnh tranh của Trung Quốc cao hơn Việt Nam (năm 2005, Trung Quốc xếp thứ 49, Việt Nam xếp thứ 81 trên 117 nền kinh tế, theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới)[19]

Một điểm cực kỳ đặc biệt trong buôn bán với Việt Nam là Trung Quốc đã nhắc nhở Việt Nam trong việc chỉ đạo báo chí Việt Nam. Khi báo chí và truyền thông Việt Nam vốn do Đảng lãnh đạo lại cứ đưa tin hàng hóa Trung Quốc bị toàn thế giới tẩy chay do chất lượng kém, chứa nhiều độc chất. Việc này của Trung Quốc nhằm ngăn cản thông tin của người tiêu dùng Việt Nam về chất lượng hàng Trung Quốc.[20]

Trung Quốc xếp thứ 9 thế giới về giá trị sản lượng dịch vụ. Tỷ trọng điện năng và viễn thông cao đảm bảo xu thế tăng trưởng nhanh dài hạn trong lĩnh vực dịch vụ.

Đến ngày 31 tháng 12 năm 2005, có khoảng 37.504.000 tuyến băng thông rộng ở Trung Quốc,[21] hiện nay chiếm gần 18% thị phần thế giới. Hơn 70% tuyến băng thông rộng thông qua DSL và phần còn lại qua modem cáp.

Ngân hàng Thế giới ước tính rằng phải mất 18 ngày để được đấu nối một điện thoại ở Trung Quốc (86 ngày ở Ấn Độ).[22]

Với hai sở giao dịch chứng khoán (là Thượng HảiThâm Quyến), thị trường chứng khoán Trung Hoa đại lục có một giá trị thị trường 1.000 tỷ USD tính đến tháng 1 năm 2007, trở thành thị trường chứng khoán lớn thứ 3 châu Á, chỉ sau Nhật Bản và Hồng Kông.[23] Người ta ước tính thị trường này sẽ lớn thứ ba thế giới vào năm 2016.[24]

Xem thêm: Quan hệ kinh tế, mậu dịch khăng khít với Hồng Kông và Ma Cao.

Đầu tư nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1989, chính quyền đã ban hành các đạo luật và nghị định về khuyến khích nước ngoài đầu tư vào các vùng và các lĩnh vực ưu tiên cao. Một ví dụ điển hình của chính sách này là Danh mục ngành khuyến khích, quy định mức độ nước ngoài có thể được phép tham gia trong nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau.

Năm 1990, chính quyền đã xóa bỏ hạn chế thời gian thiết lập liên doanh, đảm bảo không quốc hữu hóa và cho phép các đối tác nước ngoài trở thành chủ tịch hội đồng quản trị. Năm 1991, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã ban hành quy định đối xử thuế ưu đãi hơn cho các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và các dự án theo hợp đồng, và các công ty nước ngoài đầu tư vào các khu kinh tế chọn lọc hay trong các dự án Nhà nước khuyến khích như năng lượng, giao thông và vận tải. Chính quyền cũng cho phép một số ngân hàng nước ngoài mở chi nhánh ở Thượng Hải và cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu đặc biệt "B" trong các công ty chọn lọc niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thẩm Quyến. Các cổ phiếu "B" được bán cho người nước ngoài nhưng những người này không được hưởng các quyền liên quan do sở hữu cổ phiếu mang lại. Năm 2006, Trung Hoa đại lục thu hút được 69,47 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài.[25]

Mở cửa cho bên ngoài vẫn là trọng tâm của quá trình phát triển của Trung Quốc. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất khoảng 45% hàng xuất khẩu Trung Quốc (dù đa số đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc đến từ Hồng Kông, Đài LoanMa Cao, hai trong số này thuộc quyền quản lý của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), và Trung Hoa Đại lục tiếp tục thu hút dòng đầu tư to lớn. Năm 2005, dự trữ ngoại tệ vượt mức 800 tỷ USD, hơn gấp đôi mức năm 2003 và trong tháng 11 năm 2006, Trung Hoa đại lục trở thành nước có dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới, vượt mức 1.000 tỷ USD.

Tuy nhiên vẫn có một số công ty rút khỏi thị trường Trung Hoa đại lục, ví dụ như Warner Bros. đã từ bỏ ngành điện ảnh ở đại lục do một quy định hạn chế cấm các nhà đầu tư nước ngoài kiểm soát các liên doanh ở Trung Hoa đại lục. Quy định này đòi hỏi rằng các nhà đầu tư Trung Hoa đại lục phải giữ ít nhất 51% cổ phần hay có vai trò lãnh đạo trong các liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài.[26]

Năng lượng và tài nguyên khoáng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thập kỷ qua, Trung Quốc đã có thể giữ tốc độ tăng năng lượng ở mức chỉ một nửa so với tốc độ tăng GDP và đây được coi là một thành tựu đáng kể[cần dẫn nguồn]. Dù mức tiêu thụ năng lượng hạ nhanh bất thình lình về trị số tuyệt đối và tăng trưởng kinh tế giảm xuống trong năm 1998, tổng mức tiêu thụ năng lượng của Trung Hoa đại lục có thể gấp đôi vào năm 2020 theo một số dự đoán. Trung Quốc ước tính sẽ bổ sung khoảng 15.000 megawatt công suất điện phát ra mỗi năm, với 20% số đó đến từ các nhà cung cấp nước ngoài. Phần lớn do các quan ngại về môi trường, Bắc Kinh sẽ chuyển từ sự phụ thuộc vào hỗn hợp năng lượng phụ thuộc nặng vào than đá, hiện chiếm 75% năng lượng Trung Quốc, sang năng lượng dựa trên dầu mỏ, khí thiên nhiên, năng lượng tái sinh, và điện nguyên tử.

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đóng cửa khoảng 30.000 mỏ than trong 5 năm qua để giảm sản xuất quá tải. Điều này đã khiến cho sản lượng than đá giảm 25%. Kể từ năm 2003, Trung Quốc đã là một quốc gia nhập khẩu thuần dầu mỏ; ngày nay dầu mỏ nhập khẩu chiếm 20% sản lượng dầu thô chế biến ở Trung Quốc. Sản lượng nhập khẩu thuần được ước tính sẽ tăng lên mức 3,5 triệu thùng (560.000 m³) mỗi ngày vào năm 2010. Trung Quốc quan tâm đến việc phát triển lượng dầu nhập từ Trung Á và đã đầu tư vào các mỏ dầuKazakhstan. Bắc Kinh đặc biệt quan tâm đến việc gia tăng sản lượng khí thiên nhiên - hiện chỉ 10% sản lượng dầu - và đang thiết lập một chiến lược khí thiên nhiên trong kế hoạch 5 năm lần thứ 10 (2001-2005), với mục tiêu mở rộng việc sử dụng khí từ mức 2% trong sản lượng năng lượng của Trung Quốc lên 4% đến năm 2005 (khí chiếm 25% sản xuất năng lượng ở Mỹ).

Bắc Kinh cũng có ý định tiếp tục cải thiện tính hiệu quả về năng lượng và tăng cường sử dụng công nghệ than đá sạch. Chỉ 1/5 công suất nhà máy điện được lắp đặt từ 1995-2000 có thiết bị khử lưu huỳnh. Trung Quốc ngày càng quan tâm hơn đến các nguồn năng lượng tái sinh, nhưng ngoại trừ thủy điện, đóng góp của các nguồn năng lượng này vào hỗn hợp năng lượng không có khả năng tăng quá 1-2% trong tương lai gần. Lĩnh vực năng lượng của Trung Quốc tiếp tục bị cản trở bởi các khó khăn trong việc nhận được nguồn tài chính, bao gồm các khoản tài chính dài hạn, và sự phân mảnh thị trường do chính sách bảo hộ ở địa phương ngăn cản các nhà máy lớn có hiệu quả hơn đạt được tính kinh tế nhờ quy mô.

Môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Tác dụng phụ tiêu cực của quá trình phát triển công nghiệp nhanh của Trung Quốc là sự gia tăng tình trạng ô nhiễm. Một báo cáo năm 1998 của Tổ chức Y tế Thế giới về chất lượng không khí ở 272 thành phố trên thế giới đã kết luận rằng 7/10 thành phố ô nhiễm nhất nằm ở Trung Quốc. Theo đánh giá riêng của Trung Quốc, 2/3 trong số 338 thành phố có số liệu về chất lượng không khí được coi là bị ô nhiễm, 2/3 trong số đó ô nhiễm vừa phải hay nghiêm trọng. Các bệnh đường hô hấpbệnh tim liên quan đến ô nhiễm không khí là những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong ở Trung Quốc. Hầu như tất cả các dòng sông của quốc gia này đều bị ô nhiễm ở các mức độ khác nhau, và một nửa dân số thiếu nước sạch. 90% các vùng nước ở đô thị bị ô nhiễm nghiêm trọng. Khan hiếm nước cũng là một vấn đề; ví dụ sự khan hiếm nước gay gắt ở miền Bắc Trung Quốc đã buộc chính quyền lập một kế hoạch chuyển nước quy mô lớn lấy nước từ sông Dương Tử đến các thành phố phía Bắc, bao gồm Bắc Kinh và Thiên Tân. Mưa axít rơi trên 30% lãnh thổ Trung Quốc. Nhiều nghiên cứu ước tính ô nhiễm làm nền kinh tế Trung Quốc tốn khoảng 7% GDP mỗi năm.

Các nhà lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc đang ngày càng chú ý đến các vấn đề môi trường nghiêm trọng của quốc gia. Tháng 3 năm 1998, Cục Bảo vệ Môi Trường Nhà nước (SEPA) đã được chính thức nâng cấp thành một cơ quan ngang bộ, phản ánh tầm quan trọng gia tăng mà chính quyền Trung Quốc đặt ra cho công tác bảo vệ môi trường. Đầu năm 2007, SEPA đã thông báo có 82 dự án với tổng mức đầu tư hơn 112 tỷ Nhân dân tệ bị phát hiện vi phạm nghiêm trọng luật đánh giá tác động môi trường và các quy định về sự đồng bộ của các biện pháp an toàn và sức khỏe trong thiết kế dự án.[27]

Trong những năm gần đây, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã củng cố các quy định pháp luật về môi trường và đạt một số tiến bộ bước đầu trong việc ngăn chặn sự xuống cấp của môi trường. Năm 1999, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đầu tư hơn 1% GDP cho công tác bảo vệ môi trường, một tỷ lệ có khả năng tăng trong những năm tới. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 10, Trung Quốc dự kiến giảm mức xả chất thải 10%. Đặc biệt Bắc Kinh đã đầu tư nhiều cho công tác kiểm soát ô nhiễm như một phần của chiến dịch thành công để giành được quyền đăng cai Thế vận hội năm 2008.

Trung Quốc là một thành viên tham gia tích cực trong các hội thảo về thay đổi khí hậu và các cuộc thảo luận về môi trường khác. Đây là quốc gia đã ký vào Công ước Basel quy định việc vận chuyển và thải rác thải nguy hiểm và ký vào Nghị định thư Montreal về các chất gây thủng tầng Ôzôn cũng như Công ước về Buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã và các hiệp định môi trường lớn khác.

Chất vấn về các tác động môi trường liên quan đến dự án đập Tam Hiệp đã gây nên tranh cãi giữa các nhà môi trường trong và ngoài nước. Các phê phán cho rằng sự xói mòn và lắng bùn của sông Dương Tử đe dọa nhiều loài đang nguy cấp, còn các quan chức Trung Quốc cho rằng điện do nhà máy thủy điện này phát ra sẽ khiến cho khu vực giảm sự phụ thuộc vào than đá, do đó giảm ô nhiễm không khí.

Diễn đàn Mỹ-Trung về Môi trường và Phát triển, do Phó tổng thống Hoa KỳThủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đồng chủ tịch, là một phương tiện chính cho một chương trình hợp tác môi trường tích cực song phương kể từ khi bắt đầu vào năm 1997. Dù các thành tựu của diễn đàn được hai bên coi là khả quan, Trung Quốc luôn cho rằng chương trình của Mỹ là thiếu yếu tố viện trợ nước ngoài so với các chương trình của Nhật Bản và nhiều quốc gia Liên minh châu Âu có mức viện trợ hào phóng.

Các nội dung khác[sửa | sửa mã nguồn]

Xu hướng kinh tế vĩ mô[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng dưới đây cho thấy xu thế tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc theo giá thị trường do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ước tính. Đơn vị tính là triệu Nhân dân tệ.[28][29]

Năm Tổng sản phẩm quốc nội Tỷ giá hối đoái Yuan/Dollar Chỉ số lạm phát (2000=100)
1955 91.000
1960 145.700
1965 171.600
1970 225.300
1975 299.700
1980 460.906 1,49 25
1985 896.440 2,93 30
1990 1.854.790 4,78 49
1995 6.079.400 8,35 91
2000 9.921.500 8,27 100
2005 18.232.100 8,19 106

Nếu so sánh theo sức mua tương đương, áp dụng tỷ giá Yuan/Dollar bằng 2,05.

Tiền tệ[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng tiền: 1 nguyên (元) = 10 giác (角) = 100 phân (分) (xem thêm: Nhân dân tệ)

Tỷ giá hối đoái: Nhân dân tệ trên 1 USD - Từ ngày 21 tháng 7 năm 2005, Trung Quốc đã cho phép tỷ giá hối đoái giữa Nhân dân tệ và Dollar Mỹ dao động với biên độ 0,05%. Tỷ giá hối đoái Nhân dân tệ/USD đầu năm 2007 là 7,75, còn đầu năm 2006 là 8,07 và các năm như sau: 8,2793 (tháng giêng năm 2000), 8,2783 (1999), 8,2790 (1998), 8,2898 (1997), 8,3142 (1996), 8,3514 (1995)

ghi chú:
Bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 1994, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc thông báo tỷ giá trung điểm giữa Nhân dân tệ và USD dựa trên tỷ giá phổ biến của ngày hôm trước ở thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.

Hồng Kông và Ma Cao[sửa | sửa mã nguồn]

Theo chính sách Một quốc gia, Hai chế độ, nền kinh tế của các thuộc địa cũ châu Âu là Hồng KôngMa Cao độc lập với nền kinh tế đại lục. Cả Hồng Kông và Ma Cao đều được tự do đàm phán về kinh tế với nước ngoài cũng như là thành viên đầy đủ trong các tổ chức quốc tế như Tổ chức Hải quan Thế giới, Tổ chức Thương mại Thế giớiDiễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), với tên thường sử dụng lần lượt là "Hồng Kông, Trung Quốc" và "Ma Cao, Trung Quốc".

Các thách thức[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trước tờ 100 nguyên Nhân dân tệ.

Lạm phát đã giảm nhanh chóng trong giai đoạn 1995-1999 nhờ chính sách tiền tệ thắt chặt hơn của ngân hàng trung ương và các biện pháp kiểm soát giá thực phẩm chặt chẽ hơn. Đồng thời, chính phủ đã cố gắng: (a) thu các khoản thu nhập đến hạn từ các tỉnh, các doanh nghiệp và các cá nhân; (b) làm giảm tham nhũng và các tội phạm kinh tế khác; và (c) giảm hỗ trợ cho các doanh nghiệp quốc doanh lớn mà phần lớn trong số đó đã không tham dự vào việc mở mang mạnh mẽ nền kinh tế và nhiều doanh nghiệp trong số đó đã mất khả năng trả đầy đủ lương và lương hưu. Có từ 50 đến 100 triệu lao động dư thừa ở nông thôn phiêu bạt giữa các thành phố và các làng quê, nhiều người sống bằng các công việc bán thời gian với tiền công còm cõi. Sự chống đối của dân chúng, các thay đổi chính sách của Trung ương và sự đánh mất quyền của các cán bộ địa phương đã làm suy yếu chương trình kiểm soát dân số của Trung Quốc. Một sự đe dọa dài hạn khác đối với sự tăng trưởng kinh tế nhanh liên tục là sự xuống cấp của môi trường, đáng chú ý là ô nhiễm không khí, xói mòn đất, và suy giảm mực nước ngầm đặc biệt là ở phía Bắc. Trung Quốc tiếp tục mất đất canh tác do sự xói mòn và do tăng trưởng kinh tế.

Kinh tế quá nóng[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những rào cản đáng kể khác đối với kinh tế Trung Quốc là khả năng tăng trưởng kinh tế nhanh trong thập kỷ qua dẫn đến tình trạng kinh tế quá nóng và lạm phát, điều có thể khiến tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc có thể bị tác động tiêu cực trở lại. Các quan chức Trung Quốc phủ nhận rằng tổng thể nền kinh tế của mình là quá nóng, dù họ công nhận rằng một vài nơi nhất định đang nóng lên như ở những nơi có hạ tầng yếu kém khiến khó khăn hơn cho việc kiểm soát kinh tế. Sự tăng trưởng kinh tế gần đây là kết quả của các đầu tư quy mô lớn, mà thường kém hiệu quả hơn nhiều so với các quốc gia khác như Ấn Độ.

Thuế cũng tỏ ra là một vấn đề trong việc ổn định nền kinh tế Trung Quốc với chính sách cắt giảm thuế được hoạch định đối với một số ngành và lĩnh vực kinh tế nhất định. Một mục tiêu đầu tiên của việc cắt giảm thuế là trợ giúp việc giảm sự chênh lệch đầu tư giữa các vùng đô thị và nông thôn và khuyến khích các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.

Sự thiếu hụt lao động[sửa | sửa mã nguồn]

Đến năm 2005, xuất hiện các dấu hiệu cầu về lao động lớn hơn, với việc người lao động có thể chọn công việc được trả lương cao hơn và các điều kiện làm việc tốt hơn, giúp cho cho nhiều người lao động có thể từ bỏ cuộc sống cư xá tù túng và công việc nhà máy buồn tẻ là đặc trưng của các ngành xuất khẩu ở Quảng ĐôngPhúc Kiến. Lương tối thiểu bắt đầu tăng lên đến mức tương đương 100 dollar Mỹ một tháng khi nhiều công ty tranh giành lao động có thể trả 150 USD mỗi tháng. Việc thiếu hụt lao động một phần là do xu hướng của cơ cấu dân số khi tỷ lệ người dân ở tuổi lao động giảm xuống vì hậu quả của kế hoạch hóa gia đình nghiêm ngặt.

Trên báo New York Times số ra tháng 4 năm 2006 có bài viết cho rằng chi phí lao động đã tiếp tục tăng và một sự thiếu hụt lao động không có tay nghề cao đã bị bộc lộ với một triệu lao động hoặc hơn đang được tìm kiếm. Các đơn vị dựa vào nguồn lao động rẻ đang dự tính di dời hoạt động của mình vào những thành phố sâu trong nội địa hoặc đến các nước như Việt Nam hoặc Bangladesh. Nhiều người trẻ thích theo học ở các trường đại học và cao đẳng hơn là theo các ngành được trả lương tối thiểu. Sự chuyển biến cơ cấu dân số là hệ quả của chính sách một con đã tiếp tục giảm nguồn cung lao động những người vào độ tuổi lao động. Ngoài ra, những nỗ lực gần đây của chính quyền tăng cường sự phát triển kinh tế ở vùng sâu trong nội địa đang bắt đầu có hiệu quả trong việc tạo cơ hội ở đó.

Làn sóng tẩy chay hàng Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Do hàng hóa của Trung Quốc sản xuất chứa nhiều độc chất đã gây ra chết người hoặc nguy cơ gây ra ung thư mà trên thế giới từ Âu sang Á, từ Bắc Mỹ đến Nam Mỹ đều hoảng sợ và tẩy chay hàng hóa độc hại có nguồn gốc từ Trung Quốc.[30] Biện minh cho điều này, quan chức Trung Quốc cho rằng có bốn nguyên nhân: có thể từ nhà sản xuất của Trung Quốc, có thể từ sự khác nhau về các tiêu chuẩn an toàn giữa các nước, từ trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng của các nhà nhập khẩu hàng Trung Quốc của các nước sở tại khi chọn mua các loại hàng kém chất lượng của Trung Quốc và từ sự phóng đại nguy cơ của các phương tiện truyền thông nước ngoài về chất lượng hàng Trung Quốc.

Sau nhiều chương trình kiểm tra chất lượng hàng hóa do Nhà nước phát động sau khi có vụ bê bối sữa nhiễm bẩn Tam Lộc và làn sóng tẩy chay hàng Trung Quốc nhiều nơi trên thế giới, đến nay (2009) hàng hóa của Trung Quốc vẫn không an toàn cho người sử dụng. Nhà chức trách Trung Quốc điều tra và công bố gần phân nửa mặt hàng quần áo và 1/3 sản phẩm đồ dùng cho trẻ em sản xuất ở tỉnh Quảng Đông, một trong những trung tâm sản xuất hàng xuất khẩu hàng đầu của Trung Quốc, không bảo đảm an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng do có chứa nhiều hóa chất độc hại như fomanđêhít, chì, cadmicrom.[31]

Các loại hàng hóa đồ chơi, thực phẩm, dệt may giá rẻ, bắt mắt nhưng độc hại của Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam bằng cách vứt bỏ nhãn mác, hoặc khai gian dối xuất xứ của nước khác như Thái Lan, Singapore, Campuchia hoặc trộn lẫn với hàng Việt Nam để bán. Người tiêu dùng Việt Nam ngày càng lo ngại và đã bắt đầu có ý thức tìm hiểu về nguồn gốc hàng hóa nhập khẩu khi mua hàng. Để tự bảo vệ mình, họ đã để ý cả mã vạch, mã số 690, tức hàng xuất xứ từ Trung Quốc để tránh mua.[32]

Triển vọng kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Dù Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục, song tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người lẫn tốc độ tăng trưởng GDP tuyệt đối chưa phải là cao nhất thế giới.

Từ năm 1999 đến năm 2006, GDP bình quân đầu người danh nghĩa của Nga đã tăng từ 1.334 USD lên 6.879 USD (515%) trong khi Trung Quốc chỉ tăng từ 870 USD lên 2.000 USD (229%).[33] Một cảnh bứt phá ngoạn mục tương tự của các quốc gia vùng Trung Đông sản xuất dầu mỏ như Qatar, Bahrain, Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất, Kuwait, và Brunei. Kazakhstan, Turkmenistan, Azerbaijan, và Angola đã có thể vượt qua Trung Quốc nhờ việc khai thác và sản xuất điện từ nguồn dự trữ năng lượng to lớn của mình trong cùng một thời kỳ. Còn Guinea Xích Đạo, ngôi sao kinh tế châu Phi, đã đạt được tốc độ tăng GDP thực đến 79% trong năm 2004. Thậm chí một quốc gia ở châu Á còn tăng cao hơn Trung Quốc như Việt Nam, nước này đã tăng gấp 3 lần GDP bình quân đầu người danh nghĩa giữa năm 1999 và 2006 tính theo dollar Mỹ[cần dẫn nguồn]. Lý do giải thích điều này chủ yếu là do lực lượng lao động của Trung Quốc lớn, việc kiềm chế lạm phát và do Trung Quốc từ chối tăng giá trị đồng Nhân dân tệ của mình mà việc này nếu thực hiện thì sẽ dẫn đến một sự tăng trưởng kinh tế nhanh hơn về mặt thống kê nhưng có thể hy sinh một số nhân tố ổn định tăng trưởng.

Ngoài ra, giá trị gia tăng thu nhập bình quân đầu người hằng năm tính theo dollar Mỹ của phần lớn các nước phát triển đang tăng nhanh hơn của Trung Quốc. Tuy nhiên, những gì Trung Quốc đang hướng tới vẫn còn thể giúp Trung Quốc tiếp tục tốc độ tăng trưởng cao trong những thập niên tới và giá trị gia tăng thu nhập bình quân trên đầu người tuyệt đối tính theo dollar Mỹ về mặt thống kê sẽ tăng liên tục nếu nhịp độ tăng trưởng này tiếp tục được duy trì.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gần đây đã phê chuẩn dự thảo kế hoạch 5 năm lần thứ 11 cho giai đoạn 2006-2010. Kế hoạch này đặt ra mục tiêu khá thận trọng với việc GDP tăng 45% và độ căng thẳng năng lượng giảm 20% vào năm 2010.

Theo dự báo, cuối năm 2008, Trung Quốc sẽ vượt Đức để trở thành nền kinh tế có GDP lớn thứ 3 thế giới và vượt Nhật Bản vào năm 2020 (tính theo tỷ giá USD).[34] Trung Quốc được dự đoán sẽ vượt qua Mỹ năm 2040 để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới.[35]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://news.zing.vn/10-nen-kinh-te-lon-nhat-the-gioi-nam-2013-post326686.html
  2. ^ “"Trung Quốc là một nền kinh tế tư nhân"”. BussinessWeek. 22 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2007. 
  3. ^ Chống đói nghèo: Những phát hiện và bài học từ thành công của Trung Quốc (Ngân hàng Thế giới). Truy cập ngày 10-8-2006.
  4. ^ “"Đằng sau con số tăng trưởng của Trung Quốc"”. VnExpress. 8 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2009. 
  5. ^ “Đánh giá chính thức Sản lượng Công nghiệp theo giá cả hiện tại, Trung Quốc 1952-96”. 
  6. ^ “GDP: GDP theo đầu người, tính theo USD hiện nay, từ năm 1965 đến 2004”. 
  7. ^ Đặng Tiểu Bình bàn về xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc ngày 30 tháng 6 năm 1984
  8. ^ Các nhà phân tích bày tỏ lạc quan về cổ phiếu Trung Quốc (từ Xinhuanet.com, với nguồn từ Nhật báo Thượng Hải)
  9. ^ http://www.stats.gov.cn/english/"Tổng cục Thống kê Trung Quốc"
  10. ^ http://www.wfp.org/country_brief/indexcountry.asp
  11. ^ "Rise in China’s Pork Prices Signals End to Cheap Output", bài viết của Keith Bradsher trên New York Times, 8-6-2007
  12. ^ a ă â b c d Sự thật về mô hình phát triển của Trung Quốc dưới góc nhìn từ hai ký giả người Âu 02:35-03/02/2009
  13. ^ Phát biểu của phó thủ tướng Lý Tiên Niệm, đăng trên nhật báo Hồng Kông Minh báo ngày 14 tháng 6 năm 1979.
  14. ^ "China Drafts Law to Boost Unions and End Labor Abuse" New York Times, 13-10-2006
  15. ^ "Official Union in China Says All Wal-Marts Are Organized" New York Times, 13-10-2006
  16. ^ “China's foreign trade to top US$ 1.75 trillion”. Trung Hoa nhật báo. 2 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2007. 
  17. ^ “Germany still the export achiever”. CNN. 6 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2007. 
  18. ^ Theo số liệu của Hải quan Việt Nam thì Trung Quốc chỉ xuất siêu tương đương 176,2% xuất khẩu của Việt Nam
  19. ^ Thâm hụt lớn trong buôn bán với Trung Quốc [[]][liên kết hỏng]
  20. ^ Ngoại giao Trung Việt và vị thế của báo chí Nguyễn Quang 05 Tháng 9 2007 - Cập nhật 09h37 GMT
  21. ^ [1][[]][liên kết hỏng]
  22. ^ “Pakistan, Growth and Export Competitiveness”. 
  23. ^ “Chinese stock market pushes above $1 trillion mark”. 
  24. ^ Tân Hoa xã: Chinese mainland stock market to become world's third largest in 10 years
  25. ^ http://www.iht.com/articles/2007/01/15/business/yuan.php
  26. ^ Warner Bros rút khỏi Trung Hoa Đại lục (Tân Hoa xã, lấy từ Đài phát thanh Quốc tế Trung Quốc)
  27. ^ How participation can help China's ailing environment
  28. ^ Edit/Review Countries
  29. ^ China's gross domestic product (GDP) growth
  30. ^ Những lô hàng nguy hiểm đến từ Trung Quốc Thứ Tư, 30/05/2007 - 3:58 PM
  31. ^ Nhiều hàng hóa Trung Quốc dành cho trẻ em không an toàn 28/05/2009 23:36
  32. ^ Từ chối mua hàng "Made in China"[[]][liên kết hỏng] 02/06/2009 16:36 (GMT +7)
  33. ^ “Blog của Nga”. 
  34. ^ "Rise of a New Power," U.S. News and World Report, 20-6- 2005
  35. ^ John Bryan Starr. Hiểu Trung Quốc: Một tài liệu hướng dẫn tìm hiểu Nền kinh tế Trung Quốc, Lịch sử và Cấu trúc chính trị.
Kinh tế châu Á LocationAsia.png

Afghanistan | Armenia1 | Azerbaijan1 | Ả Rập Saudi | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh | 2 | Brunei | Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất | Campuchia |2 | Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc)4 | Đông Timor | Gruzia1 | Hàn Quốc |3 | Indonesia | Iran | Iraq | Israel | Jordan | Kazakhstan1 | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban |3 | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanma | Nepal | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestin | Philippin | Qatar | Singapore | Síp1 | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | Triều Tiên | Trung Quốc | Turkmenistan | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen