Phân bón

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một máy rải phân bón cũ
Một máy rải phân bón lớn và hiện đại

Phân bón là "thức ăn" do con người bổ sung cho cây trồng. Trong phân bón chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cây. Các chất dinh dưỡng chính trong phân là: đạm(N), lân(P), và kali(K). Ngoài các chất trên, còn có các nhóm nguyên tố vi lượng...

Phân bón được chia làm 3 nhóm chính: phân hữu cơ, phân hóa học và phân vi sinh, với sự khác biệt lớn giữa chúng là nguồn gốc, chứ không phải là những sự khác biệt trong thành phần dinh dưỡng.

Các loại phân bón hữu cơ và một số loại phân bón khai thác vô cơ đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ, trong khi các loại phân bón hoá học tổng hợp vô cơ chỉ được phát triển mạnh từ thời cách mạng công nghiệp. Sự hiểu biết và sử dụng tốt các loại phân bón là những thành phần quan trọng của cuộc Cách mạng Nông nghiệp Anh tiền công nghiệp và cuộc cách mạng xanh công nghiệp ở thế kỷ 20.

Các loại chất dinh dưỡng cung cấp cho cây từ phân bón[sửa | sửa mã nguồn]

Chính quyền Thung lũng Tennessee: Chứng minh "các kết quả của phân bón" năm 1942

Các loại phân bón thường cung cấp, theo các thành phần tỷ lệ khác nhau:

Các chất dinh dưỡng được tiêu thụ với những số lượng lớn và hiện diện trong mô cây với các số lượng từ 0.2% đến 4.0% (theo cơ sở trọng lượng khô). Các vi chất dinh dưỡng được thiêu thụ với số lượng ít và hiện diện trong mô cây với các số lượng được đo đạc là vài phần triệu (ppm), trong khoảng từ 5 tới 200 ppm, hay chưa tới 0.02% trọng lượng khô.[1]

Tác dụng[sửa | sửa mã nguồn]

- Làm tăng:

- Cây cối tươi tốt + Đô phì nhiêu của đất

+ Năng suất cây trồng

+ Chất lượng nông sản

Ghi nhãn hiệu cho phân bón[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại phân bón chất dinh dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Các phân bón dinh dưỡng được ghi nhãn hiệu thành phần NPK và cả "N-P-K-S" tại Australia[2].

Một ví dụ về ghi nhãn phân bón kali clorua bao gồm tỷ lệ 1:1 ka li và clo hay 52% kali và 48% clo theo trọng lượng (bởi những khác biệt về trọng lượng phân tử giữa các nguyên tố). Thành phần truyền thống của 100g KCl sẽ có 60g K2O. Phần trăm thành phần của K2O từ 100g phân bón gốc là con số được thể hiện trên nhãn hiệu. Phân bón kali clorua vì thế sẽ được ghi nhãn 0-0-60, chứ không phải 0-0-52.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sự hiểu biết hiện đại về dinh dưỡng cây trồng bắt đầu từ thế kỷ 19 cùng công việc của Justus von Liebig, và những người khác. Tuy nhiên, việc quản lý độ phì nhiêu đất đã là một vấn đề được các nông dân quan tâm từ hàng nghìn năm.

Phân bón vô cơ (phân bón tổng hợp)[sửa | sửa mã nguồn]

Phân bón đa phần được chia thành phân bón hữu cơ (gồm thành phần hữu cơ tăng cường—cây trồng hay động vật), hay phân bón vô cơ (gồm các hoá chất và/hay khoáng chất tổng hợp).

Phân bón vô cơ thường được tổng hợp bằng quá trình Haber-Bosch, tạo ra amoniac như sản phẩm cuối cùng. Amoniac này được dùng như một nguyên liệu cho các phân bón nitơ khác, như anhydrous ammonium nitrateurê. Các sản phẩm cô đặc này có thể được hoà tan bằng nước để hình thành nên một loại phân bón lỏng cô đặc (ví dụ UAN). Amoniac có thể kết hợp với đá phosphate và phân bón kali trong Quá trình Odda để sản xuất phân bón hợp chất.

Việc sử dụng các loại phân bón nitơ tổng hợp đã tăng ổn định trong 50 năm qua, tăng gấp 20 lần lên mức tiêu thụ hiện tại 1 tỷ tấn nitơ mỗi năm.[3] Việc sử dụng các loại phân bón phosphate cũng đã tăng từ 9 triệu tấn mỗi năm năm 1960 lên 40 triệu tấn mỗi năm năm 2000. Một vụ ngô với năng suất 6-9 tấn thu hoạch mỗi hécta cần 30–50 kg phân bón phosphate, đậu tương cần 20–25 kg mỗi hécta.[4] Yara International là nhà sản xuất phân bón nitơ lớn nhất thế giới.[5]

Các nước sử dụng nhiều phân bón nitơ nhất[6]
Quốc gia Tổng sử dụng N

(Triệu tấn/năm)

Số lượng sử dụng

(thức ăn/đồng cỏ)

Trung Quốc 18.7 3.0
Hoa Kỳ 9.1 4.7
Pháp 2.5 1.3
Đức 2.0 1.2
Brasil 1.7 0.7
Canada 1.6 0.9
Thổ Nhĩ Kỳ 1.5 0.3
Anh Quốc 1.3 0.9
Mexico 1.3 0.3
Tây Ban Nha 1.2 0.5
Argentina 0.4 0.1

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại phân bón tổng hợp thường để sử dụng trên các cánh đồng trồng ngô, tiếp theo là lúa mạch, lúa miến, cải dầu, đậu tươnghướng dương[cần dẫn nguồn]. Một nghiên cứu đã cho thấy việc sử dụng phân bón nitơ cho cây trồng phủ đất không theo mùa có thể làm tăng biomass (và do đó là giá trị phân bón xanh) của các loại cây đó, trong khi có một hiệu ứng ích lợi trên các mức độ nitơ cho cây trồng chính được trồng vào mùa hè.[7]

Các vấn đề của phân bón vô cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Suy kiệt vi lượng khoáng chất[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều loại phân bón vô cơ không thay thế các vi chất khoáng trong đất, vốn dần bị cạn kiệt theo mùa màng. Sự cạn kiệt này đã được liên kết với các nghiên cứu cho thấy một sự sụt giảm mạnh (lên tới 75%) trong số lượng các khoáng chất đó trong quả và rau.[8]

Tuy nhiên, một cuộc điều tra 55 nghiên cứu khoa học gần đây kết luận "không có bằng chứng về một sự khác biệt trong chất lượng chất dinh dưỡng giữa các thực phẩm chế biến hữu cơ và quy ước" [9] Trái lại, một cuộc nghiên cứu dài hạn do Liên minh châu Âu tài trợ[10][11][12] tháy rằng sữa được sản xuất theo cách hữu cơ có mức độ các chất chống ô xi hoá (như carotenoids và các axít alpha-linoleic) cao hơn những loại sữa được sản xuất thông thường.

Tại miền Tây Australia những thiếu hụt kẽm, đồng, măngan, sắtmô líp đen đã được xác định là nguyên nhân giới hạn sự phát triển của mùa màng và đồng cỏ trong thập niên 1940 và 1950[cần dẫn nguồn]. Đất đai tại miền Tây Australia rất cũ, bị ảnh hưởng mạnh của thời tiết và thiếu hụt nhiều chất dinh dưỡng và vi chất quan trọng[cần dẫn nguồn]. Từ thời điểm đó các vi chất đó thường xuyên được thêm vào trong các loại phân bón vô cơ được sử dụng trong nông nghiệp tại bang này[cần dẫn nguồn].

Bón phân quá mức[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cháy phân bón
Cháy phân bón

Việc bón phân quá mức với một loại chất dinh dưỡng tối quan trọng có thể cũng gây hại như bón phân không đầy đủ.[13] "Cháy phân bón" có thể xảy ra khi phân bón được dùng quá mức, dẫn tới làm khô kiệt rễ và gây hại thậm chí là làm chết cây.[14]

Tiêu thụ năng lượng cao[sửa | sửa mã nguồn]

Việc xản xuất amonia tổng hợp hiện tiêu thụ khoảng 5% lượng tiêu thụ khí tự nhiên toàn cầu, khoảng gần 2% sản xuất năng lượng của thế giới.[15]

Khí tự nhiên phần lớn được sử dụng để sản xuất amonia, nhưng các nguồn năng lượng khác, cùng với một nguồn hyđrô, có thể được dùng sản xuất các hỗn hợp nitơ thích hợp cho các loại phân bón. Chi phí cho khí tự nhiên chiếm khoảng 90% chi phí sản xuất amoniac.[16] Sự gia tăng giá các loại khí tự nhiên trong thập kỷ vừa qua, cùng với những yếu tố khác như tăng cầu, đã góp phần làm tăng giá phân bón[17].

Tính bền vững lâu dài[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại phân bó vô cơ hiện được sản xuất theo các cách thức sẽ không thể tiếp tục mãi mãi[cần dẫn nguồn]. Kali và phốt pho được khai thác từ các mỏ (hay các hồ muối như Biển Chết) và các nguồn đó có giới hạn. Nitơ trong khí quyển (không ngưng tụ) rõ ràng là không giới hạn (chiếm hơn 70% các loại khí khí quyển), nhưng đây không phải là hình thức thích hợp cho cây trồng. Để biến nitơ trở nên thích hợp cho cây cối cần quá trình ngưng tụ nitơ (biến nitơ khí quyền thành một hình thức sử dụng được cho cây trồng).

Các loại phân bón nitơ nhân tạo nói chung được tổng hợp bằng các nhiên liệu hoá thạch như khí tự nhiênthan, là các nguồn tài nguyên có giới hạn. Thay vì biến khí tự nhiên thành syngas để sử dụng trong quá trình Haber, cũng có thể biến các nguồn biomass có thể tái tạo thành syngas (hay wood gas) để cung cấp năng lượng cần thiết cho quá trình, dù số lượng đất và các nguồn tài nguyên (trớ trêu thay thường gồm cả phân bón) cần thiết cho một dự án như thế có thể là quá lớn (xem Tiết kiệm nhiên liệu ở Hoa Kỳ).

Phân bón hữu cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Phân bón hữu cơ
Thùng ủ phân cho sản xuất phân bón hữu cơ ở quy mô nhỏ
Một chiến dịch quảng bá phân trộn thương mại lớn

Các phân bón hữu cơ gồm các chất hữu cơ tự nhiên, (ví dụ phân, chất giun đùn, phân ủ, tảo biển), hay các trầm lắng khoáng chất tự nhiên (ví dụ saltpeter, phân chim).

Các lợi ích của phân bón hữu cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài tác dụng làm gia tăng sản lượng và cung cấp dưỡng chất trực tiếp cho cây, các loại phân bón hữu cơ có thể cải thiện sự đa dạng sinh học (tuổi thọ đất) và khả năng sản xuất lâu dài của đất[18][19], và có thể là nơi lưu giữ phần lớn lượng carbon dioxide thừa[20][21][22].

Các dưỡng chất hữu cơ làm tăng sự màu mỡ của các cơ cấu đất bằng cách cung cấp chất hữu cơ và chất dinh dưỡng cho các cơ cấu như nấm mycorrhiza[23], (giúp các loại cây hấp thu dinh dưỡng), và có thể làm giảm đáng kể nhu cầu sử dụng các loại thuốc trừ sâu, năng lượng và phân bón, nhưng làm giảm sản lượng thu hoạch[24].

So sánh với phân bón vô cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Hàm lượng dinh dưỡng, tính tan và tỷ lệ nhả chất dinh dưỡng của phân bón hữu cơ nói chung đều thấp hơn các loại phân bón vô cơ[25][26]. Một cuộc nghiên cứu[cái nào?] thấy rằng trong một giai đoạn 140 ngày, sau 7 lần lọc:

  • Các loại phân bón hữu cơ đã nhả khoảng 25% tới 60% hàm lượng nitơ
  • Các loại phân bón kiểm soát độ nhả (CRFs) có tỷ lệ nhả khá đều
  • Phân bón hoà tan nhả hầu hết hàm lượng nitơ ở lần lọc đầu tiên

Nói chung, các chất dinh dưỡng trong phân bón hữu cơ vừa loãng vừa khó hấp thu hơn với cây trồng. Theo UC IPM, tất cả phân bón hữu cơ đều được xếp hạng là phân bón 'nhả chậm', và vì thế không thể gây ra cháy nitơ[27].

Các loại phân bón hữu cơ từ phân trộn và các nguồn khác có thể khá khác biệt tuỳ theo từng mẻ{http://www.msuorganicfarm.com/Compost.pdf}, nếu không thử nghiệm cho từng mẻ số lượng dinh dưỡng cần sử dụng không được biết chắc chắn. Tuy vậy chúng ít nhất cũng có hiệu quả như các loại phân bón hoá học sau những giai đoạn sử dụng dài{http://md1.csa.com/partners/viewrecord.php?requester=gs&collection=TRD&recid=0002290EN&q=http%3A%2F%2Fwww.csa.com%2Fpartners%2Fviewrecord.php%3Frequester%3Dgs%26collection%3DTRD%26recid%3D0002290EN&uid=789131166&setcookie=yes}.

Các nguồn phân bón hữu cơ[sửa | sửa mã nguồn]

Động vật[sửa | sửa mã nguồn]

Ủ phân súc vật, một nguồn phân hữu cơ

Urê có nguồn gốc súc vật, thích hợp để sử dụng trong nông nghiệp hữu cơ, trong khi các hình thức urê tổng hợp không thích hợp[28][29]. Mối đe doạ thường thấy ở những ví dụ này là nền nông nghiệp hữu cơ tìm cách tự khẳng định mình thông qua quá trình sản xuất ở mức độ tối thiểu (trái ngược với quá trình Haber nhân tạo), cũng như chỉ xảy ra tự nhiên hay qua các quá trình sinh vật tự nhiên như ủ phân.

Bùn cống sử dụng trong nông nghiệp hữu cơ tại Hoa Kỳ đã trở nên rất hạn chế và hiếm bởi USDA cấm thực hiện (vì sự tích tụ kim loại độc, cùng các yếu tố khác)[30][31][32]. USDA hiện yêu cầu chứng nhận của bên thứ ba với các loại phân bón hữu cơ lỏng có độ nitơ cao được bán trên thị trường Hoa Kỳ.[33]

Cây cối[sửa | sửa mã nguồn]

Cây phủ xanh cũng góp phần làm màu mỡ đất như một biện pháp phân bón xanh thông qua quá trình ngưng tụ nitơ từ không khí[34]; cũng như phốt pho (qua sự thu thập dinh dưỡng)[35] có trong đất.

Khoáng chất[sửa | sửa mã nguồn]

Bột đá vôi[36], đá phốt phátnatri nitrate khai thác tự nhiên, là vô cơ (theo nghĩa hoá học), cần thiết cho mùa màng, và đã được cho sử dụng trong nông nghiệp hữu cơ với số lượng tối thiểu[36][37][38].

Các hiệu ứng môi trường của việc sử dụng phân bón[sửa | sửa mã nguồn]

Cuốn trôi đất và phân bón trong một cơn mưa lớn
Một hoa tảo gây ra thừa chất dinh dưỡng

Nước[sửa | sửa mã nguồn]

Thừa chất dinh dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Các hợp chất giàu nitơ trong phân bón bị cuốn trôi là nguyên nhân chính gây ra sự suy kiệt ôxy tại nhiều vùng đại dương, đặc biệt tại các vùng ven biển; việc thiếu ôxy hoà tan do nguyên nhân này làm giảm rất nhiều khả năng duy trì của các khu vực đó với quần xã động vật của nó.[39] Theo bề ngoài, nước trở nên đục và trở nên mất màu (xanh, vàng, xám hay đỏ).

Khoảng một nửa số hồ ở Hoa Kỳ hiện dư thừa dinh dưỡng, trong khi số lượng những vùng chết gần các bờ biển có người sinh sống đang tăng lên.[40] Ở thời điểm năm 2006, việc sử dụng phân bón nitơ đang được kiểm soát ngày càng nghiêm ngặt tại Anh Quốc và Hoa Kỳ[cần dẫn nguồn]. Nếu tình trạng dư thừa chất dinh dưỡng có thể được đảo ngược, có thể mất nhiều thập kỷ[cần dẫn nguồn] trước khi hàm lượng nitrate tích tụ trong nước ngầm có thể bị phân huỷ bởi các quá trình tự nhiên.

Việc sử dụng nhiều phân bón nitơ vô cơ để tăng tối đa sản lượng, cộng với khả năng hoà tan lớn của chúng dẫn tới sự gia tăng cuốn trôi vào nước bề mặt cũng như thẩm thấu vào trong nước ngầm.[41][42][43] Việc sử dụng ammonium nitrate trong các loại phân bón vô cơ đặc biệt gây hại, bởi cây cối hấp thụ các ion amomiac nhiều hơn các ion nitrate, trong khi các ion nitrate thừa không được hấp thụ tan ra (do mưa hay tưới tiêu) và bị cuốn trôi vào nước ngầm.[44]

Hội chứng Blue Baby[sửa | sửa mã nguồn]

Các mức độ nitrate cao hơn 10 mg/L (10 ppm) trong nước ngầm có thể gây ra 'hội chứng blue baby' (thu methemoglobinemia), dẫn tới sự giảm ôxy huyết (có thể dẫn tới hôn mê và chết nếu không được điều trị)[45].

Đất[sửa | sửa mã nguồn]

A xít hoá đất[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại phân bón hữu cơ và vô cơ có chứa nitơ có thể gây ra axít hoá đất khi sử dụng [46]. [4]. Điều này có thể dẫn tới sụt giảm dinh dưỡng có thể được bù đắp bằng cách rắc vôi.

Các chất ô nhiễm hữu cơ dai dẳng[sửa | sửa mã nguồn]

Các chất ô nhiễm hữu cơ dai dẳng ("POPs") độc hại, như Dioxins, polychlorinated dibenzo-p-dioxins (PCDDs), và polychlorinated dibenzofurans (PCDFs) đã được tìm thấy trong các loại phân bón và chất bổ sung cho nông nghiệp[47]

Tích tụ kim loại nặng[sửa | sửa mã nguồn]

Sự tích tụ lên tới 100 mg/kg cadmium trong các khoáng chất phốt phát (ví dụ, các khoáng chất từ Nauru[48]đảo Phục sinhs[49]) làm tăng sự ô nhiễm đất với cadmium, ví dụ New Zealand.[50]

Uranium là một ví dụ khác về chất gây ô nhiễm thường thấy trong các loại phân bón phốt phát (ở các mức độ từ 7 đến 100 pCi/g)[51]. Cuối cùng các loại kim loại nặng đó có thể tích tụ lên tới những mức độ nguy hiểm và tích tụ trong sản phẩm rau.[50] (Xem Nhiễm độc cadmium) Mức thu nhận uranium hàng năm của người trưởng thành được ước tính khoảng 0.5 mg (500 μg) từ việc ăn thức ăn và nước uống và 0.6 μg từ không khí thở[52].

Các rác thải của ngành công nghiệp thép, được tái sử dụng vào trong phân bón vì có lượng kẽm lớn (rất cần thiết để cây phát triển), các loại rác thải có thể gồm những kim loại độc hại sau: chì[53]arsen, cadmium[53], chrom, và nickel. Các thành phần độc hại thường thấy nhất trong kiểu phân bón này là thuỷ ngân, chì và arsen.[54][55] Những lo ngại đã xuất hiện liên quan tới hàm lượng thuỷ ngân trong từ ít nhất một nguồn tại Tây Ban Nha[56]

Tương tự, Polonium-210độ phóng xạ cao chứa trong các loại phân bón phốt phát được rễ cây hấp thụ và lưu trữ trong mô của nó; thuốc lá được sản xuất từ những cây được bón bằng đá phốt phát có chứa Polonium-210 tạo ra bức xạ alpha ước tính gây ra khoảng 11,700 ca tử vong vì ung thư phổi hàng năm trên thế giới.[57][58] [59][60][61][62]

Vì những lý do này, nên thực hiện quản lý dinh dưỡng, thông qua việc quan sát và giám sát thận trọng mùa màng, để giảm thiểu các hiệu ứng của việc sử dụng quá mức phân bón.

Các vấn đề khác[sửa | sửa mã nguồn]

Các hiệu ứng không khí[sửa | sửa mã nguồn]

Tích tụ methane toàn cầu (bề mặt và khí quyển) năm 2005; lưu ý những đám khói rõ

Sự phát thải methane từ thu hoạch mùa màng (đáng kể nhất là từ các cánh đồng lúa) đang tăng lên do việc sử dụng các loại phân bón amoniac; những phát thải này đóng góp lớn vào sự thay đổi khí hậu toàn cầu bởi methane là một loại khí nhà kính mạnh.[63]

Qua việc tăng cường sử dụng phân bón nitơ, tăng với tỷ lệ 1 tỷ tấn mỗi năm như hiện nay[64] với lượng nitơ phản ứng có sẵn trong khí quyền, nitơ ôxít (N2O) đã trở thành loại khí nhà kính có mức độ tác động lớn thứ ba sau carbon dioxide và methane. Nó có khả năng làm thay đổi khí hậu thế giới 296 lần lớn hơn một khối mass of carbon dioxide tương tự và nó cũng góp phần làm suy gảim ozon ở tầng bình lưu.[65]

Việc lưu trữ và sử dụng một số loại phân bón niotư trong một số điều kiện[cái nào?] thời tiết hay đất có thể gây ra phát thải khí nhà kính tiềm tàng là nitơ ôxít. Khí amoniac (NH3) có thể phát thải sau khi sử dụng các loại phân bón 'vô cơ' và/hay phân súc vật hay bùn.[cần dẫn nguồn]

Việc sử dụng phân bón trên một bình diện toàn cầu làm phát thải ra những lượng lớn khí nhà kính vào khí quyển. Những phát thải diễn ra qua việc sử dụng:[66]

Bằng cách thay đổi các quá trình và quy trình, có thể giảm một số, chứ không phải toàn bộ, những hiệu ứng đó với thay đổi khí hậu toàn cầu.[cần dẫn nguồn]

Tăng sức khoẻ động vật gây hại[sửa | sửa mã nguồn]

Việc sử dụng quá mức phân bón chứa nitơ cũng có thể dẫn tới những vấn đề về côn trùng gây hại khi làm tăng tỷ lệ sinh, tuổi thọ và sức khoẻ của một số loài gây hại với nông nghiệp.[67][68][69][70][71][72]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://aesl.ces.uga.edu/publications/plant/Nutrient.htm
  2. ^ “Draft Code of Practice for Fertilier Description and Labeling”. Fertilizer Industry Federation Association (FIFA). 15 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  3. ^ Glass, Anthony (tháng 9 năm 2003). “Nitrogen Use Efficiency of Crop Plants: Physiological Constraints upon Nitrogen Absorption”. Critical Reviews in Plant Sciences 22 (5). doi:10.1080/713989757. 
  4. ^ Vance; Uhde-Stone & Allan (2003). “Phosphorous acquisition and use: critical adaptations by plants for securing a non renewable resource.”. New Phythologist 157: 423–447. 
  5. ^ “Mergers in the fertiliser industry”. The Economist. 18 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2010. 
  6. ^ United Nations Food and Agriculture Organization, Livestock's Long Shadow: Environmental Issues and Options, Table 3.3 retrieved 29 Jun 2009
  7. ^ Nitrogen Applied Newswise, Retrieved on October 1, 2008.
  8. ^ Lawrence, Felicity (2004). “214”. Trong Kate Barker. Not on the Label. Penguin. tr. 213. ISBN 0-14-101566-7. 
  9. ^ Dangour et al. 2009. Nutritional quality of organic foods: a systematic approach. Am. J. Clin. Nutr.
  10. ^ “Organic produce 'better for you'”. BBC News. 29 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 
  11. ^ Butler, Gillian; Nielsen, Jacob H; Slots, Tina; Seal, Chris; Eyre, Mick D; Sanderson, Roy; Leifert, Carlo (tháng 6 năm 2008). “Fatty acid and fat-soluble antioxidant concentrations in milk from high- and low-input conventional and organic systems: seasonal variation”. Journal of the Science of Food and Agriculture (John Wiley & Sons, Ltd.). Volume 88 (Number 8): pp. 1431–1441(11). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  12. ^ Lehesranta1, Satu (2007). “Effects of agricultural production systems and their components on protein profiles of potato tubers”. Proteomics 7: 597–604. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  13. ^ Nitrogen Fertilization: General Information
  14. ^ Avoiding Fertilizer Burn
  15. ^ IFA - Statistics - Fertilizer Indicators - Details - Raw material reserves (2002-10; accessed 2007-04-21)
  16. ^ Sawyer JE (2001). “Natural gas prices affect nitrogen fertilizer costs”. IC-486 1: 8. 
  17. ^ Bản mẫu:Cite article
  18. ^ Enwall, Karin; Laurent Philippot,2 and Sara Hallin1 (tháng 12 năm 2005). “Activity and Composition of the Denitrifying Bacterial Community Respond Differently to Long-Term Fertilization”. Applied and Environmental Microbiology (American Society for Microbiology) 71 (2): 8335–8343. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  19. ^ Birkhofera, Klaus; T. Martijn Bezemerb, c, d, Jaap Bloeme, Michael Bonkowskia, Søren Christensenf, David Duboisg, Fleming Ekelundf, Andreas Fließbachh, Lucie Gunstg, Katarina Hedlundi, Paul Mäderh, Juha Mikolaj, Christophe Robink, Heikki Setäläj, Fabienne Tatin-Frouxk, Wim H. Van der Puttenb, c and Stefan Scheua (tháng 9 năm 2008). “Long-term organic farming fosters below and aboveground biota: Implications for soil quality, biological control and productivity”. Soil Biology and Biochemistry (Soil Biology and Biochemistry) 40 (9): 2297–2308. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  20. ^ Lal, R. Soil Carbon Sequestration Impacts on Global Climate Change and Food Security. 
  21. ^ Rees, Eifion (3 tháng 7 năm 2014). “Change farming to cut CO2 emissions by 25 per cent”. The Ecologist. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 
  22. ^ Fliessbach, A.; P Maeder(2), A Diop(3), LWM Luttikholt(1), N Scialabba(4), U Niggli(2), Paul Hepperly(3), T LaSalle(3) (2009). [www.iop.org/EJ/article/1755-1315/6/24/.../ees9_6_242025.pdf “ClimateChange: GlobalRisks,ChallengesandDecisions”] Kiểm tra giao thức |url= (trợ giúp). P24.17 Mitigation and adaptation strategies – organic agriculture. IOPConf. Series: EarthandEnvironmentalScience6(2009)242025: IOP Publishing. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 
  23. ^ PIMENTEL, David; PAUL HEPPERLY, JAMES HANSON, DAVID DOUDS, and RITA SEIDEL (tháng 7 năm 2005). “Environmental, Energetic, and Economic Comparisons of Organic and Conventional Farming Systems”. BioScience. tr. ol. 55, No. 7, Pages 573–582. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 
  24. ^ Mäder, Paul; Andreas Fliebach,,1 David Dubois,2 Lucie Gunst,2 Padruot Fried,2 Urs Niggli1 (31 tháng 5 năm 2002). “Soil Fertility and Biodiversity in Organic Farming”. Science (Science). Vol. 296. no. 5573, (Science): pp. 1694 – 1697. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 
  25. ^ http://www.actahort.org/members/showpdf?booknrarnr=644_20
  26. ^ http://ag.arizona.edu/pubs/garden/mg/soils/organic.html
  27. ^ http://www.ipm.ucdavis.edu/TOOLS/TURF/SITEPREP/amenfert.html
  28. ^ http://www.ecochem.com/t_natfert.html
  29. ^ http://www.cababstractsplus.org/abstracts/Abstract.aspx?AcNo=20023145231
  30. ^ http://www.epa.gov/oecaagct/torg.html
  31. ^ http://www.ewg.org/reports/sludgememo
  32. ^ http://www.calorganicfarms.com/news/full.php?id=22
  33. ^ Schrack, Don (23 tháng 2 năm 2009). “USDA Toughens Oversight of Organic Fertilizer: Organic fertilizers must undergo testing”. The Packer. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2009. 
  34. ^ http://www.pubmedcentral.nih.gov/pagerender.fcgi?artid=373994&pageindex=6#page
  35. ^ http://books.google.com/books?id=XO3pio5Opy8C&pg=PA564&lpg=PA564&dq=phosphorus+addition+fava+bean&source=bl&ots=Rjkls81sXS&sig=KpWCnyWUNvcB9eKX4tNLsrB98o4&hl=en&ei=_LzZSfyvKJKatAPx4oiwCg&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=1
  36. ^ a ă http://google.com/search?q=cache:_KrbNzgsjrQJ:extension.agron.iastate.edu/sustag/pubs/Soil_Quality_Brochure.doc+limestone+organic+agriculture&cd=3&hl=en&ct=clnk&gl=us&client=opera
  37. ^ http://www.extension.org/article/18321/print/
  38. ^ http://www.nal.usda.gov/afsic/pubs/ofp/ofp.shtml#resources
  39. ^ "Rapid Growth Found in Oxygen-Starved Ocean ‘Dead Zones’", NY Times, Aug. 14, 2008
  40. ^ http://dsc.discovery.com/news/2006/10/20/deadzone_pla.html
  41. ^ http://www.extension.umn.edu/distribution/horticulture/DG2923.html
  42. ^ http://www.sciencedirect.com/science?_ob=ArticleURL&_udi=B6V94-3VW172B-1&_user=10&_rdoc=1&_fmt=&_orig=search&_sort=d&view=c&_acct=C000050221&_version=1&_urlVersion=0&_userid=10&md5=a887208bd6509db7ab1557a4fc43c5fa
  43. ^ http://www.nofa.org/tnf/nitrogen.php
  44. ^ Roots, Nitrogen Transformations, and Jillesha Services Annual Review of Plant Biology Vol. 59: 341-363
  45. ^ http://www.ehponline.org/docs/2000/108p675-678knobeloch/abstract.html
  46. ^ http://www.sciencemag.org/cgi/content/full/324/5928/721-b#R1
  47. ^ pg 33: http://www.epa.gov/osw/hazard/recycling/fertiliz/risk/
  48. ^ Syers JK, Mackay AD, Brown MW, Currie CD (1986). “Chemical and physical characteristics of phosphate rock materials of varying reactivity”. J Sci Food Agric 37: 1057–1064. doi:10.1002/jsfa.2740371102. .
  49. ^ Trueman NA (1965). “The phosphate, volcanic and carbonate rocks of Christmas Island (Indian Ocean)”. J Geol Soc Aust 12: 261–286. 
  50. ^ a ă Taylor MD (1997). “Accumulation of Cadmium derived from fertilizers in New Zealand soils”. Science of Total Environment 208: 123–126. doi:10.1016/S0048-9697(97)00273-8. 
  51. ^ “Radiation Protection:Fertilizer and Fertilizer Production Wastes”. US EPA. 11 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 
  52. ^ “Depleted uranium: Intake of depleted uranium”. World Health Organization (WHO). Tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 
  53. ^ a ă http://community.seattletimes.nwsource.com/archive/?date=19970703&slug=2547772
  54. ^ http://www.pirg.org/toxics/reports/wastelands/
  55. ^ http://www.mindfully.org/Farm/Toxic-Waste-Fertilizers.htm
  56. ^ “The catfish 'Toxic' suitable for fishmeal production”. NowPublic. 16 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2009. 
  57. ^ Hussein EM (1994). “Radioactivity of phosphate ore, superphosphate, and phosphogypsum in Abu-zaabal phosphate”. Health Physics 67: 280–282. doi:10.1097/00004032-199409000-00010. 
  58. ^ Barisic D, Lulic S, Miletic P (1992). “Radium and uranium in phosphate fertilizers and their impact on the radioactivity of waters”. Water Research 26: 607–611. doi:10.1016/0043-1354(92)90234-U. .
  59. ^ Scholten LC, Timmermans CWM (1992). “Natural radioactivity in phosphate fertilizers”. Nutrient cycling in agroecosystems 43: 103–107. doi:10.1007/BF00747688. 
  60. ^ American Public Health Association, Framing Health Matters, Waking a Sleeping Giant: The Tobacco Industry’s Response to the Polonium-210 Issue: Monique E. Muggli, MPH, Jon O. Ebbert, MD, Channing Robertson, PhD and Richard D. Hurt, MD [1]
  61. ^ Journal of the Royal Society of Medicine, The big idea: polonium, radon and cigarettes, Tidd J R Soc Med.2008; 101: 156-157 [2]
  62. ^ The Age Melbourne Australia, Big Tobacco covered up radiation danger, William Birnbauer [3]
  63. ^ Bodelier, Paul, L.E.; Peter Roslev3, Thilo Henckel1 & Peter Frenzel1 (tháng 11 năm 1999). “Stimulation by ammonium-based fertilizers of methane oxidation in soil around rice roots”. Nature 403: 421–424. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2009. 
  64. ^ http://www.nature.com/nature/journal/v451/n7176/fig_tab/nature06592_F1.html An Earth-system perspective of the global nitrogen cycle Nicolas Gruber & James N. Galloway Nature 451, 293-296(17 January 2008) doi:10.1038/nature06592
  65. ^ "Human alteration of the nitrogen cycle, threats, benefits and opportunities" UNESCO - SCOPE Policy briefs, April 2007
  66. ^ Food and Agricultural Organization of the U.N. retrieved 9 Aug 2007
  67. ^ Jahn GC (2004). “Effect of soil nutrients on the growth, survival and fecundity of insect pests of rice: an overview and a theory of pest outbreaks with consideration of research approaches. Multitrophic interactions in Soil and Integrated Control”. International Organization for Biological Control (IOBC) wprs Bulletin 27 (1): 115–122. .
  68. ^ Jahn GC, Sanchez ER, Cox PG (2001). “The quest for connections: developing a research agenda for integrated pest and nutrient management”. International Rice Research Institute - Discussion Paper 42: 18. 
  69. ^ Jahn GC, Cox PG, Rubia-Sanchez E, Cohen M (2001). “The quest for connections: developing a research agenda for integrated pest and nutrient management. pp. 413-430,”. S. Peng and B. Hardy [eds.] "Rice Research for Food Security and Poverty Alleviation". Proceeding the International Rice Research Conference, 31 March – 3 April 2000, Los Baños, Philippines. Los Baños (Philippines): International Rice Research Institute.: 692. 
  70. ^ Jahn GC, Almazan LP, Pacia J (2005). “Effect of nitrogen fertilizer on the intrinsic rate of increase of the rusty plum aphid, Hysteroneura setariae (Thomas) (Homoptera: Aphididae) on rice (Oryza sativa L.)”. Environmental Entomology 34 (4): 938–943. .
  71. ^ Preap V, Zalucki MP, Nesbitt HJ, Jahn GC (2001). “Effect of fertilizer, pesticide treatment, and plant variety on realized fecundity and survival rates of Nilaparvata lugens (Stål); Generating Outbreaks in Cambodia”. Journal of Asia Pacific Entomology 4 (1): 75–84. .
  72. ^ Preap V, Zalucki MP, Jahn GC (2002). “Effect of nitrogen fertilizer and host plant variety on fecundity and early instar survival of Nilaparvata lugens (Stål): immediate response”. Proceedings of the 4th International Workshop on Inter-Country Forecasting System and Management for Planthopper in East Asia. 13-15 November 2002. Guilin China. Published by Rural Development Administration (RDA) and the Food and Agriculture Organization (FAO): 163–180,226. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Thiếu hụt khoáng chất cây trồng