Selen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Selen
AsenSelenBrôm
S
  Hexagonal.png
 
34
Se
 
               
               
                                   
                                   
                                                               
                                                               
                                                               
                                   
Se
Te
Bảng tiêu chuẩn
Hình dạng
Có ba màu ánh kim đen, xám và đỏ đục
Tính chất chung
Tên, Ký hiệu, Số Selen, Se, 34
Phiên âm /sɪˈlniəm/ si-LEE-nee-əm
Phân loại Phi kim
Nhóm, Chu kỳ, Phân lớp 164, p
Khối lượng nguyên tử 78,96
Cấu hình electron [Ar] 4s2 3d10 4p4
Số electron trên vỏ điện tử 2, 8, 18, 6
Electron shell 034 Selenium.svg
Tính chất vật lý
Màu Có ba màu đen, xám và đỏ
Trạng thái vật chất Chất rắn
Mật độ gần nhiệt độ phòng (xám) 4,81 g·cm−3
Mật độ gần nhiệt độ phòng (tam giác) 4,39 g·cm−3
Mật độ ở thể lỏng khi đạt nhiệt độ nóng chảy 3,99 g·cm−3
Nhiệt độ nóng chảy 494 K, 221 °C, 430 °F
Nhiệt độ sôi 958 K, 685 °C, 1265 °F
Điểm tới hạn 1766 K, 27,2 MPa
Nhiệt lượng nóng chảy (xám) 6,69 kJ·mol−1
Nhiệt lượng bay hơi 95,48 kJ·mol−1
Nhiệt dung 25,363 J·mol−1·K−1
Áp suất hơi
P (Pa) 1 10 100 1 k 10 k 100 k
ở T (K) 500 552 617 704 813 958
Tính chất nguyên tử
Trạng thái ôxi hóa 6, 4, 2, 1,[1] -2

(Axít mạnh)
Độ âm điện 2,55 (thang Pauling)
Năng lượng ion hóa Thứ nhất: 941,0 kJ·mol−1
Thứ hai: 2045 kJ·mol−1
Thứ ba: 2973,7 kJ·mol−1
Bán kính cộng hoá trị 120 pm
Độ dài liên kết cộng hóa trị 120±4 pm
Bán kính van der Waals 190 pm
Thông tin khác
Cấu trúc tinh thể Lục phương
Trạng thái trật tự từ Nghịch từ[2]
Độ dẫn nhiệt (vô định hình) 0,519 W·m−1·K−1
Độ giãn nở nhiệt (25 °C) (vô định hình) 37 µm·m−1·K−1
Tốc độ truyền âm thanh (thanh mỏng; 20 °C) 3350 m·s−1
Mô đun Young 10 GPa
Mô đun cắt 3,7 GPa
Mô đun nén 8,3 GPa
Hệ số Poisson 0,33
Độ cứng theo thang Mohs 2,0
Độ cứng theo thang Brinell 736 MPa
Số đăng ký CAS 7782-49-2
Đồng vị ổn định nhất
iso NA Chu kỳ bán rã DM DE (MeV) DP
72Se Tổng hợp 8,4 ngày ε - 72As
γ 0.046 -
74Se 0.87% 74Se ổn định với 40 nơtron
75Se Tổng hợp 119,779 ngày ε - 75As
γ 0.264, 0.136,
0.279
-
76Se 9.36% 76Se ổn định với 42 nơtron
77Se 7.63% 77Se ổn định với 43 nơtron
78Se 23.78% 78Se ổn định với 44 nơtron
79Se Tổng hợp 3.27×105 năm β 0.151 79Br
80Se 49.61% 80Se ổn định với 46 nơtron
82Se 8.73% 1,08×1020 năm ββ 2.995 82Kr

Selen là một nguyên tố hóa học với số nguyên tử 34 và ký hiệu hóa học Se. Nó là một phi kim, về mặt hóa học rất giống với lưu huỳnhtelua, và trong tự nhiên rất hiếm thấy ở dạng nguyên tố. Đối với sinh vật, nó là độc hại khi ở liều lượng lớn, nhưng khi ở liều lượng dấu vết thì nó là cần thiết cho chức năng của tế bào trong phần lớn, nếu như không là tất cả, các động vật, tạo thành trung tâm hoạt hóa của các enzym glutathion peroxidazathioredoxin reductaza (gián tiếp khử các phân tử bị ôxi hóa nhất định trong động vật và một số thực vật) và ba enzym deiodinaza đã biết (chuyển hóa các hoóc môn tuyến giáp lẫn nhau). Nhu cầu về selen ở thực vật phụ thuộc tùy theo loài, với một số thực vật dường như không cần nó.[3]

Selen được cô lập tồn tại dưới vài dạng khác nhau, ổn định nhất trong số đó là dạng bán kim loại (bán dẫn) màu xám ánh tía và nặng, về mặt cấu trúc là chuỗi polyme tam giác. Nó dẫn điện dưới ánh sáng tốt hơn trong bóng tối và được sử dụng trong các tế bào quang điện (xem phần thù hình dưới đây). Selen cũng tồn tại trong nhiều dạng không dẫn điện: thù hình màu đen tương tự như thủy tinh, cũng như một vài dạng kết tinh màu đỏ được tạo ra từ các phân tử vòng 8 nguyên tử, tương tự như người chị em nhẹ hơn là lưu huỳnh.

Selen được tìm thấy ở lượng có giá trị kinh tế trong các quặng sulfua như pyrit, trong đó nó thay thế phần nào cho lưu huỳnh trong chất nền của quặng. Các khoáng vật chứa selenua hay selenat cũng đã được biết tới nhưng chúng khá hiếm.

Phổ biến[sửa | sửa mã nguồn]

Selen có mặt tự nhiên trong một số dạng hợp chất vô cơ, bao gồm selenua, selenatselenit. Trong đất, selen thông thường nhất hay xuất hiện trong các dạng hòa tan như selenat (tương tự như sulfat), và bị thẩm thấu rất dễ dàng vào các con sông do nước chảy.

Selen có vai trò sinh học và được tìm thấy trong các hợp chất hữu cơ như dimethyl selenua, selenomethionin, selenocysteinmethylselenocystein. Trong các hợp chất này selen đóng vai trò tương tự như lưu huỳnh.

Selen được sản xuất phổ biến nhất từ selenua trong nhiều loại quặng sulfua, chẳng hạn từ các khoáng vật của đồng, bạc hay chì. Nó thu được như là phụ phẩm của quá trình chế biến các loại quặng này, từ bùn anôt trong tinh lọc đồng và bùn từ các buồng chì trong các nhà máy sản xuất axít sulfuric. Các loại bùn này có thể được xử lý bằng nhiều cách để thu được selen tự do.

Các nguồn tự nhiên chứa selen bao gồm các loại đất giàu selen, và selen được tích lũy sinh học bởi một số thực vật có độc như các loài cây họ Đậu trong các chi Oxytropis hay Astragalus. Các nguồn chứa selen do con người tạo ra có việc đốt cháy than cũng như khai thác và nung chảy các loại quặng sulfua.[4]

Xem thêm Khoáng vật selenua.

Đồng vị[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đồng vị selen

Selen có 6 đồng vị tồn tại trong tự nhiên, năm trong số này là ổn định: Se74, Se76, Se77, Se78, Se80. Ba đồng vị cuối cùng này cũng có trong sản phẩm của quá trình phân rã hạt nhân, cùng với Se79 là đồng vị phóng xạ với chu kỳ bán rã là 295.000 năm, và Se82 có chu kỳ bán rã rất dài (cỡ khoảng 1020 năm, bị phân rã nhờ phân rã beta kép thành Kr82) và đối với các mục đích thực tế có thể coi là ổn định. 23 đồng vị không ổn định khác cũng được nêu đặc trưng.

Lịch sử và nhu cầu toàn cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Selen (tiếng Hy Lạp σελήνη selene nghĩa là "Mặt Trăng") được Jöns Jakob Berzelius phát hiện năm 1817, ông tìm thấy nguyên tố này gắn liền với telua (đặt tên theo Trái Đất).

Sự tăng trưởng trong nhu cầu tiêu thụ selen theo dòng lịch sử là do sự phát triển dần dần của các sử dụng mới, bao gồm các ứng dụng trong pha trộn cao su, tạo hợp kim thép và các bộ lọc (nắn dòng) điện dùng selen. Vào năm 1970, selen trong các bộ lọc điện đã được thay thay thế phần lớn bằng silic và việc sử dụng nó như là chất quang dẫn trong các máy photocopy đã trở thành ứng dụng hàng đầu của nó. Trong thập niên 1980, ứng dụng chất quang dẫn bị suy giảm (mặc dù nó vẫn còn ở quy mô lớn) do ngày càng nhiều máy photocopy sử dụng các chất quang dẫn hữu cơ được sản xuất ra. Hiện nay, sử dụng lớn nhất của selen trên toàn thế giới là trong sản xuất thủy tinh, tiếp theo là các sử dụng trong hóa chất và chất nhuộm. Sử dụng trong lĩnh vực điện tử, mặc dù còn một số ứng dụng tiếp diễn, nhưng vẫn tiếp tục suy giảm.[5]

Năm 1996, nghiên cứu hiện còn tiếp diễn chỉ ra mối tương quan thực giữa nhu cầu bổ sung selen và sự ngăn ngừa ung thư ở người, nhưng ứng dụng trực tiếp đại trà của phát hiện quan trọng này cũng không bổ sung một cách đáng kể vào nhu cầu selen do người ta chỉ dùng các liều nhỏ. Vào cuối thập niên 1990, việc sử dụng selen (thường cùng với bitmut) như là chất bổ sung vào công nghệ hàn chì cho các dạng đồng thau để đạt được các tiêu chuẩn môi trường không chứa chì đã trở thành quan trọng. Hiện tại, tổng sản lượng selen toàn thế giới vẫn tiếp tục tăng một cách khiêm tốn.

Selen và sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù có độc khi dùng liều lượng lớn, nhưng selen lại là chất vi dinh dưỡng thiết yếu cho động vật. Ở thực vật, nó có như là khoáng chất đứng ngoài cuộc, đôi khi với tỷ lệ gây độc trong cỏ cho gia súc (một số loài thực vật có thể tích lũy selen như là phương tiện phòng ngự chống lại việc động vật ăn chúng, nhưng các loài thực vật khác như các loài nói trên đây lại cần selen và sự tăng trưởng của chúng chỉ ra sự hiện diện của selen trong đất).[6] Nó là thành phần hợp thành của các axít amin bất thường như selenocysteinselenomethionin. Ở người, selen là chất dinh dưỡng dấu vết với chức năng của phụ phối tử cho việc khử các enzym chống ôxi hóa như các glutathion peroxidaza và một vài dạng nhất định của thioredoxin reductaza tìm thấy ở động vật và một số thực vật (enzym này có trong mọi sinh vật sống, nhưng không phải mọi dạng của nó trong thực vật đều cần selen).

Glutathion peroxidaza (GSH-Px) xúc tác cho một số phản ứng nhất định trong đó loại bỏ các dạng ôxy hoạt hóa như perôxít:

2 GSH+ H2O2---------GSH-Px → GSSG + 2 H2O

Selen cũng đóng vai trò trong chức năng của tuyến giáp bằng cách tham dự như là phụ phối tử cho ba hoóc môn tuyến giáp đã biết là các deiodinaza.[7]

Selen cho dinh dưỡng đến từ các loại quả hạch, ngũ cốc, thịt, cá và trứng. Quả hạch Brasil (Bertholletia excelsa) là nguồn dinh dưỡng thông thường giàu selen nhất (mặc dù nó phụ thuộc vào kiểu đất, do quả hạch Brasil không đòi hỏi nhiều selen cho nhu cầu của chính nó). Các hàm lượng cao có trong nhiều dạng thực phẩm như thận, cuatôm hùm, theo trật tự như đã đề cập.[8] Danh sách các thực phẩm giàu selen có thể tìm thấy tại Bảng dữ liệu các chất bổ trợ selen trong dinh dưỡng.

Độc tính[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù selen là chất vi dinh dưỡng thiết yếu nhưng nó lại có độc tính nếu dùng thái quá. Việc sử dụng vượt quá giới hạn trên của DRI là 400 microgam/ngày có thể dẫn tới ngộ độc selen.[9] Các triệu chứng ngộ độc selen bao gồm mùi hôi của tỏi trong hơi thở, các rối loạn đường tiêu hóa, rụng tóc, bong, tróc móng tay chân, mệt mỏi, kích thích và tổn thương thần kinh. Các trường hợp nghiêm trọng của ngộ độc selen có thể gây ra bệnh xơ gan, phù phổi và tử vong.[10]

Selen nguyên tố và phần lớn các selenua kim loại có độc tính tương đối thấp do hiệu lực sinh học thấp của chúng. Ngược lại, các selenatselenit lại cực độc hại, và có các tác động tương tự như của asen. Selenua hiđrô là một chất khí có tính ăn mòn và cực kỳ độc hại.[11] Selen cũng có mặt trong một số hợp chất hữu cơ như dimethyl selenua, selenomethionin, selenocysteinmethylselenocystein, tất cả các chất này đều có hiệu lực sinh học cao và độc hại khi ở liều lượng lớn. Selen kích thước nano có hiệu lực tương đương, nhưng độc tính thấp hơn nhiều.[12][13][14][15][16][17][18]

Ngộ độc selen từ các hệ thống cung cấp nước có thể xảy ra khi các dòng chảy của các hệ thống tưới tiêu mới trong nông nghiệp chảy qua các vùng đất thông thường là khô cằn và kém phát triển. Quá trình này làm thẩm thấu các hợp chất selen tự nhiên và hòa tan trong nước (như các selenat) vào trong nước, chúng sau đó có thể tích lũy đậm đặc hơn trong các vùng "đất ẩm ướt" mới khi nước bay hơi đi. Nồng độ selen cao sinh ra theo kiểu này đã được tìm thấy như là nguyên nhân gây ra một số rối loạn bẩm sinh nhất định ở chim sống trong các vùng đất ẩm ướt.[19]

Thiếu hụt[sửa | sửa mã nguồn]

Thiếu hụt selen là tương đối hiếm ở các cá nhân có chế độ dinh dưỡng đầy đủ. Nó có thể xảy ra ở các bệnh nhân với chức năng ruột bị tổn thương nghiêm trọng hay ở những người phải trải qua chế độ dinh dưỡng ngoài ruột tổng thể. Ngoài ra, những người phụ thuộc vào thực phẩm gieo trồng trên các vùng đất thiếu hụt selen cũng có thể có rủi ro này. Tại Hoa Kỳ, DPI cho người lớn là 55 µg/ngày. Tại Vương quốc Anh nó là 75 µg/ngày cho đàn ông và 60 µg/ngày cho đàn bà. Khuyến cáo 55 µg/ngày dựa trên sự thể hiện đầy đủ của glutathion peroxidaza huyết tương. Selenoprotein P[20] là chỉ thị tốt hơn về tình trạng dinh dưỡng selen, và sự thể hiện đầy đủ của nó đòi hỏi trên 66 µg/ngày.[21]

Thiếu hụt selen có thể dẫn tới bệnh Keshan, là bệnh có tiềm năng gây tử vong. Thiếu hụt selen cũng góp phần (cùng thiếu hụt iốt) vào bệnh Kashin-Beck.[10] Triệu chứng chính của bệnh Keshan là chết hoại cơ tim, dẫn tới sự suy yếu của tim. Bệnh Kashin-Beck tạo ra sự teo dần đi, thoái hóa và chết hoại của các mô chất sụn.[22] Bệnh Keshan cũng làm cho cơ thể dễ bị mắc các bệnh tật do các nguồn gốc dinh dưỡng, hóa sinh học hay nhiễm trùng. Các bệnh này chủ yếu phổ biến ở một số vùng tại Trung Quốc nơi mà đất thiếu hụt selen nghiêm trọng. Các nghiên cứu tại tỉnh Giang Tô đã chỉ ra sự suy giảm trong việc mắc các bệnh này nhờ cung cấp selen bổ sung.

Selen cũng là cần thiết để chuyển hóa hoóc môn tuyến giáp thyroxin (T4) thành dạng hoạt hóa hơn là triiodothyronin, và vì thế thiếu hụt selen có thể sinh ra các triệu chứng của giảm hoạt động tuyến giáp, bao gồm cực kỳ mệt mỏi, trì độn tinh thần, bệnh bướu cổ, chứng ngu độnsẩy thai hồi quy.[10]

Các hiệu ứng sức khỏe mâu thuẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Ung thư
Một vài nghiên cứu cho rằng có liên kết giữa ung thư và thiếu hụt selen.[23][24][25][26][27][28][29] Một nghiên cứu được thực hiện về hiệu ứng của bổ trợ selen đối với sự tái phát của ung thư da không chứng minh có tần suất suy giảm của sự tái phát ung thư da, nhưng thể hiện sự xảy ra suy giảm đáng kể của ung thư tổng thể.[30] Selen dinh dưỡng ngăn ngừa kích thích về mặt hóa học cho các tác nhân gây ung thư trong nhiều nghiên cứu ở động vật gặm nhấm.[31] Trong các nghiên cứu này, các hợp chất hữu cơ chứa selen có hiệu lực cao hơn và ít độc hại hơn so với các muối selen (ví dụ selenoxyanat, selenomethionin, quả hạch Brasil giàu selen, tỏi hay cải bông xanh làm giàu selen). Selen cũng có thể giúp ngăn ngừa ung thư bằng tác động như là chất chống ôxi hóa hay bằng cách gia tăng hoạt động miễn dịch. Không phải mọi nghiên cứu đều đồng ý về tác động chống ung thư của selen. Một nghiên cứu về mức selen có tự nhiên trong trên 60.000 người đồng ý tham gia đã không chỉ ra mối tương quan đáng kể giữa các mức này với ung thư.[32] Nghiên cứu SU.VI.MAX[33] kết luận rằng sự bổ sung liều thấp (với 120 mg axít ascorbic, 30 mg vitamin E, 6 mg beta caroten, 100 µg selen, 20 mg kẽm) tạo ra sự sụt giảm 31% trong tỷ lệ bị ung thư và sự sụt giảm 37% trong mọi nguyên nhân gây tử vong ở đàn ông, nhưng không tạo ra kết quả đáng kể nào đối với đàn bà.[34] Nghiên cứu SELECT[35] hiện tại đang điều tra về tác động của bổ trợ selen và vitamin E đối với tỷ lệ mắc ung thư tuyến tiền liệt. Tuy nhiên, selen đã được chứng minh là có hỗ trợ hóa học trị liệu bằng cách gia tăng tính hiệu lực của phép điều trị, làm giảm độc tính của các loại thuốc hóa học trị liệu và ngăn ngừa sức đề kháng của cơ thể với thuốc.[36] Một trong các nghiên cứu[37] chỉ ra rằng chỉ trong vòng 72 giờ thì hiệu lực của điều trị bằng các loại thuốc hóa học trị liệu, như Taxol và Adriamycin, cùng với selen là cao hơn đáng kể so với điều trị chỉ dùng mỗi thuốc. Kết quả thu được được thể hiện trong nhiều tế bào ung thư (vú, phổi, ruột non, ruột già, gan).
HIV/AIDS
Một vài nghiên cứu chỉ ra có liên quan về mặt địa lý giữa các khu vực có đất thiếu hụt selen với tỷ lệ cao của khả năng nhiễm HIV/AIDS. Ví dụ, phần lớn khu vực châu Phi hạ Sahara có đất chứa tỷ lệ thấp selen, tuy nhiên Senegal lại không như thế và cũng có mức thấp hơn đáng kể trong tỷ lệ nhiễm AIDS so với phần còn lại của châu lục này. AIDS dường như làm cho có sự sụt giảm chậm nhưng tăng dần lên đối với mức selen trong cơ thể. Sự sụt giảm trong mức selen trong cơ thể có phải là kết quả trực tiếp của quá trình sao chép của HIV[38] hoặc liên quan chung hơn với sự hấp thụ bất thường tổng thể các chất dinh dưỡng ở bệnh nhân AIDS hay không vẫn còn là đề tài gây tranh cãi.
Mức selen thấp ở các bệnh nhân AIDS có tương quan trực tiếp với sự suy giảm số lượng các tế bào miễn dịch và tiến triển bệnh cùng rủi ro tử vong gia tăng.[39] Selen thông thường đóng vai trò của chất chống ôxi hóa, vì thế mức selen thấp có thể gia tăng sức căng ôxi hóa đối với hệ miễn dịch, dẫn tới sự suy giảm nhanh hơn của hệ miễn dịch. Những người khác lại cho rằng HIV mã hóa selenoenzym glutathion peroxidaza ở người, điều này tiêu hao hết selen ở nạn nhân. Mức selen bị hao kiệt dẫn tới sụt giảm các tế bào T hỗ trợ CD4, tiếp tục làm suy yếu hệ miễn dịch.[40]
Không phụ thuộc vào nguyên nhân làm hao kiệt selen ở các bệnh nhân AIDS, các nghiên cứu chỉ ra rằng thiếu hụt selen có liên quan mạnh tới tiến triển của bệnh và rủi ro tử vong.[41][42][43] Bổ trợ selen có thể giúp giảm nhẹ các triệu chứng của AIDS và làm giảm rủi ro tử vong. Cần lưu ý rằng chứng cứ cho tới nay không gợi ý rằng selen có thể giảm rủi ro nhiễm hay tần suất lan truyền của AIDS, mà chỉ có thể điều trị các triệu chứng của những người đã nhiễm HIV.
Đái đường
Một nghiên cứu được kiểm soát tốt chỉ ra rằng selen có liên quan tích cực với rủi ro phát triển bệnh đái đường típ II. Do mức selen cao trong huyết thanh có liên quan tích cực với sự phát triển của bệnh đái đường và do thiếu hụt selen là khá hiếm nên việc bổ trợ không được khuyến cáo cho những người có dinh dưỡng đầy đủ.[44]

Sản xuất và các thù hình[sửa | sửa mã nguồn]

Selen là phụ phẩm phổ biến trong tinh luyện đồng hay trong sản xuất axít sulfuric.[45][46][47] Việc cô lập selen thường phức tạp do sự có mặt của các hợp chất và các nguyên tố khác. Nói chung sản xuất bắt đầu bằng tác dụng với cacbonat natri để sản xuất selenit natri. Selenit natri sau đó bị axít hóa bằng axít sulfuric để tạo ra axít selenơ. Axít selenơ cuối cùng tác dụng với điôxít lưu huỳnh để tạo ra selen nguyên tố vô định hình có màu đỏ.

Selen được sản xuất theo các phản ứng hóa học này là chất bột có màu đỏ gạch, vô định hình, không hòa tan trong nước được nấu chảy nhanh sẽ tạo thành dạng như thủy tinh có màu đen, thông thường được bán trong công nghiệp dưới dạng bánh.

Ứng dụng phi sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Hóa học
Selen là chất xúc tác trong nhiều phản ứng hóa học và được sử dụng rộng rãi trong nhiều phản ứng tổng hợp hóa học trong công nghiệp lẫn trong phòng thí nghiệm. Nó cũng được sử dụng rộng rãi trong xác định cấu trúc của các protein hay axít nucleic bằng tinh thể học tia X.
Sản xuất và vật liệu
Ứng dụng lớn nhất của selen trên toàn thế giới là sản xuất thủy tinh và vật liệu gốm, trong đó nó được dùng để tạo ra màu đỏ cho thủy tinh, men thủy tinhmen gốm cũng như để loại bỏ màu từ thủy tinh bằng cách trung hòa sắc xanh lục do các tạp chất sắt (II) tạo ra.
Selen được sử dụng cùng bitmut trong hàn chì cho đồng thau để thay thế cho chì độc hại hơn. Nó cũng được dùng trong việc cải thiện sức kháng mài mòn của cao su lưu hóa.
Công nghiệp điện tử
Do các tính chất quang voltaicquang dẫn nên selen được sử dụng trong kỹ thuật photocopy, các tế bào quang điện, thiết bị đo độ sángtế bào năng lượng mặt trời. Nó đã từng được sử dụng rộng rãi trong các bộ nắn dòng. Các ứng dụng này phần lớn đã bị thay thế bằng các thiết bị dùng silic hay trong quá trình bị thay thế. Ngoại lệ đáng chú ý nhất là trong các thiết bị bảo vệ điện, trong đó khả năng truyền tải dòng điện cường độ lớn của các bộ triệt dòng dùng selen làm cho nó đáng giá hơn so với các điện trở biến thiên dùng ôxít kim loại.
Nhiếp ảnh
Selen được dùng trong kỹ thuật tạo sắc thái trong nhiếp ảnh, và nó được bán như là chất tạo sắc thái bởi nhiều nhà sản xuất giấy ảnh như KodakFotospeed.

Ứng dụng sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Y học
Chát gọi một cách lỏng lẻo là sulfua selen, SeS2, thực tế là disulfua selen hay sulfua selen (IV), là thành phần hoạt hóa trong một vài loại dầu gội đầu chống gàu.[48] Hiệu ứng của thành phần hoạt hóa là giết chết nấm da đầu Malassezia. Thành phần hoạt hóa này cũng được dùng trong mỹ phẩm dùng cho da để điều trị nấm da Tinea do nhiễm các loài nấm chi Malassezia.[49]
Dinh dưỡng
Selen được sử dụng rộng rãi trong điều chế vitamin và các chất bổ sung dinh dưỡng khác, với liều nhỏ (thường là từ 50 tới 200 microgam trên ngày cho người lớn). Một ài loại cỏ làm thức ăn cho gia súc cũng được tăng cường selen.

Hợp chất[sửa | sửa mã nguồn]

Selen cũng tồn tại ở trạng thái ôxi hóa +3, nhưng chỉ trong dạng cation Se412+; các hợp chất Se (III) kiểu khác vẫn chưa được biết đến.[50]

Xem thêm Hợp chất selenHóa selen hữu cơ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Selenium: Selenium(I) chloride compound data”. WebElements.com. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2007. 
  2. ^ Magnetic susceptibility of the elements and inorganic compounds, in Handbook of Chemistry and Physics 81st edition, CRC press.
  3. ^ http://cals.arizona.edu/arec/pubs/rmg/1%20rangelandmanagement/2%20poisonousplants93.pdf
  4. ^ http://www.atsdr.cdc.gov/toxprofiles/tp92-c1.pdf
  5. ^ http://minerals.usgs.gov/minerals/pubs/commodity/selenium/830398.pdf
  6. ^ cals.arizona.edu
  7. ^ Viện Linus Pauling tại Đại học bang Oregon
  8. ^ Barclay, Margaret N. I.; Allan MacPherson, James Dixon (1995). “Selenium content of a range of UK food”. Journal of food composition and analysis 8: 307–318. 0889-1575. 
  9. ^ Dietary Supplement Fact Sheet: Selenium
  10. ^ a ă â Bản thảo
  11. ^ www.tc.gc.ca
  12. ^ Zhang J, Wang X, Xu T (2008). “Elemental selenium at nano size (Nano-Se) as a potential chemopreventive agent with reduced risk of selenium toxicity: comparison with se-methylselenocysteine in mice”. Toxicol. Sci. 101 (1): 22–31. doi:10.1093/toxsci/kfm221. PMID 17728283. 
  13. ^ Gao X, Zhang J, Zhang L (2000). “[Acute toxicity and bioavailability of nano red elemental selenium]”. Wei Sheng Yan Jiu (bằng tiếng Trung) 29 (1): 57–8. PMID 12725047. 
  14. ^ Zhang J.S, Gao X.Y, Zhang L.D, Bao Y.P (2001). “Biological effects of a nano red elemental selenium”. Biofactors 15 (1): 27–38. PMID 11673642. 
  15. ^ Zhang J, Wang H, Yan X, Zhang L (2005). “Comparison of short-term toxicity between Nano-Se and selenite in mice”. Life Sci. 76 (10): 1099–109. doi:10.1016/j.lfs.2004.08.015. PMID 15620574. 
  16. ^ Jia X, Li N, Chen J (2005). “A subchronic toxicity study of elemental Nano-Se in Sprague-Dawley rats”. Life Sci. 76 (17): 1989–2003. doi:10.1016/j.lfs.2004.09.026. PMID 15707881. 
  17. ^ Wang H, Zhang J, Yu H (2007). “Elemental selenium at nano size possesses lower toxicity without compromising the fundamental effect on selenoenzymes: comparison with selenomethionine in mice”. Free Radic. Biol. Med. 42 (10): 1524–33. doi:10.1016/j.freeradbiomed.2007.02.013. PMID 17448899. 
  18. ^ Peng D, Zhang J, Liu Q, Taylor EW (2007). “Size effect of elemental selenium nanoparticles (Nano-Se) at supranutritional levels on selenium accumulation and glutathione S-transferase activity”. J. Inorg. Biochem. 101 (10): 1457–63. doi:10.1016/j.jinorgbio.2007.06.021. PMID 17664013. 
  19. ^ www.webpages.uidaho.edu
  20. ^ Papp L.V, Lu J, Holmgren A, Khanna K.K (2007). “From selenium to selenoproteins: synthesis, identity, and their role in human health”. Antioxid. Redox Signal. 9 (7): 775–806. doi:10.1089/ars.2007.1528. PMID 17508906. 
  21. ^ Xia Y, Hill K.E, Byrne D.W, Xu J, Burk R.F (2005). “Effectiveness of selenium supplements in a low-selenium area of China”. Am. J. Clin. Nutr. 81 (4): 829–34. PMID 15817859. 
  22. ^ NEJM - Kashin-Beck Osteoarthropathy in Rural Tibet in Relation to Selenium and Iodine Status
  23. ^ Plasma selenium levels and the risk of colorectal...[Nutr Cancer. 1997] - PubMed Result
  24. ^ Naturally occurring selenium compounds in cancer c...[Cancer Epidemiol Biomarkers Prev. 1997] - PubMed Result
  25. ^ Is low selenium status a risk factor for lung canc...[Am J Epidemiol. 1998] - PubMed Result
  26. ^ Dietary selenium repletion may reduce cancer incid...[Nutr Rev. 1997] - PubMed Result
  27. ^ The genotoxicity of selenium. [Mutat Res. 1985] - PubMed Result
  28. ^ Intervention studies on cancer. [Eur J Cancer Prev. 1999] - PubMed Result
  29. ^ Blood serum selenium in the province of Mérida, Ve...[J Trace Elem Electrolytes Health Dis. 1990] - PubMed Result
  30. ^ Effects of selenium supplementation for cancer pre...[JAMA. 1996] - PubMed Result
  31. ^ Chemoprevention Database
  32. ^ Prospective study of toenail selenium levels and c...[J Natl Cancer Inst. 1995] - PubMed Result
  33. ^ Background and rationale behind the SU.VI.MAX Stud...[Int J Vitam Nutr Res. 1998] - PubMed Result
  34. ^ The SU.VI.MAX Study: a randomized, placebo-control...[Arch Intern Med. 2004] - PubMed Result
  35. ^ Selenium and Vitamin E Cancer Prevention Trial (SELECT) Trang chủ
  36. ^ Selenium and Chemotherapy - Nutrition Health
  37. ^ Selenium Cancer 1 - Nutrition Health
  38. ^ Nutrients and HIV: part one - beta carotene and s...[Altern Med Rev. 1999] - PubMed Result
  39. ^ Dietary Supplement Fact Sheet: Selenium
  40. ^ www.hdfoster.com
  41. ^ High risk of HIV-related mortality is associated w...[J Acquir Immune Defic Syndr Hum Retrovirol. 1997] - PubMed Result
  42. ^ Mortality risk in selenium-deficient HIV-positive...[J Acquir Immune Defic Syndr Hum Retrovirol. 1999] - PubMed Result
  43. ^ Micronutrient status in relationship to mortality...[Nutr Rev. 1998] - PubMed Result
  44. ^ Serum Selenium and Diabetes in U.S. Adults - Bleys và ctv. 30 (4): 829 - Diabetes Care
  45. ^ www.atsdr.cdc.gov
  46. ^ Selen
  47. ^ Chemistry: Periodic Table - Selenium: key information
  48. ^ Truy cập 25-12-2007
  49. ^ Selenium sulfide. DermNet NZ
  50. ^ “Selenium Selenium nitride compound data”. WebElements.com. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]