Mendelevi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
mendelevium
fermimendeleviumnobeli
Tm
   
 
101
Md
 
               
               
                                   
                                   
                                                               
                                                               
                                                               
                                   
Md
(Upt)
Bảng tiêu chuẩn
Hình dạng
không rõ
Tính chất chung
Tên, Ký hiệu, Số mendelevium, Md, 101
Phiên âm /ˌmɛndəˈlɛviəm/
or /ˌmɛndəˈlviəm/
Phân loại actini
Nhóm, Chu kỳ, Phân lớp 7, f
Khối lượng nguyên tử (258)
Cấu hình electron [Rn] 5f13 7s2
Số electron trên vỏ điện tử 2, 8, 18, 32, 31, 8, 2
Electron shell 101 Mendelevium.svg
Tính chất vật lý
Trạng thái vật chất solid
Nhiệt độ nóng chảy 1100 K, 827 °C, 1521 °F
Tính chất nguyên tử
Trạng thái ôxi hóa 2, 3
Độ âm điện 1.3 (thang Pauling)
Năng lượng ion hóa Thứ nhất: 635 kJ·mol−1
Thông tin khác
Trạng thái trật tự từ không có dữ liệu
Số đăng ký CAS 7440-11-1
Đồng vị ổn định nhất
iso NA Chu kỳ bán rã DM DE (MeV) DP

Bản mẫu:Infobox element/isotopes decay3 Bản mẫu:Infobox element/isotopes decay Bản mẫu:Infobox element/isotopes decay4

Mendelevi là một nguyên tố kim loại tổng hợp có kí hiệu Md (trước đây là Mv) và số hiệu nguyên tử là 101. Mendelevi là nguyên tố siêu urani thuộc nhóm actini, thường được tổng hợp bằng cách bắn phá hạt nhân einsteini bởi các hạt anpha. Nguyên tố này được đặt theo tên của Dimitri Ivanovich Mendeleev, người đã lập ra bảng tuần hoàn.Hệ thống tuần hoàn của Mendeleev là cơ sở để phân nhóm các nguyên tố hóa học.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mendelevi (đặt theo tên của Dimitri Ivanovich Mendeleev, họ thường được chuyển sang kí tự Latin là Mendeleev, Mendeleyev, Mendeléef, hoặc Mendelejeff, và tên là Dmitry hay Dmitriy) được Albert Ghiorso, Glenn T. Seaborg, Gregory R. Choppin, Bernard G. Harvey, và Stanley G. Thompson (trưởng nhóm) phát hiện đầu tiên vào đầu năm 1955 tại đại học California tại Berkeley. Nhóm này đã tạo ra 256Md (chu kỳ bán rã 87 phút) khi họ bắn phá hạt nhân 253Es bằng các hạt anpha (hạt nhân heli) trong máy cyclôtron 60 in của phòng thí nghiệm phóng xạ Berkely (Berkeley Radiation Laboratory).[1] Nguyên tố 101 là nguyên tố siêu urani thứ 9 được tổng hợp. 17 nguyên tử đầu tiên của nguyên tố này đã được tạo ra và phân tích bằng phương pháp tách-hấp thụ trao đổi-ion. Trong quá trình này, mendelevi có ưng xử rất giống thuli, một dạng đồng đẳng tự nhiên của nó.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà nghiên cứu chứng minh rằng mendelevi có trạng thái ôxy hóa (II) khá ổn định, kèm theo trạng thái ôxy hóa (III) đặc trưng của nhóm actini. Trạng thái ôxy hóa (III) thể hiện rõ hơn trong các dung dịch có nước. Đôi khi, mendelevi có thể thể hiện trạng thái (I).256Md đã được sử dụng để phát hiện các đặc tính hóa học của nguyên tố này khi nó nằm trong dung dịch. Chưa có những ứng dụng khác của mendelevi và chỉ một lượng rất ít mendelevi đã được tạo ra.

Các đồng vị[sửa | sửa mã nguồn]

16 đồng vị của mendelevi có số khối từ 245 đến 260 đã được nhận biết, trong đó đồng vị ổn định nhất là 258Md có chu kỳ bán rã 51,5 ngày, 260Md là 31,8 ngày, và 257Md là 5,52 hours. Tất cả các đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 97 phút, và đa số trong đó có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 5 phút. Nguyên tố này có một meta state, 258mMd (t½ = 57 phút). Các đồng vị của mendelevi có khối lượng nguyên tử từ 245,091 u (245Md) đến 260,104 u (260Md).[2][3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ghiorso, A.; Harvey, B.; Choppin, G.; Thompson, S.; Seaborg, G. (1955). “New Element Mendelevium, Atomic Number 101”. Physical Review 98: 1518. doi:10.1103/PhysRev.98.1518. 
  2. ^ Audi, G (1997). “The N? evaluation of nuclear and decay properties”. Nuclear Physics A 624: 1. doi:10.1016/S0375-9474(97)00482-X. 
  3. ^ Lide, D. R. biên tập (2005). CRC Handbook of Chemistry and Physics (ấn bản 86). Boca Raton (FL): CRC Press. ISBN 0-8493-0486-5. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoffman, D.C., Ghiorso, A., Seaborg, G. T. The transuranium people: the inside story, (2000), 201-229
  • Morss, L. R., Edelstein, N. M., Fuger, J., The chemistry of the actinide and transactinide element, 3, (2006), 1630–1636
  • Seaborg, G. T., Les elements tranuraniens artificiels, (1967), 39-45
  • Gol’danskii, V. I., Polikanov, S. M., The transuranium elements, (1973), 101-103
  • Seaborg, G.T., The transcalifornium elements. Journal of Chemical Education, (1959), 36, 38-44
  • Guide to the Elements - Revised Edition, Albert Stwertka, (Oxford University Press; 1998) ISBN 0-19-508083-1

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]