Đại học California tại Berkeley

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Viện Đại học California-Berkeley
Con dấu của UC Berkeley (Thương hiệu của Ban giám hiệu UC)
Cal-logo2.png
Khẩu hiệu Fiat lux (Latinh)
(Hãy có ánh sáng)
Thành lập 23 tháng 3 năm 1868
Loại hình trường công
Tài trợ 2,18 tỉ (2006)
Hiệu trưởng danh dự Robert Birgeneau
Giảng viên 1.950
Sinh viên đại học 22.144
Sinh viên cao học 8.125
Khuôn viên nội thành, 1.232 acre (5 km²)
Vị trí BerkeleyCalifornia
Linh vật Oski
Trang web www.berkeley.edu

Viện Đại học California-Berkeley hay Đại học California-Berkeley (tiếng Anh: University of California, Berkeley; gọi tắt là Cal, UCB, UC Berkeley, hay Berkeley) là một viện đại học công lập nằm trong khu vực vịnh San Francisco, tại thành phố Berkeley, California. Đây là viện đại học đầu tiên và nổi tiếng nhất của hệ thống Viện Đại học California (University of California), do đó được gọi tên truyền thống là Cal (tên này được dùng nhiều trong các giải thể thao).

Được thành lập năm 1868 do sáp nhập trường tư thục Trường Đại học California (College of California) và trường công lập Trường Đại học Cơ khí, Mỏ, và Nông nghiệp (Agricultural, Mining, and Mechanical Arts College), UC Berkeley đã có những đóng góp quan trọng về khoa học tự nhiên (với 66 giáo sư và cựu sinh viên đoạt các giải Nobel) và các hoạt động xã hội (phong trào chống Chiến tranh Việt Nam trong thập niên 1960).

Berkeley có hệ thống giáo dục bậc cử nhân rất đa dạng và được xem là trung tâm nghiên cứu của rất nhiều ngành học. Viện đại học đạt nhiều thành tích về vật lý, hóa học và các ngành sinh học trong thế kỷ 20, như sáng chế ra máy cyclotron, cách ly thành công vi khuẩn bại liệt ở người, phát triển khái niệm tia laser, giải thích nguyên lý của quang hợp, thiết kế thí nghiệm chứng minh định lý Bell, tạo ra hệ điều hành BSD Unix, và phát hiện ra 17 nguyên tố hóa học, trong đó có Plutonium, BerkeliumCalifornium. Viện đại học cũng đạt được nhiều giải thưởng về Toán, giải Nobel Kinh tếgiải Nobel Văn học. Các nhà vật lý của Berkeley nằm trong nhóm khoa học gia phát triển Dự án Manhatttan chế tạo bom nguyên tử trong Thế chiến thứ nhấtbom hiđrô không lâu sau đó.

Berkeley tham gia các cuộc thể thao giữa sinh viên các trường với tên California Golden Bears (Những con gấu vàng của California), đạt nhiều danh hiệu quốc gia trong các môn như bóng bầu dục Mỹ, bóng rổ nam, bóng chày, bóng nước, v.v. cũng như đã giành được hơn 100 huy chương Olympic. Màu áo chính thức của trường và đội thể thao là màu xanh dương và màu vàng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1866, vùng đất bây giờ là khuôn viên của đại học Berkeley được mua bởi trường tư College of California. Bởi vì không đủ kinh phí để vận hành, cuối cùng nó sát nhập với trường công lập với tên gọi Cao đẳng Nông nghiệp, Khai mỏ, Cơ khí, Nghệ thuật để trở thành Đại học California. Văn bản thành lập trường được kí bởi Thống đốc bang California Henry H. Haight vào 23 tháng 3 năm 1868Henry Durant, người sáng lập ra College of California, trở thành Hiệu trưởng đầu tiên.

Trường đại học mở ra vào năm 1869 sử dụng các tòa nhà trước đây của College of California ở Oakland như là nơi tạm thời trong khi một campus mới đang được xây dựng[1]. Với sự hoàn tất của North và South Halls vào năm 1875, trường dời về địa điểm hiện nay ở Berkeley với 167 sinh viên nam và 222 sinh viên nữ[2].

Phát triển ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Trường đại học này đã trưởng thành dưới quyền lãnh đạo của Benjamin Ide Wheeler, người là Hiệu trưởng trường từ 1899 đến 1919. Danh tiếng của trường các nổi khi Hiệu trưởng Wheeler đã thành công trong việc thu hút các giáo sư nổi tiếng về trường và thu hút được nhiều ngân sách cho việc nghiên cứu và cấp học bổng[1]. Campus bắt đầu có dáng vẻ của một đại học tầm cỡ đương thời với các tòa nhà Beaux-Artsneoclassical, bao gồm California Memorial Stadium (1923) được thiết kế bởi kiến trúc sư John Galen Howard[3]; những tòa nhà này tạo thành phần chính campus của Đại học Berkeley hiện nay.

Thế chiến thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Thế chiến thứ hai, Ernest Orlando Lawrence lãnh đạo Phòng thí nghiệm phóng xạ ở trên các dãy đồi bên trên Berkeley bắt đầu các hợp đồng với Quân đội Hoa Kỳ để phát triển bom nguyên tử, có liên quan đến các nghiên cứu tiên phong trong vật lý hạt nhân ở Berkeley, bao gồm cả việc khám phá ra plutonium (lúc đó được xem là bí mật quốc gia) của Glenn Seaborg (Phòng 307 tòa nhà Gilman Hall, nơi Seaborg khám phá ra plutonium, sau này là một địa điểm lịch sử cấp quốc gia). Giáo sư vật lý của UC Berkeley J. Robert Oppenheimer được cử làm người đứng đầu về khoa học của Dự án Manhattan vào năm 1942[4][5]. Cùng với hậu duệ của Phòng thí nghiệm phóng xạ, bây giờ là Phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence tại Berkeley (Lawrence Berkeley National Laboratory), Đại học California cũng quản lý hai phòng thí nghiệm khá có cùng độ tuổi, Los Alamos National LaboratoryLawrence Livermore National Laboratory, được thành lập vào 1943 và 1952.

Các ảnh hưởng chính trị trong những năm 1950 và 1960[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời McCarthy vào năm 1949, Hội đồng quản trị đã đưa ra lời thề trung thành với chủ nghĩa chống cộng sản được kí tất cả bởi các nhân viên của Đại học California. Một số lớn các giáo sư phản đối lời thề này đã bị cho thôi việc[6]; mười năm trôi qua trước khi họ được khôi phục lại vị trí cũ với lương cũ[7]. Một trong số đó, Edward C. Tolman— một nhà tâm lý học so sánh nổi tiếng — đã có một tòa nhà đặt theo tên ông là nơi của khoa tâm lý và giáo dục. Lời thề "ủng hộ vào bảo vệ Hiến pháp Hoa Kì hiến pháp tiểu bang California chống lại tất cả các kẻ thù, trong nước và ngoài nước" vẫn còn bắt buộc đối với tất cả các nhân viên của Đại học California[8][9].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brechin, Gray (1999). Imperial San Francisco. UC Press Ltd. ISBN 0-520-21568-0. 
  • Cerny, Susan Dinkelspiel (2001). Berkeley Landmarks: An Illustrated Guide to Berkeley, California's Architectural Heritage. Berkeley Architectural Heritage Association. ISBN 0-9706676-0-4. 
  • Freeman, Jo (2003). At Berkeley in the Sixties: The Education of an Activist, 1961-1965. Đại học Indiana Press. ISBN 0-253-21622-2. 
  • Helfand, Harvey (2001). University of California, Berkeley. Princeton Architectural Press. ISBN 1-56898-293-3. 
  • Rorabaugh, W. J. (1990). Berkeley at War: The 1960s. Oxford University Press. ISBN 0-19-506667-7. 
  • Wong, Geoffrey (May năm 2001). A Golden State of Mind. Trafford Publishing. ISBN 1-55212-635-8. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]